Mở đầu:
Xoắn mạc nối lớn nguyên phát (XMNLNP) là
một tổn thương rất hiếm gặp. lâm
sàng có bệnh cảnh một bụng ngoại khoa cấp cứu, chẩn đoán xác định thường là chẩn
đoán trong khi mổ. Chúng tôi trình bày một trường hợp XMNLNP ở trẻ em, phần tham
khảo y văn về bệnh sinh, giải phẫu bệnh học, chẩn đoán và điều trị.
Bệnh án
- Bệnh nhân Nguyễn N. H. N, 10 tuổi, ở P.
Trung Dũng, TP. Biên Hòa, vào viện ngày 24/10 /1998 vì đau bụng.
- Bệnh sử: Bệnh 2 ngày:
+ Ngày 1: Ðau bụng khởi phát đột ngột vùng
hông phải (P) và hạ sườn (P), đau từng cơn cách khoảng một giờ, không sốt, không
ói.
+ Ngày 2: Ðau bụng cơn vùng hông (P), ói
một lần sau khi uống thuốc, đau không đở nên nhập viện.
BN đang điều trị viêm họng từ một tuần
nay.
- Tiền căn: Không mắc bệnh lý nào
đặc biệt.
- Khám: BN cao 1,24m, nặng 28 kg
+ Tổng trạng: Niêm hồng, mạch: 120
lần/phút, HA: 10/6 cmHg, To: 38oC
+ Bụng không chướng, ấn đau và có đề kháng
vùng hông (P) nhiều hơn hố chậu (P).
- Xét nghiệm cận lâm sàng:
+ Máu: HC: 4.400.000/mm3; BC: 16.000/mm3
(N:72%, L: 28%); TC: 170.000/mm3; TS: 2-; TC: 6-.
+ Siêu âm bụng: gan, lách, tụy: bình
thường; ổ bụng không có dịch.
- Chẩn đoán trước mổ: Viêm ruột
thừa cấp.
- Chẩn đoán lúc mổ: Xoắn mạc nối
lớn.
- Phương pháp mổ: Cắt một
mẩu mạc nối lớn bị xoắn làm giải phẫu bệnh. Cắt bỏ ruột thừa.
- Phúc trình giải phẫu:
+ Gây mê: nội khí quản
+ Ðường mổ: Mac Burney dài 6 cm, có kéo
dài lên phía trên thêm 2cm.
+ Vào ổ bụng thấy có dịch hồng đỏ khoảng
80 ml ở hố chậu (P), thám sát thấy ruột thừa sung huyết nhẹ, kiểm tra lên phía
trên vùng hông (P) và hạ sườn (P) thấy một miếng mạc nối lớn màu nâu sẫm, kích
thước 5x10cm, xoắn 2 vòng. Gan và túi mật bình thường. Kiểm tra 1,2m ruột non
cuối không thấy túi thừa MECKEL.
+ Cắt mảnh mạc nối lớn bị xoắn làm GPBL.
-Cắt ruột thừa. Lau ổ bụng. Ðóng bụng từng lớp.
- Giải phẫu bệnh:
+ Ðại thể: bệnh phẩm có kích thước 4x10cm,
lầy nhầy, màu vàng lẫn nâu nhạt, bở.
+ Vi thể: tổ chức liên kết của mạc treo có
nhiều mạch máu sung huyết, xuất huyết và thấm nhiều tế bào viêm đơn nhân và đa
nhân.
- Chẩn đoán sau mổ: Xoắn mạc nối
lớn.
Thời gian hậu phẫu ổn định và BN ra viện
sau 7 ngày điều trị.
Bàn luận:
XMNL là một tình huống, trong đó mạc nối
lớn xoắn quanh trục dọc của nó, đến mức làm tổn thương hoàn toàn mạch máu đến
nuôi mạc nối.(2,4)
Ðể sự xoắn xảy ra, cần phải có một miếng
mạc nối lớn thừa ra và di động, và có một điểm cố định mà mạc nối lớn có thể
xoắn quanh.
1/ Bệnh sinh: XMNL rất
hiếm gặp ở trẻ em, thường xảy ra ở tuổi 40-50, tần suất gặp ở nam gấp hai nữ.
XMNL được chia làm XMNL nguyên phát và XMNL thứ phát.(1,4,5)
XMNL nguyên phát hay XMNL không rõ
nguyên nhân: bệnh tương đối hiếm gặp, được mô tả lần đầu tiên vào năm 1899
bởi EITEL, từ đó đến năm 1989 có khoảng 250 trường hợp được mô tả trong y văn.(4)
Nguyên nhân gây xoắn không được biết rõ.
Xoắn mạc nối lớn thứ phát: Có hiện
tượng dính ở đầu tự do của mạc nối lớn với các nang mạc nối, các khối u, các ổ
viêm ở vùng chậu, vết mổ cũ, thoát vị nội hay các thoát vị vùng bẹn.(2,4)
XMNL thứ phát hay gặp hơn XMNL nguyên phát
+ Có thể xoắn ở một cực (unipolar):(1,2,4)
XMNL trên một nang mạc nối hay một mạc nối lớn bị viêm phì đại.
+ Có thể xoắn ở hai cực (bipolar): xoắn
phần mạc nối lớn nằm giữa hai điểm cố định,(4) mạc nối lớn quay như
một chiếc khăn mặt hình tam giác, cố định ở hai góc (LEJARS, 2).
- Khoảng 2/3 các trường hợp XMNL thứ phát
xảy ra ở bệnh nhân bị thoát vị, thường là thể thoát vị vùng bẹn.
2/ Giải phẫu bệnh học:
Trong cả hai thể XMNLNP và XMNLTP, sự hồi
lưu máu tĩnh mạch bị cản trở, phần xa của mạc nối bị sung huyết và phù nề. Có
hiện tượng thoát mạch xuất huyết mà kết quả là sự tràn dịch tơ huyết đặc thù vào
trong khoang phúc mạc. Nếu xoắn kéo dài, hiện tượng nhồi máu cấp và hoại tử mạc
nối xảy ra. Nếu không được cắt bỏ, mạc nối sẽ teo nhỏ và xơ hóa, trong một số
hiếm các trường hợp, miếng mạc nối bị xoắn tự rụng đi.(2,4)
3/ Lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng:
- Tổng trạng còn tốt, không có hội chứng
nhiễm trùng.(2)
- Ðau bụng là triệu chứng nổi bật đầu
tiên, đau thường khởi phát đột ngột, tăng dần, thường đau ở vùng quanh rốn hay
đau khắp bụng. Ðôi khi đau khu trú lại ở bên (P), thường 1/4 dưới bên (P) ổ
bụng, tương ứng với phần mạc nối bên (P) thường bị xoắn hơn. Vận động làm đau
tăng hơn.
- Buồn ói và ói xảy ra trong dưới 50% các
trường hợp.(2,4)
- Sốt hiếm khi tăng trên 1oC.(4)
- Tăng cảm giác da, phản ứng phúc mạc hay
đề kháng thành bụng cũng là những triệu chứng thường gặp.
- Có thể sờ thấy một khối, đau, nếu miếng
nối bị xoắn khá lớn, nếu sờ thấy một khối có mật độ mềm ở vùng bẹn, có thể nghĩ
tới XMNL thể có mạc nối dính vào vùng bẹn.
- Bạch cầu tăng vừa.
- X-quang bụng không sửa soạn thì bình
thường, có thể có hình ảnh liệt ruột vùng hồi tràng.
- Chụp cắt lớp điện toán (CT) và cộng
hưởng từ (MRI) trước mổ có thể cho hình ảnh một khối mỡ xoắn nằm ở vùng bụng
giữa dưới, sau thành bụng trước. MRI cho thấy sự khác biệt tổn thương ở mạc nối
lớn bị xoắn, gợi ý những tổn thương như phù nề hay sung huyết ở mạc nối lớn.(7)
4/ Chẩn đoán:
Các triệu chứng cơ năng và thực thể thường
không đủ để chẩn đoán xác định trước mổ. Từ những dữ kiện lâm sàng, thông thường
tần suất các chẩn đoán được nghĩ đến theo thứ tự là: viêm ruột thừa cấp, viêm
túi mật cấp và xoắn u nang buồng trứng, cơn đau quặn thận, cơn đau quặn gan hay
một trường hợp tắc ruột cao.(2,4)
Từ các biểu hiện lâm sàng thường cho phép
mổ thăm dò. Hiện tượng tràn dịch thanh huyết tự do khi mở ổ bụng trong trường
hợp không thấy bệnh lý ở ruột thừa, túi mật hay các cơ quan ở vùng chậu, báo cho
phẫu thuật viên khả năng có xoắn mạc nối lớn và phải thám sát ổ bụng.(4,6)
5/ Ðiều trị:
- Cắt bỏ phần mạc nối lớn bị xoắn.
- Trường hợp XMNL thứ phát, biết được bệnh
sinh là thoát vị, nang mạc nối, do những chỗ dính trong ổ bụng... Các tổn thương
này cũng được can thiệp trong cùng một lần mổ.
Trong trường hợp của báo cáo này, lâm sàng
nổi bật bệnh cảnh đau bụng cấp, không có điều kiện làm CT hay MRI. Chẩn đoán
trước mổ giống như trong phần lớn báo cáo trong y văn là viêm ruột thừa cấp. Khi
mở phúc mạc, chúng tôi thấy ổ bụng có dịch thanh- huyết, ruột thừa, gan và túi
mật bình thường, thám sát thấy một miếng mạc nối lớn bị xoắn và được cắt bỏ. Vì
đây là trường hợp gặp đầu tiên nên chúng tôi không phát hiện được có những bất
thường về giải phẫu học của mẩu mạc nối bị xoắn đã cắt, cũng như toàn bộ phần
mạc nối lớn còn sót lại trong ổ bụng hay không-
RÉSUMÉ:
Apropos d-un cas de torsion primitive du grand épiplon
chez l-enfant
Les auteurs ont rapporté une observation
chez un enfant obèse de 10 ans. Le tableau clinique est une douleur abdominale
aigue. Le diagnostic pré-opératoire est une appendicite aigue. Le diagnostic
per-opératoire est une torsion partielle primitive du grand épiplon. Le segment
épiploique tordu a été résecqué. Suites simples. Sortie au 7e jour. Les auteurs
voudraient insister aussi sur le plan anatomo-pathologique de cette entité
pathologique très rare.
Tài liệu tham khảo:
1/ Davis L: christopher-s textbook of Surgery, W.B.
Sauders Company, 520-521, 1966.
2/ Sicard A., Mialaret J., Roux M: Pathologie
chirurgicale, Masson et Cie éditeurs, 749-750, 1971.
3/ Nguyễn Văn Ðức: Phẫu thuật bụng ở trẻ sơ sinh và trè
em, xuất bản lần thứ 2, ÐHYD TPHCM, 1989.
4/ Schwartz S.I: Principles of Surgery, 6th ed., Mc
Graw-Hill Company, vol.2, 1488-1489, 1994.
5/ Sabiston D.C., Kimlyerly H: texbook of Surgery, 15th
ed., W.B. Saunders Company, vol.1, 820, 1997.
6/ Sarac AM, Yegen Caktan AO, Yalin R. Primary torsion of
the omentum mimicking acute appendicitis: report of a case. Surg
Today,1997;27(3):251-3
7/ Maeda T, Mori H, Cryujo M, Kikuchi N, Hori Y, Takaki H:
CT and MRI findings of torsion of greater omentum: a case report. Abdom Imaging.
1997 Jan-Feb;22(1):45-46