MỞ ÐẦU
Từ thập niên 1950 cho đến nay, đã có những
bước tiến khá quan trọng trong lãnh vực phẫu thuật tim mạch, gây mê hồi sức, sự
cải tiến các kỹ thuật tuần hoàn ngoài cơ thể cũng như việc bảo vệ cơ tim trong
lúc mổ. Phẫu thuật tim mạch càng lúc càng trở nên thường quy hơn, hiệu quả hơn
và chất lượng điều trị cũng được cải thiện hơn. Tuy nhiên, chi phí cho phẫu
thuật mổ tim cũng gia tăng một cách đáng kể.
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu
để giảm bớt giá thành chi phí phẫu thuật mà vẫn đảm bảo được chất lượng điều
trị, đặc biệt được quan tâm bởi nhiều chuyên gia tại các trung tâm phẫu thuật
tim mạch nổi tiếng trên thế giới. Khuynh hướng rút ống thông nội khí quản sớm
trong phẫu thuật tim mạch từ những năm 1990 cũng nằm trong cùng mục tiêu đó. Từ
tháng 9/1997, tại Viện Tim TP.Hồ Chí Minh, bước đầu đã thử áp dụng một quy trình
gây mê mới để có thể rút ống thông nội khí quản sớm ngay tại phòng mổ cho các
bệnh nhân (BN) sau mổ thông liên nhĩ. Mục đích nghiên cứu này nhằm xác định sự
an toàn và hiệu quả của việc rút ống thông nội khí quản sớm tại phòng mổ cho các
BN sau mổ thông liên nhĩ.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nhóm nghiên cứu gồm 111 BN mổ chương trình
để vá lỗ thông liên nhĩ, có kèm theo tăng áp lực động mạch phổi trung bình hoặc
nhẹ, được thực hiện tại Viện Tim, từ tháng 9/1997 đến 4/1999.
Tất cả các BN trong nhóm nghiên cứu đều có
chức năng tim tốt, đánh giá dựa vào siêu âm trước mổ. Lọai trừ những BN có tiền
sử suy gan, suy thận, suyễn, bệnh lý phổi tắc nghẽn.
Ðể rút ống thông nội khí quản sớm tại
phòng mổ cho các BN mổ thông liên nhĩ, dùng phương pháp gây mê tĩnh mạch, với kỹ
thuật tiêm truyền liên tục bằng máy bơm tiêm tự động.
Dẫn đầu gây mê với phối hợp Fentanyl 2 -
3-g/kg, Midazolam 0,015 - 0,3mg/kg, Propofol 1,5 - 2mg/kg và Atracurium
0,5mg/kg.
Sau khi dẫn đầu gây mê, BN được đặt ống
thông nội khí quản và duy trì hô hấp kiểm soát bằng máy thở Servo 900B, FiO2
= 0.6, duy trì thông khí đủ với PaCO2 35 - 40mmHg.
Duy trì mê với Propofol 2mg/kg/giờ,
Fentanyl 3 - 5-g/kg/giờ và Atracurium 0,5mg/kg/giờ.
Ðánh giá mức độ gây mê chủ yếu đựa vào lâm
sàng và tình trạng mạch huyết áp trong quá trình mổ. Qua đó để điều chỉnh liều
lượng, vận tốc tiêm truyền thuốc mê.
Tuần hoàn ngoài cơ thể được thực hiện với
máy Sarns, bộ phận trao đổi oxy lọai màng (Medtronic hoặc Capiox). Không hạ thân
nhiet-trong quá trình chạy tuần hoàn ngoài cơ thể. Bảo vệ cơ tim bằng dung dịch
lạnh làm liệt tim dạng tinh thể (cold cardioplegia). Ngưng tuần hoàn ngoài cơ
thể khi BN được sưởi ấm đến 360C (nhiệt độ hậu môn).
Monitoring trong lúc mổ bao gồm ECG (DI,
II, III), huyết áp động mạch xâm lấn, độ bão hoà oxy máu động mạch với máy đo
oxygen qua mạch nảy (pulse oxymeter), và khí máu động mạch. Sau khi ngưng tuần
hoàn ngoài cơ thể, nếu đánh giá BN không có các vấn đề về tim mạch (ST chênh do
thuyên tắc khí mạch vành, rung thất cần sốc tim nhiều lần,.), hô hấp, hay thần
kinh, bắt đầu tập cho BN thở lại tự nhiên khi đã đóng kín xương ức. Trong quá
trình BN thở tự nhiên, theo dõi mạch, huyết áp, tần số thở và SaO2.
Test BN thở tự nhiên trong 15 phút được xem như thành công khi SaO2 >
95% với tần số thở > 12 lần/phút, mạch huyết áp ổn định, khí máu động mạch để
kiểm tra pH máu, Pa02 và PaCO2 trước khi rút ống thông nội
khí quản.
Ðánh giá tình trạng tri giác của BN dựa
vào các tiêu chuẩn sau:
1. BN không đáp ứng với kích thích.
2. BN có đáp ứng với kích thích đau.
3. BN có thể đáp ứng với các câu nói của
người gây mê.
4. BN tỉnh hoàn toàn.
Khi cuộc mổ đã hoàn tất, tình trạng tri
giác của BN ở mức độ 3 - 4, sau 15 phút thở tự nhiên mà tần số thở > 12
lần/phút, SaO2 duy trì > 95%, PaCO2 < 50mmHg, thân nhiệt
BN > 36,5oC, không có vấn đề chảy máu do ngọai khoa, tình trạng mạch
huyết áp ổn định, thì quyết định rút ống thông nội khí quản cho BN.
Mặc dù BN được rút ống thông nội khí quản sớm nhưng vẫn được nằm lại qua đêm ở
hồi sức và chuyển trại vào sáng ngày hôm sau. Tại phòng hồi sức, BN sẽ tiếp tục
được- theo dõi các vấn đề hô hấp, tim mạch, chảy máu sau mổ, các tác dụng phụ
của thuốc mê, nôn ói.Tuy nhiên, trong nhóm nghiên cứu này, không có trường hợp
nào cần phải đặt lại ống thông nội khí quản do suy hô hấp hoặc mổ lại do chảy
máu sau mổ.
Giảm đau sau mổ với Morphin truyền tĩnh
mạch liên tục trong 24 giờ- sau mổ, người lớn 0,2 - 0,4mg/kg và ở trẻ em là 0,1
- 0,2mg/kg. Sau đó có thể thay thế bằng các lọai thuốc giảm đau dạng uống. BN
bắt đầu uống lại kể từ giờ thứ 6 sau khi rút ống thông nội khí quản và ăn trở
lại vào sáng ngày hôm sau. Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng các trị
số trung bình
- độ lệch chuẩn.
KẾT QUẢ
Nhóm nghiên cứu bao gồm 111 BN được phẫu
thuật để vá lỗ thông liên nhĩ gồm 68 BN người lớn ( > 15 tuổi) với 53 nữ và 15
nam và 43 BN trẻ em với 18 nữ và 25 nam. (Kết quả được tóm tắt ở bảng 1, 2, 3,
4)
THẢO LUẬN
Thông khí hỗ trợ sau mổ tim đã được mô tả
bởi Bjork và Engstrom vào những năm cuối thập niên 1950 và cộng sự vào đầu thập
niên 1960 để điều trị suy hô hấp thứ phát sau mổ tim.
Kéo dài thời gian thở máy vào những ngày
đầu sau mổ nhằm mục đích giảm bớt công hô hấp và cải thiện tình trạng trao đổi
khí tại phổi dẫn đến việc cần thiết phải sử dụng các thuốc an thần giảm đau và
đôi khi cả các thuốc dãn cơ. Hơn nữa, không phải không có các tai biến xảy ra
khi thời gian thở máy dài trên trên 12 giờ hoặc nhiều hơn khi trên 24 giờ.
Ở trẻ nhỏ, các tai biến như chấn thương
thanh khí quản, nút đàm gây xẹp phổi, ống thông nội khí quản bị tuột sút hoặc
gập khúc và tỷ lệ nhiễm trùng càng có nguy cơ cao hơn nhiều. Ðặc biệt ở trẻ bệnh
tim bẩm sinh (TBS), các kích thích do thao tác hút đàm nhớt, hút ống nội khí
quản có thể gây ra các cơn tăng áp lực động mạch phổi nặng, đôi khi có thể đe
dọa tính mạng BN. Áp lực dương trong đường thở còn dẫn đến gia tăng sức cản mạch
máu phổi và làm cản trở lưu lượng máu qua phổi. Rút ống thông nội khí quản sớm
sẽ giảm thiểu được các tai biến này.
Quasha và cs(8) nhận thấy các
biến chứng phổi giảm đáng kể khi rút ống thông nội khí quản sớm do các tế bào
nhung mao thanh quản sớm họat động trở lại tốt hơn, ít bị xẹp phổi hoặc viêm
phổi hơn, chức năng hô hấp bình phục nhanh và hoạt động hữu hiệu hơn.
Ðồng thời sau khi rút ống thông nội khí
quản, chức năng tim sẽ được cải thiện hơn do tăng công nhát bóp và cung lượng
tim. Nghiên cứu của Nicola d'Attellis và cs(1) cho thấy chỉ số tim
trên các BN sau khi rút ống thông nội khí quản gia tăng 21%. Qua các khảo sát
này cho thấy rằng việc rút nội khi quản sớm không có tác dụng tổn thương chức
năng tim mạch hoặc hô hấp trên các BN sau mổ tim. Ðiều này có nghĩa là tần suất
suy hô hấp sau mổ đã giảm bớt do sự góp phần đáng kể của việc cải tiến các kỹ
thuật tuần hoàn ngoài cơ thể và gây mê hồi sức.
Dần dần, Propofol đã được sử dụng khá phổ
biến trong mổ tim. Vermeyen và cs(7) đã chứng minh không có tác dụng
hư hại đáng kể đến chức năng tim mạch khi sử dụng phối hợp Propofol và Fentanyl
để dẫn đầu gây mê cũng như duy trì mê trên các BN mổ bắc cầu mạch vành.
Có nhiều phương thức gây mê tĩnh mạch đã
được sử dụng. Nhiều tác giả đã nghiên cứu về tác dụng của nó trên huyết động,
thời gian thức tỉnh, thời điểm thở lại tự nhiên của các BN sau mổ van tim. Kết
quả cho thấy rằng kỹ thuật gây mê tĩnh mạch tiêm truyền liên tục tốt hơn so với
kỹ thuật gây mê tĩnh mạch cổ điển cho từng liều ngắt quãng vì nó cho phép giảm
liều narcotic (Fentanyl, Sufentanyl,.) sử dụng trong lúc mổ mà vẫn đảm bảo được
huyết động ổn định, giảm đau sau mổ và thời gian ức chế hô hấp sau mổ ngắn hơn.
Peter C. Laussen và cs(2) đã xác định rằng việc rút ống thông nội khí
quản sớm tại phòng mổ trên các BN mổ thông liên nhĩ không có tác dụng hư hại đến
sự bình phục của các BN sau mổ mà nó còn có ích lợi hơn là giảm được chi phí
phẫu thuật. Cũng tương tự, nghiên cứu của Burrows và cs(6) về việc
chăm sóc sau mổ các trẻ em phẫu thuật thông liên nhĩ được rút ống thông nội khí
quản tại phòng mổ cho thấy các BN trong nhóm nghiên cứu thường có tình trạng
toan huyết và tăng tần suất nôn ói ở hồi sức hơn. Dầu vậy, một điều hiển nhiên
là không có BN nào cần đặt lại ống thông nội khí quản, tình trạng huyết động ổn
định và toan hô hấp sẽ tự điều chỉnh trong một thời gian ngắn sau khi được
chuyển đến hồi sức.
Arom K.A và cs(5) nghiên cứu về
hiệu quả kinh tế trên các BN được rút ống thông nội khí quản sớm kết luận rằng
việc rút ống thông nội khí quản sớm rút ngắn thời gian nằm hồi sức và bệnh viện,
dẫn đến việc giảm chi phí bệnh viện.
Peter C. Laussen và cs(2) nhận
thấy chi phí phẫu thuật cho các BN mổ thông liên nhĩ rút ống thông nội khí quản
sớm tại phòng mổ giảm bớt 27%. Các yếu tố chính để giảm chi phí điều trị là BN
nhập viện vào ngày mổ, rút ngắn thời gian nằm viện. Trung bình thời gian nằm
viện là 5 ngày. Sau khi rút ống thông nội khí quản, mặc dù không cần thở máy, BN
vẫn được lưu lại tại hồi sức qua đêm nên giảm tải cho công việc chăm sóc BN sau
mổ, giảm bớt các chi phí do thở máy (khí oxygen, monitoring, theo dõi hô hấp,
khí máu động mạch, x-quang, các thuốc an thần, dịch truyền,.).
KẾT LUẬN
Sự hoàn chỉnh của các phương thức mổ, sự
ra đời của thuốc mê và các phương thức gây mê mới, sự hoàn thiện hơn kỹ thuật
tuần hoàn ngoài cơ thể và bảo vệ cơ tim, giúp cho việc thực hiện rút ống thông
nội khí quản sớm sau mổ được an toàn và hữu hiệu. Ðiều này dẫn đến việc giảm bớt
được tỷ lệ các biến chứng do thở máy kéo dài sau mổ, rút ngắn thời gian nằm
viện, giảm bớt các chi phí phẫu thuật mà vẫn đảm bảo được chất lượng điều trị
hoàn hảo cho BN.
SUMMARY
In recent decades, since 1950s, advances
in cardiac surgery techniques, improvements in myocardial protection, and
progress in cardiopulmonary bypass as well as anesthetic management have changed
the postoperative management. Routine- use of postoperative ventilatory support
after cardiac surgery has been the sine qua non of care in all centers. However,
over the last few years, most cardiac surgery centers, also the Heart Institute
of Ho Chi Minh City since 9/1997, have instituted early extubation anesthesia
protocols for reducing the cost of prolonged stay in intensive care unit (ICU).
With the protocol of combining Fentanyl,
Propofol and Atracurium, we have been applying early extubation on isolated ASD
(Atrial Septal Defect) patients. In the adult group (68 patients), the duration
of operation was 95,81 -
15,33 minutes, cardiopulmonary bypass 31,68
- 9,06 minutes, total Fentanyl dose was 408,44
-
114,89-g, Atracurium 46,45 -
15,94mg, Propofol 276,77 -
83,13mg. In the children group (43 patients) the corresponding values are 87,79
- 13,48 minutes, 27,93
-
7,66 minutes, 87,79 -
13,48 minutes, 191,46 -
105,04-g, 27,83
- 13,79mg, 184,41
- 59,08mg. This resulted in early and safely
extubation right in the operating room.
Early extubation in isolated ASD patients
do not deteriorate cardiopulmonary function. Never-theless, it decreases not
only complications caused by prolonged mechanical ventilation but also cost of
hospitalization. Consequently, the actual trend of early extubation is now
applied on younger cardiac surgery patients.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Nicola d'Attellis, MD, Armelle Nicolas-Robin, MD Early extubation after Mitral
valve surgery: A target-controlled Infusion or Propofol and low dose Sufentanyl.
Journal of Cardiothoracic and vascular Anesthesia vol 11, No 4 (June), 1997: pp
467 - 473.
2.
Peter C. Laussen, MD, Robert W. Reid Tracheal Extubation of children in the
operating room after Atrial septal defect repair as part of a Clinical Practice
Guideline. Anesthesia and Analgesia - 1996; 82: 988 - 93
3.
Edward D, Verrier, MD, Ian H Wrght, MD changes in Cardiovascular surgical
Approaches to Achieve Early Extubation. Journal of Cardiothoracic and Vascular
Anesthesia - vol 9, No 5, Suppl 1 October 1995
4.
Jeffrey S. Heinle, MD; Laura K. Diaz, MD Early extubation after Cardiac
operations in neanates and young enfants. The Journal of Thoracic and
Cardiovascular surgery. 114, No 3
5.
Arom-KV; Emery-RW; Petersen-RJ; Schwartz-M Cost-effectiveness and predictors of
early extubation. Ann-Thorac-Surg. 1995 Jul; 60(1): 127-32
6.
Burrows-FA; Taylor-RH; Hillier-SC Early extubation of the trachea after repair
of secundum-type atrial septal defects in children. Can-J-Anaesth. 1992 Dec;
39(10): 1041-4
7.
Vermeyen-KM; De-Hert-SG; Erpels-FA; Adriaensen-HF Myocardial metabolism during
anaesthesia with propofol--low dose fentanyl for coronary artery bypass surgery.
Br-J-Anaesth. 1991 Apr; 66(4): 504-8
8.
Quasha AL, Loeber N. Feeley TW et al. Posoperative respiratory care: A
controlled trial of early and late exturbation following coronary artery bypass
grafting. Anesthesiology 1980,52:135-141
Conclusion: The results obtained in
either tarsal transposition or free tarsal graft were usually satisfying,
whereas good results on the esthetic aspect were difficult to be achieve. There
has been a great progress in the technique of making the orbital periosteal
flaps for canthal reconstruction and of mobilizing the orbicularis muscle to
increase the blood supply to the graft tissue. This has considerably made the
recons-tructive results better than before.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. BONIUK,M., ZIMMERMAN,L.E.( 1963): Tumors of the eyelid.
Inverted folicular keratosis, Arch. Ohthal. 69: 698-707.
2. ÐỨC, BÙI VĂN (1991): Vạt da. Trong: Bùi Văn Ðức. Căn
bản phẫu thuật tạo hình bằng hình vẻ Ấn bản lần 1, trang 14-21, Tài liệu chấn
thương chỉnh hình, Hội Y Dược Học TP Hồ Chí Minh
3.HOGAN M.J., ZIMMERMAN L.E.(1968): Neoplasms and related
conditions of the eyelid. In: HOGAN M.J., ZIMMERMAN L.E. Ophthalmic pathology,
2nd Ed, pp:194-220,W.B. Saunders company, Philadelphia London.
4. HUGHES W.L.(1964): Lid reconstruction. In: Ophthalmic
plastic surgery. HUGHES W.L, et al, Amer. Academy of Ophthalmology and
Otolaryngology, USA 2nd edition; 11:108-124,
5. KWITKO, M.L., BONIUK,M., ZIMMERMAN,L.E.( 1963): Tumors
of the eyelid with special reference to lesions often confused with squamous
cell carcinoma. Incidence and errors in diangosis,- Arch. Ophthal. 63: 693-697,
6. LEONE C.R. (1987): Lateral canthal reconstruction.
Ophthalmology; 94: 238-241
7. MOHS F.E (1976): Chemosurgery for skin cancer. Arch
Derm 112: 211
8. NAUGLE. T.C., LEVINE M.R.,CAROLL S.C. (1995): Free
graft enhancement using orbicilaris muscle mobilization. Ophthalmolgy; 102:
493-500.
9. NI C., SEARL SS, KUO PK et al (1982): Sebaceous cell
carcinoma of the ocular adnexa. In: Ni C and Albert DM. Tumors of the eyelid and
orbit: A Chinese - American Collaborative study. Int. Ophth. Clin 22: 23
10. OÁNH VŨ NGỌC (1962): contribution à l'étude des
cancers palpépraux au Sud Viet Nam. Dans: Thèse pour le doctorat en medecine, P
11-13, Travail de clinique ophtalmologique, Université de Saigon.
11. SPAETH G.L. (1990): Plastic surgery. In: Spaeth G.L..
Ophthalmic surgery. 16:591-614, W.B. Saundess Company; New York.