Mặc dù việc chẩn đoán và điều trị suy tim
đă có thay đổi và tiến bộ với sự ra đời của các thuốc mới dự hậu của suy tim vẫn
xấu với tỷ lệ tử vong trong 4 năm là 50%.(1)
Các biện pháp cổ điển như cữ muối, giảm cân, điều trị nguyên nhân vẫn có giá
trị, nhưng quan điểm và mục tiêu điều trị hiện nay hơi thay đổi. Không c̣n chỉ
nhắm vào làm giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộ- sống mà c̣n ngăn chặn
xảy ra và tiến triển của suy tim.
I. Thuốc ức chế men chuyển (ƯCMC)
Nếu trước kia điều trị suy tim thường được
khởi sự bằng lợi tiểu, khi BN đă có triệu chứng rối loạn chức năng tâm thu và
sung huyết th́ hiện nay khuynh hướng là sử dụng ƯCMC sớm, khi chưa có triệu
chứng suy tim (thí dụ sau nhồi máu cơ tim) hoặc khi mới có rối loạn chức năng
tâm trương (dầy thất trái ở người cao huyết áp, người lớn tuổi). Nghiên cứu
SOLVD(2,3) và SAVE(4)
đă chứng minh thuốc ƯCMC có thể ngăn ngừa sự tiến triển từ suy tim tiềm ẩn thành
suy tim có triệu chứng, do đó sử dụng ƯCMC sớm ở những BN chưa cần đến lợi tiểu
là hợp lư. Hơn 30 nghiên cứu(5)
có đối chứng với giả dược thực hiện tổng cộng trên hơn 7000 BN suy tim (với phân
suất tống máu < 35-45%) cho thấy ƯCMC không những giảm được triêu chứng suy tim
mà c̣n giảm được tử suất và nhập viện. Những ích lợi này được nhận thấy ở các BN
từ suy tim nhẹ, trung b́nh đến suy tim nặng.
Khởi trị bằng ƯCMC ở BN suy tim đ̣i hỏi
một số thận trọng: Trước tiên, kiểm tra Urê, crea-tinin, ion đồ. Những BN có
nguy cơ cao bị tụt huyết áp khi sử dụng ƯCMC là những BN:
- có natri huyết < 130 mmol/l
- creatinin 1,5 - 3mg/dl ( 150 - 300
mmol/l)
- tăng kali huyết hoặc đă dùng lợi tiểu
giữ kali
- BN điều trị với lợi tiểu liều cao
(furosemid > 80 mg/ngày)
- BN > 70 tuổi
- Có HA tâm thu < 90 mmHg.
Những BN này cần được ngưng lợi tiểu 1-2
ngày hoặc giảm liều và bắt đầu ƯCMC với liều thử (test dose):
+ Captopril 6,25 mg, tăng dần 12,5 mg x 3
lần/ ngày
+ Enalapril 1,25 -2,5 mg, có thể tăng dần
đến 10 mg x 2 lần/ngày.
Nếu liều thử không gây tụt huyết áp th́
sau đó điều trị vẫn ổn dù tăng lên liều thích hợp (tùy thuộc từng BN).
- Perindopril 2mg được nhận thấy ít gây
tụt HA ở người lớn tuổi hơn captopril 6,25mg và enalapril 2,5mg người ta chưa rơ
tại sao.(6)
Không nên khởi sự ƯCMC ở BN suy tim có HA
thấp và có nguy cơ gây choáng tim, chỉ dùng ƯCMC sau khi t́nh trạng BN đă ổn
định.
Trong thực hành lâm sàng, ƯCMC thường được
sử dụng với liều thấp hơn liều dùng trong nghiên cứu, thường là liều captopril
25-50 mg/ngày, ena-lapril 2,5-5 mg/ngày v́ các thầy thuốc nghĩ rằng liều thấp
cũng hiệu quả mà lại an toàn. Tuy nhiên trong một số nghiên cứu cho thấy liều
cao ƯCMC có lợi hơn liều thấp về phương diện huyết động học, triệu chứng và dự
hậu. Thí dụ như nghiên cứu ATLAS(7)
cho thấy lisinopril liều cao 32,5-35 mg/ngày giảm tử suất hoặc nhập viện tốt hơn
liều thấp 2,5 mg-5 mg. Do đó, không nên sử dụng liều thấp trừ khi BN không chịu
nổi liều cao, cần tăng dần đến liều cao như dùng trong các nghiên cứu, ít nhất
là 150 mg captopril /ngày hoặc 20 mg enalapril /ngày.
+ BN có natri huyết thấp dễ bị tụt HA khi
dùng ƯCMC gấp 30 lần người có natri huyết b́nh thường, do đó BN bị hạn chế muối
khắt khe dễ bị tụt HA khi dùng liều ƯCMC đầu tiên hơn các BN hạn chế muối vừa
phải. Ở BN suy tim nặng, mặc dù tổng lượng natri trong cơ thể tăng nhưng t́nh
trạng natri huyết thấp vẫn xảy ra, có thể do ADH được phóng thích nhiều sau khi
hệ renin angio-tensin bị kích hoạt do điều trị lợi tiểu tích cực.
Điều trị bằng ƯCMC làm tăng creatinin
huyết thanh rơ rệt (>0,5 mg%) ở 15-30% BN suy tim nặng và ở 5-15% BN suy tim
nặng. Mức độ tăng cao hơn ở BN có hẹp động mạch thận hoặc dùng thuốc kháng viêm
không steroid. Thường có thể cải thiện chức năng thận bằng cách giảm liều lợi
tiểu đang dùng phối hợp mà không cần ngưng ƯCMC. Tuy nhiên, nếu BN bị phù và
không thể giảm liều thuốc lợi tiểu được th́ cũng phải chấp nhận nồng độ
creatinin hơi cao và tiếp tục dùng ƯCMC.
+ Đối với BN đă suy thận với creatinin >
3mg/ dl (300 -mol/l) việc cân nhắc giữa cái lợi của ƯCMC đối với suy tim và cái
hại đối với thận không phải dễ. Tốt nhất là cải thiện huyết động học càng nhiều
càng tốt với lợi tiểu, digoxin, thuốc dăn mạch, sau đó ngưng lợi tiểu và khởi
đầu ƯCMC với liều thật thấp.
Suy tim sau nhồi máu cơ tim
Nghiên cứu ISIS- IV trên 27442 BN nhồi máu
cơ tim cấp được điều trị với captopril 6,25 mg tăng dần lên 50 mg x 2 lần / ngày
trong 28 ngày(8) và nghiên cứu GISSI-3(9) trên 9435 BN
NMCT cấp điều trị với lisinopril 2,5 - 5mg tăng dần lên 10 mg/ngày trong 42 ngày
cho thấy ƯCMC có khả năng ngăn ngừa suy tim sau nhồi máu (tỷ lệ tử vong giảm
6-11%).
Nghiên cứu SOLVD(3,) trên 2569
BN độ II và III, (enalapril khởi đầu 2,5mg x 2 lần/ngày) tăng dần lên 10mg x
2lần/ngày, giảm nguy cơ bộc lộ suy tim 36% và tỷ lệ tử vong giảm 16% nhập viện
giảm 26%.
- Nên dùng sớm ngay trong 24 giờ đầu sau
NMCT, có thể dùng liều thấp hơn 1,25mg x 3 lần cách nhau 2 giờ sau đó 5mg x 3
lần/ ngày, ngưng ƯCMC 4-6 tuần sau NMCT.
- Đối với suy tim sau NMCT có thể dùng
ramipril là ƯCMC được FDA công nhận.
Tác dụng có lợi này được giải thích bằng
cơ chế giảm sự tái cấu trúc thất trái sau nhồi máu, giảm hậu tải nhờ dăn mạch,
ức chế sự ph́ đại tế bào cơ tim do angiotensin II và bảo vệ nội mạc thành mạch
nhờ bradykinin.
Chọn lựa
thuốc ƯCMC
Tất cả các loại ƯCMC đều có tác dụng trên
suy tim và những khác biệt về dược lực học, dược động học và chuyển hóa của các
ƯCMC không có ư nghĩa nhiều về lâm sàng đối với đại đa số BN suy tim. Captopril
là thuốc có nhiều chỉ định được chính thức công nhận và tại Hoa Kỳ là thuốc ƯCMC
duy nhất được chính thức cho phép dùng đối với bệnh thận do tiểu đường. Có 5
ƯCMC được FDA Hoa Kỳ công nhận cho điều trị suy tim mạn là: captopril,
enalapril, lisinopril, quinapril và fosinopril.
Khi khởi đầu liều thử nên sử dụng
captopril v́ tác dụng ngắn. Khi việc điều trị đă được khởi đầu tốt đẹp th́ mới
đổi qua ƯCMC tác dụng kéo dài. Đối với BN có suy gan nên dùng lisinopril v́
không phải là tiền dược không cần chuyển hóa qua gan. Với BN suy thận nặng có lẽ
nên dùng ramipril, fosinopril, trandolapril v́ có 2 đường thải là gan và thận.
C̣n đối với đa số BN có mức độ nhẹ của bệnh lư thận, chỉ cần điều chỉnh liều
ƯCMC đang dùng mà không cần đổi qua một loại ƯCMC khác.
Lợi tiểu
Từ trước đến nay vẫn là thuốc chọn lựa đầu
tiên khi đă có triệu chứng suy tim, với mục đích giảm sung huyết huyết và phù
ngoại biên.
1/ Thiazid là thuốc chọn lựa đầu
tiên đối với suy tim nhẹ, suy tim mạn. Thường bắt đầu bằng liều thấp, tăng dần
với suy tim nặng hơn trước khi đổi qua lợi tiểu quai hoặc kết hợp với lợi tiểu
quai. Thiazid thường kém hiệu quả khi chức năng thận giảm, có thể dùng 50 -100mg
hydrochloro-thiazid. Khuynh hướng hiện nay là dùng kết hợp với ƯCMC mỗi khi dùng
lợi tiểu (trừ khi có chống chỉ định) v́ ƯCMC sẽ ức chế kích hoạt hệ
renin-angiotensin gây nên bởi việc sử dụng lợi tiểu. Ngoài ra, ƯCMC cũng có tác
dụng lợi tiểu gián tiếp bằng cách ức chế aldosteron và được xem như một dạng lợi
tiểu giữ kali.
Để thuốc lợi tiểu dễ tác dụng nên khuyên
BN nằm nghỉ 1-2 giờ sau khi dùng thuốc.
- Metolazon: là một lợi
tiểu- thiazid nhưng có tính chất đặc biệt là có hiệu quả ngay cả khi BN suy
thận.(10)
Liều chuẩn là 5-20 mg ngày 1 lần, tác dụng 24 giờ. Nếu phối hợp với furosemid có
thể gây lợi tiểu rất nhanh và ồ ạt.
2/ Furosemid
- Furosemid thường được chọn ưu
tiên khi đă có suy tim nặng v́ làm mất natri nhanh, có hiệu quả ngay cả khi độ
lọc vi cầu thận thấp và gây dăn tĩnh mạch.(10) Ở BN suy tim nặng, sự
hấp thu lợi tiểu quai bị chậm lại và tác dụng tối đa chỉ xảy ra sau 4 giờ. Sự
đáp ứng của thận đối với lợi tiểu quai cũng giảm, ảnh hưởng thải natri ở BN suy
tim độ II-III giảm chỉ c̣n 1/3 -1/4 và thấp hơn nữa với suy tim nặng hơn. Muốn
làm tăng sự đáp ứng này không cần dùng liều thật cao (trừ khi có suy
thận kèm theo) mà nên tăng số lần dùng với liều vừa phải.
Khả dụng sinh học và thời gian bán thải
của thuốc cũng quan trọng về phương diện lâm sàng. Đối với furosemid uống, mức
độ hấp thu là 50% nhưng có thể thay đổi từ 10-100% nên khó đánh giá hiệu quả,
trong khi bumetanid và torsemid hấp thu gần trọn vẹn 80-100% nên có tác giả tin
rằng BN suy tim điều trị với lợi tiểu quai này có lợi hơn là điều trị với
furosemid.(11) Số lần dùng trong ngày tùy thuộc thời gian bán thải.
Trong khi thiazid có thể dùng 1-2 lần /ngày do thời gian bán thải dài th́ lợi
tiểu quai lại có thời gian bán thải ngắn (bumetamid 1 giờ, torsemid 3-4 giờ,
furosemid 1 - -2giờ) nên tác dụng lợi tiểu thường giảm trước khi liều kế tiếp
được sử dụng và trong khoảng thời gian đó ống thận tích cực tái hấp thu natri.
Do đó phải dùng lợi tiểu quai nhiều lần trong một ngày. Ngoài ra cũng nên cho BN
nằm nghỉ 1-2 giờ sau khi dùng thuốc để tác dụng lợi tiểu tốt hơn.
Nếu BN bị suy thận kèm theo, liều
furosemid phải cao hơn. Thải natri đạt tối đa khi tiêm mạch liều bolus 160-200
mg furosemid, không có ích lợi nào khi tiêm liều lớn hơn. Ở một số BN có thể lập
lại liều bolus trên nhiều lần trong ngày.(11)
Dùng liều lợi tiểu sao cho thích
hợp là yếu tố quyết định sự thành công của điều trị và hiệu quả của các thuốc
phối hợp với lợi tiểu như: ƯCMC, dăn mạch. Lợi tiểu với liều thấp quá sẽ gây giữ
nước, làm giảm hiệu quả của ƯCMC và tăng nguy cơ khi dùng thuốc chẹn bêta. Lợi
tiểu với liều cao quá gây giảm thể tích làm tăng nguy cơ tụt HA khi dùng ƯCMC và
thuốc dăn mạch.
Rối loạn điện giải xảy ra trong
khi điều trị lợi tiểu cần được xử lư tích cực đồng thời vẫn duy tŕ lợi tiểu nếu
BN c̣n ứ đọng nước. Nếu HA hơi giảm và urê huyết tăng do dùng lợi tiểu nhưng
không gây triệu chứng th́ vẫn duy tŕ lợi tiểu. Cần đánh giá chính xác xem HA
giảm và urê huyết tăng là do dùng lợi tiểu quá nhiều hay do suy tim nặng thêm.
Nếu BN không có triệu chứng ứ đọng nước th́ có thể hiện tượng trên là do giảm
thể tích, nên giảm liều lợi tiểu khi những thay đổi về HA và chức năng thận đă
rơ và gây triệu chứng, Nếu BN c̣n ứ đọng nước th́ có thể HA giảm và urê huyết
tăng là do suy tim nặng thêm, cần duy tŕ liều lợi tiểu và tăng cường tưới máu
thận bằng thuốc vận mạch hoặc thuốc dăn mạch.
3- Thuốc
kháng aldosteron: Spironolacton phối hợp với lợi tiểu quai hoặc thiazid giúp
ngăn ngừa rối loạn điện giải ở đa số BN suy tim . Ngoài ra, c̣n có tác dụng ức
chế sự xơ hóa cơ tim và giảm nguy cơ tiến triển của suy tim. Nghiên cứu RALES(12)trên
1663 Bn suy tim nặng (độ IV) được điều trị bằng spironolacton (đến
25 mg/ngày) phối hợp với thuốc cổ điển trong 24 tháng cho thấy spironolacton làm
giảm tử suất 27%, giảm nhập viện 36%. Dựa trên những kết quả này, có thể sử dụng
spironolacton liều thấp ở BN suy tim độ IV, nhưng hiệu quả trên BN suy tim nhẹ
và vừa chưa được rơ.
4- Vấn đề bổ
sung kali: Nỗi lo ngại hạ kali huyết với các biến chứng có thể xảy ra
như ngoại tâm thu, ngộ độc digoxin. đưa đến việc bổ sung kali một cách thường
quy mỗi khi dùng lợi tiểu nhất là với furosemid liều cao tiêm mạch. Thật ra
lượng kali mất trong nước tiểu khi dùng furosemid (10mM/l) tương đối thấp (so
với 25 mM/l khi dùng thiazid) và tác dụng ngắn của furosemid cho phép cơ thể tự
cân bằng lại kali và magnesium sau tác dụng lợi tiểu. Hơn nữa, furosemid liều
cao chỉ sử dụng khi có suy thận hoặc suy tim nặng với rối loạn chức năng thải
kali tại thận nên việc bổ sung kali một cách thường quy là không cần thiết. Khi
dùng bất cứ lợi tiểu nào cần kiểm tra kali huyết định kỳ, chế độ ăn nhiều kali,
phối hợp với lợi tiểu giữ kali liều thấp là những biện pháp đơn giản và dễ thực
hiện. Tuy nhiên có khi t́nh trạng thiếu kali thật sự cùng xảy ra khi dùng lợi
tiểu kéo dài và BN bị tiêu chảy, kiềm hóa th́ cần bổ sung kali: 40 -100
mEq/ngày.
5-Hiện tượng
lờn thuốc lợi tiểu: có 2 dạng:(11)
- Lờn thuốc ngắn hạn là sự giảm đáp ứng
với một lợi tiểu sau khi dùng liều thứ nhất. Cơ chế chưa được rơ, có thể do sự
kích hoạt angiotensin II hoặc hệ thần kinh giao cảm tuy nhiên nghiên cứu trên
chuột cho thấy dùng ƯCMC hoặc thuốc chẹn bêta không ngăn ngừa được hiện tượng
này.
- Lờn thuốc dài hạn: Khi sử dụng lợi tiểu
quai kéo dài, dịch thoát ra từ quai Henlé tràn về ống thận xa và làm ống thận xa
ph́ đại (cơ chế không rơ) và tăng sự hấp thu natri. Do đó, natri thoát ra từ
quai Henlé lại được tái hấp thu ở ống thận xa. Thiazid chẹn ống thận ngay tại
điểm ph́ đại, do đó có tác dụng cộng hưởng khi phối hợp với lợi tiểu quai.
Hiện tượng lờn thuốc có thể khắc phục bằng
cách:
- Dùng lợi tiểu tiêm mạch, phối hợp 2
lợi tiểu
(furosemid và thiazid), sử dụng lợi tiểu phối hợp với thuốc co cơ tim.
- Dopamin liều thấp < 3
-g/kg/phút dùng ngắt quăng có thể cải thiện huyết động học của thận và làm tăng
sự đáp ứng với lợi tiểu quai. Tuy nhiên, nghiên cứu của Vargo và CS(13)
(1996) lại kết luận là ở BN suy tim, dopamin không làm tăng thêm sự đáp ứng đối
với liều hiệu quả tối đa của furosemid.
- Acetazolamid + lợi tiểu quai(11)
Acetazolamid (Diamox), thuốc ức chế anhydrase carbonic là lợi tiểu yếu, nhưng đă
được sử dụng trên BN suy tim sung huyết không đáp ứng với lợi tiểu quai liều cao
và với BN bị kiềm chuyển hóa. Ở những BN này, sự tái hấp thu Na gia tăng ở ống
thận gần, làm Na đến quai và ống thận xa giảm gây nên sự mất hiệu quả lợi tiểu
quai. Tuy nhiên chỉ dùng acetazolamid nếu đă dùng thiazid và lợi tiểu quai không
hiệu quả. Liều acetazolamid 500 mg tiêm mạch có thể phối hợp với furosemid
truyền dịch liên tục. Chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để đánh giá hiệu quả
của acetazolamid trên BN suy tim nặng.
Digoxin
- Đối với suy tim độ I, II, digoxin không
c̣n là điều trị bắt buộc. Thay vào đó là lợi tiểu và ƯCMC v́ đă không chứng minh
được rằng digoxin có thể làm chậm sự tiến triển suy tim thành suy tim có triệu
chứng như đối với ƯCMC.
- Đối với suy tim độ III trở lên, lợi tiểu
+ ƯCMC + digoxin vẫn là công thức chuẩn. Digoxin- có ưu điểm độc đáo là vừa có
tính co cơ tim (inotrope) vừa làm chậm nhịp tim trong khi các thuốc co cơ tim
khác thường làm nhịp tim nhanh. Hơn nữa digoxin là thuốc inotrope dạng uống duy
nhất được công nhận nên nó vẫn là thuốc căn bản cho điều trị suy tim.
1- Các t́nh huống:
- Suy tim có rung nhĩ: là chỉ định
chắc chắn và thường xuyên nhất cho digoxin.(14,15)
- Suy tim nhịp xoang: sau
một thời gian bị nghi ngờ là không hiệu quả và ít được sử dụng, giá trị của
digoxin đối với suy tim có nhịp xoang lại được tái lập dựa trên kết quả của
nhiều nghiên cứu mù và nghiên cứu ngưng thuốc.(16,17) Hiện đang có
một tiền cứu lớn so sánh digoxin với giả dược trên 7500 BN suy tim có nhịp
xoang, kết quả của nó sẽ có tính cách quyết định. Sử dụng digoxin hay không cũng
c̣n tùy thuộc từng trường hợp: hẹp van 2 lá với nhịp xoang không cần phải dùng
digoxin trừ khi đă có suy tim phải. Digoxin cũng ít có lợi với BN dầy thất trái,
phân suất phụt c̣n tốt, vả lại c̣n có hại nếu thất trái rất dầy v́ co cơ tim sẽ
làm tăng sự nghẽn tắc trên đường tống máu thất trái. Suy tim sung huyết do những
yếu tố như: nhiễm trùng, thiếu máu, cường giáp chỉ cần digoxin tạm thời lúc đầu,
không cần duy tŕ kéo dài.
- Suy tim do thiếu máu cơ tim: khi
dùng digoxin, nhu cầu tiêu thụ oxygen của cơ tim sẽ tăng hoặc là giảm tùy thuộc
vào 2 ảnh hưởng trái ngược nhau là sức căng thành vách tim giảm và tính co cơ
tim tăng.(18) Digoxin có thể làm giảm triệu chứng đau thắt ngực nếu
tim đă lớn và sung huyết. Tuy nhiên nếu tim đă dăn rất lớn th́ sự đáp ứng với
digoxin có thể thay đổi. Digoxin có thể làm thiếu máu cơ tim nặng thêm do tăng
nhu cầu oxygen trừ khi tác dụng bất lợi này bị che lấp bởi việc giảm kích thước
thất và giảm sức căng thành tim. Người ta cũng nhận thấy sự phối hợp digoxin và
propranol có lợi ở BN đau thắt ngực với tim lớn và chức năng thất bất thường.(14)
- Nhồi máu cơ tim cấp: nếu dùng
digoxin sẽ làm co thắt động mạch vành và tăng kích thước vùng nhồi máu. Nếu có
rung nhĩ với đáp ứng thất nhanh nên dùng esmolol hoặc verapamil, dil-tiazem.
- Suy tim sau nhồi máu: hiện vẫn
c̣n nhiều thắc mắc về tính an toàn của digoxin nếu dùng sau nhồi máu. Các nghiên
cứu cho thấy digoxin làm tăng tỷ lệ tử vong v́ làm tăng loạn nhịp hoặc tăng nhu
cầu oxygen.(18) Có thể dùng digoxin một cách thận trọng, nếu BN có
rối loạn chức năng tâm thu, thất dăn to, có T3 mặc dù đă điều trị lợi tiểu,
ƯCMC, chẹn bêta. Chỉ định rơ ràng nhất của digoxin sau NMCT cấp là rung nhĩ có
tần số thất nhanh. Đối với các loại nhịp nhanh trên thất khác nên dùng sốc điện.
- Tâm phế mạn: digoxin không những
không có lợi mà c̣n có hại nếu dùng cho suy tim phải do tâm phế mạn. Tuy digoxin
có thể làm tăng cung lượng tim nhưng lại làm tăng áp lực động mạch phổi chưa kể
dễ xảy ra t́nh trạng ngộ độc digoxin do thiếu O2 rối loạn điện giải.
Ngược lại nếu suy tim phải là hậu quả của suy tim trái th́ digoxin lại có chỉ
định dùng.(14)
2/ Cách sử dụng:
Liều digoxin sử dụng mỗi ngày tùy
thuộc vào chức năng thận đánh giá qua BUN hoặc creatinin huyết thanh. Tuy nhiên
ở người già, creatinin có thể b́nh thường dù độ lọc vi cầu thận đă giảm đến 50%
nếu Bn rất gầy, khối lượng cơ ít
nên creatinin phóng thích cũng thấp. Ngoài ra, khối cơ giảm làm digoxin ít gắn
vào sợi cơ nên nồng độ digoxin trong máu tăng, dễ gây ngộ độc. Liều digoxin ở
người già là 0,125mg/ngày tuy có thể dùng 0,25mg/ngày nếu creatinin
-
1,5 mg%.
- Vấn đề với digoxin là liều điều
trị và liều gây ngộ độc rất gần nhau. Có thể dựa một phần nào trên nồng độ
digoxin/ máu với điều kiện không lấy máu quá sớm < 6-8 giờ sau liều uống và < 4
giờ sau liều tiêm. Nồng độ điều trị là 1-2ng/ml. Tuy nhiên, ngộ độc digoxin vẫn
có thể xảy ra với nồng độ digoxin/ máu trong giới hạn điều trị nếu BN có kali
huyết thấp. Nếu BN dùng quinidin amiodaron, propanolol, nồng độ digoxin thường
tăng gấp đôi trong khi các thuô- chống loạn nhịp khác như: procainamid,
disopyramid, lidocain sotalol, chẹn bêta không ảnh hưởng đến dược động học của
digoxin. Verapamil làm tăng nồng độ digoxin trong khi diltiazem lại rất ít ảnh
hưởng.(14)
Thuốc dăn mạch
Nitrat với tác dụng dăn tĩnh mạch và giảm
tiền tải thường được dùng rộng răi trong suy tim cấp cũng như mạn, thích hợp
nhất là các BN có triệu chứng sung huyết phổi.
. Nitroglycerin rất hiệu quả đối với phù
phổi cấp. 0,8-2,4mg ngậm dưới lưỡi mỗi 5-10 phút có thể giảm ran ẩm và khó thở
trong ṿng 15-20 phút.
. Trong suy tim mạn có thể dùng Nitrat dơn
độc hoặc phối hợp với hydralazin. Nghiên cứu Vasodilator Heart Failure Trial I
(V-HeFT I),(19) thực hiện trên 642 BN suy tim độ II và III được điều
trị với isosorbid dinitrat 160 mg/ngày và hydralazin 300 mg/ngày phối hợp với
điều trị suy tim quy ước cho thấy tử suất giảm 25-30%, tuy nhiên nghiên cứu
V-HeFT II(20) trên 804 BN lại cho thấy điều trị phối hợp hydralazin
với enala-pril 20 mg/ngày cho kết quả tốt hơn. Từ kết quả của 2 nghiên cứu này,
chỉ nên dùng isosorbid dinitrat và hydralazin ở BN nào không dùng được ƯCMC.
Isosorbid dinitrat và hydralazin chưa được FDA Hoa Kỳ công nhận cho việc điều
trị suy tim.
. Đối với suy tim nhẹ đă ổn định với ƯCMC
và lợi tiểu, không cần dùng thêm nitrat.
. Hiện tượng lờn nitrat: cũng có thể xảy
ra trong điều trị suy tim. Do đó, nên dành nitrat cho những trường hợp đặc biệt
như suy tim cấp, khó thở về đêm, trước khi gắng sức. Có thể đối phó với hiện
tượng lờn thuốc nitrat bằng cách dùng liều leo thang, phối hợp với ƯCMC, hoặc
hydralazin, lợi tiểu.
. Prazozin, tác dụng chẹn
a, giảm được
tiền tải và hậu tải nhưng trên thực tế lại tỏ ra không hiệu quả đối với suy tim
(V-HeFT).
. Doxazosin có tác dụng dài hơn prazosin
và hiệu quả hơn.
. Nitroprussid là thuốc dăn mạch chuẩn đối
với suy tim trái cung lượng thấp.
Thuốc chống loạn nhịp
- Pḥng ngừa: Không được dùng thuốc
chống loạn nhịp với tính cách pḥng ngừa ở BN suy tim sung huyết nhất là nhóm I,
sotalol và amiodaron liều cao (400 mg/ngày) v́ tuy loạn nhịp thất có thể gây tử
vong nhưng thuốc chống loạn nhịp có thể làm suy tim nặng thêm. Nghiên cứu VA-
Cooperative study(22) -cho thấy ngay cả khi BN suy tim có ngoại tâm
thu thất "dày" cũng không nên pḥng ngừa rung thất bằng amiodaron. Ngoại lệ là
sau nhồi máu cơ tim, dùng thuốc chẹn bêta có tác dụng giảm đột tử và kéo dài
cuộc sống. Nếu BN không đáp ứng hoặc không dùng được chẹn bêta th́ dùng
aminodaron, được xem là một trong những thuốc hiệu quả nhất trong việc ngăn ngừa
loạn nhịp nhanh thất sau nhồi máu. Lidocain không c̣n được dùng để pḥng ngừa
loạn nhịp sau nhồi máu. Nghiên cứu của Fournier C. và CS(23) cho thấy
amiodaron 400 mg dùng sau nhồi máu cơ tim tốt hơn propanolol 160 mg/ngày. Cách
pḥng ngừa loạn nhịp tốt nhất ở BN suy tim sung huyết là điều chỉnh các rối loạn
điện giải (nhất là hạ kali), điều chỉnh tối đa t́nh trạng huyết động học và thần
kinh thể dịch, sử dụng ƯCMC, nhất là không xảy ra t́nh trạng ngộ độc digoxin.
Điều trị loạn nhịp chỉ đặt ra với loạn
nhịp có triệu chứng đáng kể. Điều quan trọng là t́m ra những yếu tố dễ gây loạn
nhịp như hạ kali, hạ magnê, thuốc giao cảm, digoxin, amiodaron, cải thiện huyết
động học của cơ tim v́ căng thành vách trái cũng là một yếu tố gây loạn nhịp.
Sau đó mới tính đến việc dùng thuốc chống loạn nhịp.
Trong suy tim sung huyết, dược động học
của thuốc chống loạn nhịp cũng thay đổi. Lưu lượng máu tại gan giảm, thời gian
bán thải kéo dài nên liều tán công cũng như liều duy tŕ cần phải giảm. Lưu ư sự
tương tác với digoxin và giảm liều digoxin khi dùng chung với amiodaron,
propa-fenon, quinidin.
Những thuốc chống loạn nhịp không tương
tác với dược động học của digoxin:
Nhóm- IA: procainamid, disopyramid.
----------- IB: lidocain, phenytoin,
tocainid, mexiletin.
--------- - IC: moricizin
--------- - II: chẹn bêta
--------- - III: sotalol
----------- IV: diltiazem
Procainomid có thể sử dụng sau nhồi máu cơ
tim dù có suy tim nhẹ. Suy tim nặng là một chống chỉ định tương đối.
Lidocain không ức chế huyết động học và cơ
tim. Tuy nhiên các thuốc nhóm I và sotalol đều có thể làm suy tim nặng hơn, hiện
nay amiodaron được xem là thuốc chọn lựa để chống loạn nhịp. Nghiên cứu của
Argentine(24) kéo dài 2 năm cho thấy amiodaron phối hợp với ƯCMC, lợi
tiểu, digoxin giảm tử vong được 28% ở bệnh nhân suy tim II-III. Amiodaron liều
thấp (200 mg) làm phân suất phụt tăng lên 19 -29% có lẽ nhờ tác dụng dăn mạch
ngoại biên và chẹn bêta nhẹ. Khuynh hướng hiện nay chủ trương dùng thuốc chẹn
bêta (với liều khởi đầu rất thấp) để cải thiện chức năng thất trái và ngừa loạn
nhịp. Thuốc chẹn bêta được cho phép dùng để chống loạn nhịp tại Mỹ là
propranolol, sotalol và acebutolol.
Nếu đă dùng 1-2 thuốc chống loạn nhịp mà
không hiệu quả, nên đặt máy chống loạn nhịp tự động, nhất là nếu phân xuất phụt
< 30-35%, thuốc chống loạn nhịp khó hiệu quả và tỷ lệ tử vong cao.
Thuốc chẹn bêta
Trong suy tim sung huyết nặng, số thụ thể
bêta 1 tại cơ tim giảm như một cơ chế tự vệ với sự kích thích giao cảm kéo dài.
Sử dụng thuốc chẹn bêta ở BN suy tim có lợi điểm làm tăng số thụ thể bêta 1
ngoài tác dụng giảm tiết renin, giảm tần số tim, kéo dài tâm trương, như vậy làm
tăng tưới máu vành và giảm nhu cầu oxygen. Ngoài ra thuốc chẹn bêta c̣n có tác
dụng chống loạn nhịp nên đặc biệt hiệu quả khi có nhịp nhanh xoang hoặc loạn
nhịp thất.
Hơn 20 nghiên cứu đối chứng với giả dược,(25-28)
thực hiện trên gần 10.000 BN suy tim có rối loạn chức năng tâm thu (EF<35-45%)
điều trị với thuốc chẹn bêta (carvedilol, metoprolol, bisoprolol) phối hợp với
ƯCMC, lợi tiểu
-
digitalis từ 6-8 tháng cho thấy điều trị lâu dài bằng chẹn bêta có thể giảm được
triệu chứng suy tim, cải thiện lâm sàng và làm giảm nguy cơ tử vong và nhập
viện. Sự ức chế 2 hệ thống renin-angiotensin và thần kinh giao cảm ở BN điều trị
với ƯCMC và chẹn bêta có thể đă tạo nên những hiệu quả cộng hưởng.
Tất cả các BN suy tim ổn định độ II và III
do rối loạn chức năng tâm thu cần phải được điều trị với chẹn bêta (trừ khi có
chống chỉ định) phối hợp với lợi tiểu, ƯCMC và có thể dùng chung với digoxin,
thuốc dăn mạch. Có thể dùng ở BN tiểu đường dù thuốc chẹn bêta có thể làm khuất
một số triệu chứng hạ đường huyết.
. Không nên dùng thuốc chẹn bêta ở BN:
-
Suyễn, nhịp tim chậm có triệu chứng <60l/phút.
-
Suy tim độ IV, suy tim mất bù đang nằm viện và cần
điều trị với thuốc vận mạch, thuốc co cơ tim tiêm mạch, BN suy tim có ứ đọng
dịch cần dùng lợi tiểu tiêm mạch. Những BN này cần được điều trị thích hợp với
các thuốc khác cho đến khi ổn định và hết ứ dịch th́ mới dùng chẹn bêta.
Điều trị chẹn bêta cần được khởi đầu với liều rất thấp:
|
|
Liều khởi đầu
|
Liều tối đa
|
|
Carvedilol(26)
|
3,125mgx2 lần /ngày
|
25mg
|
|
Metoprolol(27)
|
5mgx2 lần /ngày
|
100-160 mg /ngày
|
|
Bisoprolol(25)
|
1,25mg/ngày
|
5mg
|
. Liều lượng được tăng gấp đôi mỗi
2-4 tuần nếu BN dung nạp tốt và cố gắng tăng dần lên mức tối đa đă được dùng
trong nghiên cứu. Sự cải thiện về lâm sàng thường chỉ thấy rơ sau 2-3 tháng, và
dù triệu chứng không giảm cũng nên duy tŕ thuốc chẹn bêta lâu dài và không nên
ngừng đột ngột. Nếu trong khi đang điều trị, t́nh trạng suy tim nặng thêm nhiều
đến mức phải nhập viện và dùng thuốc tiêm mạch th́ nên giảm liều chẹn bêta hoặc
ngưng tạm thời cho đến khi BN ổn định.
. Tác dụng phụ:
-
HA thấp: nhất là carvedilol (ức chế
b1,
b2
và a1).
Để tránh hiện tượng này, cần giảm liều ƯCMC, dăn mạch. Nếu không hiệu quả, mới
giảm liều lợi tiểu. Có thể tránh HA thấp bằng cách cho BN dùng thuốc ƯCMC, dăn
mạch và chẹn bêta vào các thời điểm khác nhau trong ngày.
-
Giữ nước và suy tim nặng thêm: Dùng chẹn bêta có thể
đưa đến giữ nước, sung huyết phổi và làm suy tim nặng thêm, do đó nên cho BN cân
mỗi ngày để phát hiện kịp thời và tăng liều lợi tiểu.
-
Nhịp tim chậm <50l/phút hoặc blốc độ II, III cần giảm
liều.
Thuốc chẹn kênh calci
Tuy thuốc chẹn kênh calci có tác dụng dăn
mạch vành và mạch ngoại biên. Các nghiên cứu trên BN suy tim cho thấy thuốc này
có khả năng gây phù phổi, choáng tim, dùng lâu dài gây tăng nguy cơ suy tim nặng
thêm và tử vong, ngoại trừ các loại mới như amlodipin, felodipin và mibe-fradil.
Nghiên cứu PRAISE(29) trên 1153
BN suy tim nặng độ III và IV do bệnh cơ tim thiếu hoặc không thiếu máu điều trị
với amlodipin (đến 10 mg/ngày) phối hợp với điều trị suy tim cổ điển từ 6-33
tháng, cho thấy amlodipin không làm tăng nguy cơ tử vong và nhập viện.
Nghiên cứu V-HeFT III(30) thực
hiện trên 450 BN suy tim nhẹ và vừa do bệnh cơ tim thiếu hoặc không thiếu máu
điều trị với felodipin 10 mg/ngày phối hợp với điều trị suy tim cổ điển, cho
thấy không có tác dụng ǵ trên việc gắng sức và tử suất.
Tóm lại, thuốc chẹn kênh calci không nên
sử dụng ở BN suy tim. Những nghiên cứu rộng lớn thực hiện với amlodipin và
felodipin đă không chứng minh được rằng điều trị lâu dài với loại thuốc chẹn
kênh calci mới này có thể cải thiện suy tim.
thuốc kháng đông
Mặc dù có một số ư kiến cho rằng nên dùng
thuốc kháng đông ở BN suy tim có buồng tim dăn lớn, giảm động và EF thấp, nhưng
các nghiên cứu như V-HeFT VA Cooperative Studies(31) cho thấy nguy cơ
thuyên tắc ở BN suy tim rất thấp vào khoảng 1-3% dù EF giảm nhiều và siêu âm tim
có huyết khối trong buồng tim. Trong hồi cứu phân tích sử dụng warfarin ở BN suy
tim cho kết quả khác nhau và chưa có nghiên cứu đối chứng nào được thục hiện với
warfarin hoặc thuốc chống huyết khối trên BN suy tim. Do đó khó có thể kết luận
về việc sử dụng thuốc kháng đông ở BN suy tim, ngoại trừ BN suy tim rung nhĩ
hoặc có tiền căn thuyên tắc.
Những biện pháp mạnh
Trong suy tim mạn tính nặng, cơ tim thường
bị tổn thương đến mức điều trị nào cũng chỉ có kết quả hạn chế. Tuy nhiên vẫn có
thể cải thiện một phần nào triệu chứng nếu phối hợp một cách hợp lư và khéo léo
các thuốc lợi tiểu, ƯCMC, digoxin, thuốc dăn mạch và chẹn bêta.
. Một trong những nguyên nhân điều trị
thất bại là dùng ƯCMC liều không đủ cao. Sau liều thử đầu tiên, cần tăng dần
ƯCMC lên đến liều tối đa có thể được mà không gây tụt HA (captopril 150-300
mg/ngày, enalapril 20-40 mg, accupril 40mg, lisinopril 35 mg).(7-9)
. Dopamin (5 -g/kg/phút) ngoài tác
dụng kích thích tim (a
và
b), gây dăn mạch c̣n làm lợi
tiểu nhờ cải thiện tưới máu thận. Tuy nhiên co mạch có thể xảy ra từ liều 5
-g/kg/phút, nên phối hợp với dobutamin thay v́ dùng liều cao.(15)
. Dobutamin 2,5 -10 -g/kg/phút,
thích hợp cho suy thất trái nặng với cung lượng tim thấp, áp lực đổ đầy thất cao
và HA - 70
mmHg,(15) đặc biệt có lợi khi tưới máu thận suy giảm do suy tim nặng.
Nên phối hợp với dopamin liều thấp hoặc amrinon.
. Thuốc ức chế phosphodiesterase III(15)
Amrinon và milrinon có tác dụng vừa co cơ tim vừa dăn mạch mạnh hơn dopamin
và dobutamin trong việc giảm áp lực đổ đầy thất. Được dùng phối hợp ngắn hạn với
digoxin, lợi tiểu, ƯCMC và dăn mạch (hydralazin, nitrate) như một biện pháp cứu
nguy tuy có thể gây loạn nhịp, tụt HA.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Thomas W.
Smith -Fugen Braunwald. Management of heart failure. Heart disease. A texbook of
cardiovascular medicine 3nd edition.
2.Effect of
enalapril on survival in patients with reduced left ventricular ejection
fractions and congestive heart failure. The SOLVD Investigators. N-Engl-J-Med.
1991 Aug 1; 325(5): 293-302
3.-Effect of
enalapril on mortality and the development of heart failure in asymptomatic
patients with reduced left ventricular ejection fractions. The SOLVD
Investigattors.- N-Engl-J-Med. 1992 Sep 3; 327(10): 685-91
4.SAVE study.
Pfeiffer MA, Braunwald E, Moye LA et al. Effect of captopril on mortality and
morbidity in patients with left ventricular dysfunction after myocardial
infarction. N Engl J Med, 1992;327:669-677
5.Garg-R;
Yusuf-S Overview of randomized trials of angiotensin-converting enzyme
inhibitors on mortality and morbidity in patients with heart failure.
Collaborative group on ace
inhibitor trials. JAMA.1995 May 10; 273(18):1450-6
6.Reid-JL;
MacFadyen-RJ; Squire-IB; Lees-KR Blood pressure response to the first dose of
angiotensin-converting enzyme inhibitors in congestive heart failure.
Am-J-Cardiol. 1993 Jun 24; 71(17): 57E-60E
7.Packer M,
Poole Wilson P. et al. Comparative effects of low dose versus high dose
lisinopril on survival and major events in chronic heart failure: The
Assessement of Treatment with Lisinopril and Survival study (ATLAS)
(abstract)Eur Heart J 1998;19 (suppl);142
8.Opie-LH The
new trials: AIRE, ISIS-4, and GISSI-3. Is the dossier on ACE inhibitors and
myocardial infarction now complete- Cardiovasc-Drugs-Ther. 1994 Jun; 8(3):
469-72
9. GISSI-3
Investigators. Effects of lisinopril and transdermal glyceryl trinitrate singly
and together on 6-week mortality and ventricular function after acute myocardial
infarction. Lancet, 1994, 343:1115-1122.
10.
Lionel H. Opie, Norman Kaplan. And Philippe A. Poole- Wilson. Diurectics. Drugs
for the heart 4th edition, 1997, P 83.
11.
D. Craig Brater. Diuretic therapy. N Engl J Med 1998 339:387-395
12.
Pitt-D ACE inhibitor co-therapy in patients with heart failure: rationale for
the randomized aldactone evaluation study (RALES).Eur-Heart-J. 1995 Dec; 16
Suppl N: 107-10
13.
Vargo-DL; Brater-DC; Rudy-DW; Swan-SK Dopamine does not enhance
furosemide-induced natriuresis in patients with congestive heart failure.
J-Am-Soc-Nephrol. 1996 Jul; 7(7): 1032-7
14.
F.I. Marcus, L.H Opie, P.A Poole Wilson. E Sonnenblick Digitalis and Acute
Inotropes. Drugs for the heart 4th edition 1997,p145-170.
15.
Falk-RH; Leavitt-JI Digoxin for atrial fibrillation: a drug whose time has
gone-- Ann-Intern-Med. 1991 Apr 1; 114(7): 573-5
16.
Packer, M., Gheorghiade, M., Young, J.B., Costantini, P.J., Adams, K.F., Cody,
R.J., Smith, L.K., Van Voorhees, L., Gourley, L.A., and Jolly, M.K. Withdrawal
of digoxin from patients with chronic heart failure treated with
angiotensin-converting enzyme inhibitors. RADIANCE Study. N. Engl. J. Med.,
1993, 329:1-7
17.
Uretsky, B.F., Young, J.B., Shahidi, F.E., Yellen, L.G., Harrison, M.C., and
Jolly, M.K. Randomized study assessing the effect of digoxin withdrawal in
patients with mild to moderate chronic congestive heart failure: results of the
PROVED trial. J. Am. Coll. Cardiol., 1993, 22:955-962
18.
Poole-Wilson-PA; Robinson-K. Digoxin--a redundant drug in congestive cardiac
failure. Cardiovasc-Drugs-Ther. 1989 Jan; 2(6): 733-41
19.
Cohn, J.N., Archibald, D.G., Ziesche, S., Franciosa, J.A., Harston, W.E.,
Tristani, F.E., Dunkman, W.B., Jacobs, W., Francis, G.S., Flohr, K.H., Goldman,
S., Cobb, F.R., Shah, P.M., Saunders, R., Fletcher, R.D., Loeb, H.S., Hughes,
V.C., and Baker, B. Effect of vasodilator therapy on mortality in chronic
congestive heart failure. Results of a Veterans Administration Cooperative
Study. N. Engl. J. Med., 1986, 314:1547-1552.
20.
Cohn-JN; Johnson-G; Ziesche-S; Cobb-F; Francis-G; Tristani-F; Smith-R;
Dunkman-WB; Loeb-H; Wong-M; et-al. A comparison of enalapril with
hydralazine-isosorbide dinitrate in the treatment of chronic congestive heart
failure. N-Engl-J-Med. 1991 Aug 1; 325(5): 303-10
21.
Singh-SN; Fletcher-RD; Fisher-SG; Singh-BN; Lewis-HD; Deedwania-PC; Massie-BM;
Colling-C; Lazzeri-D. Amiodarone in patients with congestive heart failure and
asymptomatic ventricular arrhythmia. Survival Trial of Antiarrhythmic Therapy in
Congestive Heart Failure. N-Engl-J-Med. 1995 Jul 13; 333(2): 77-82
22.
Fournier-C; Brunet-M; Kindermans-M; Fedorowsky-A; Tournadre-P; Gensous-D;
Blondeau-M. Efficacité comparée de l'amiodarone et du propranolol sur les
arythmies ventriculaires dans les suites d'infarctus du myocarde.
Arch-Mal-Coeur-Vaiss. 1989 Jan; 82(1): 69-77
23.
Doval-HC; Nul-DR; Grancelli-HO; Perrone-SV; Bortman-GR; Curiel-R Randomised
trial of low-dose amiodarone in severe congestive heart failure. Grupo de
Estudio de la Sobrevida en la Insuficiencia Cardiaca en Argentina (GESICA).
Lancet. 1994 Aug 20; 344(8921): 493-8
24.
Lechat-P Beta-Bloquants et nouveaux medicaments de l'insuffisance
cardiaque.Rev-Prat. 1997 Dec 1; 47(19): 2131-4
25.
Packer-M; Bristow-MR; Cohn-JN; Colucci-WS; Fowler-MB; Gilbert-EM; Shusterman-NH
The effect of carvedilol on morbidity and mortality in patients with chronic
heart failure. U.S. Carvedilol Heart Failure Study Group N-Engl-J-Med. 1996 May
23; 334(21): 1349-55
26.
Goldstein-S Clinical studies on beta blockers and heart failure preceding the
MERIT-HF Trial. Metoprolol CR/XL Randomized Intervention Trial in Heart Failure.
Am-J-Cardiol. 1997 Nov 13; 80(9B): 50J-53J
27.
Bristow, M.R., O'Connell, J.B., Gilbert, E.M., French, W.J., Leatherman, G.,
Kantrowitz, N.E., Orie, J., Smucker, M.L., Marshall, G., Kelly, P., Deitchman,
D., and Anderson, J.L. for the Bucindolol Investigators. Dose-response of
chronic b-blocker treatment in heart failure from either idiopathic dilated or
ischemic cardiomyopathy. Circulation, 1994, 89:1632-1642.
28.
Packer-M; O'Connor-CM; Ghali-JK; Pressler-ML; Carson-PE; Belkin-RN; Miller-AB;
Neuberg-GW; Frid-D; Wertheimer-JH; Cropp-AB; DeMets-DL. Effect of amlodipine on
morbidity and mortality in severe chronic heart failure. Prospective Randomized
Amlodipine Survival Evaluation Study Group. N-Engl-J-Med. 1996 Oct 10; 335(15):
1107-1
29.
Cohn JN, Ziesch S, et al for vasodilator Heart Failure Trial (V-HeFT) study
group. Effect of the calcium antagonist felodipine as supplementary vasodilator
therapy in patients with chronic heart failure treated with enalapril : V-HeFT
III. Circulation 1997;96:856-863
30.
Dunkman-WB; Johnson-GR; Carson-PE; Bhat-G; Farrell-L; Cohn-JN.Incidence of
thromboembolic events in congestive heart failure. The V-HeFT VA Cooperative
Studies Group. Circulation. 1993 Jun; 87(6 Suppl): VI94-101