|
INTERFERON
a-2b ĐƠN THUẦN VÀ KẾT HỢP VỚI RIBAVIRIN
TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN SIÊU VI C MẠN TÍNH
Các nghiên
cứu thí điểm đă gợi ư là có nhiều BN bị bệnh viêm gan siêu vi C (HCV) mạn tính
có đáp ứng vi-rút học ổn định hơn khi được điều trị interferon
a-2b
kết hợp với ribavirin so với khi dùng interferon
a-2b
đơn thuần. Các tác giả đă nghiên cứu đáp ứng vi-rút học và sinh hóa cũng như độ
an toàn của phác đồ interferon
a-2b
kết hợp với ribavirin so với phác đồ interferon
a-2b
đơn thuần.
Đây là một
nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược. Trong nghiên cứu này,
100 BN được điều trị ngẫu nhiên với interferon
a-2b
(3 triệu đơn vị, 3 lần mỗi tuần) kết hợp với ribavirin (1000 hoặc 1200 mg mỗi
ngày) hoặc với giả dược trong 24 tuần và sau đó được theo dơi trong 24 tuần nữa.
Ngoài ra, các BN dùng thuốc c̣n được theo dơi thêm 1 năm sau khi ngưng thuốc.
Chỉ số chính để đánh giá là đáp ứng vi-rút học ổn định, được định nghĩa là không
phát hiện được RNA của siêu vi viêm gan C (HCV-RNA) qua kỹ thuật PCR ở tuần lễ
24 và 48. Khi hồi cứu, các dữ liệu HCV-RNA được phân tích như là dấu hiệu dự báo
đáp ứng vi-rút học ổn định.
Kết quả cho
thấy 18 (36%) trong số 50 BN trong nhóm dùng interferon
a-2b
kết hợp với ribavirin có đáp ứng miễn dịch ổn định so với 9 (18%) trong số 50 BN
trong nhóm dùng interferon
a-2b kết hợp với
giả dược (p=0.047). Vào thời điểm 1 năm theo dơi, tỉ lệ BN có đáp ứng vi-rút học
ở nhóm dùng interferon
a-2b kết hợp với
ribavirin cao hơn so với nhóm dùng interferon
a-2b
kết hợp với giả dược (42% so với 20%, p=0.03). Ngoài ra, số BN có nồng độ
HCV-RNA lớn hơn 3x106 đương lượng (equivalents =Eq) genome/mL lại có
đáp ứng ổn định với liệu pháp interferon
a-2b
kết hợp với ribavirin hơn là với interferon
a-2b
kết hợp với giả dược (12/29 so với 1/26, p=0.009), trong khi đó đáp ứng ổn định
lại không khác nhau đối với những BN có hàm lượng HCV-RNA nhỏ hơn 3 x 106
Eq/mL giữa nhóm dùng interferon
a-2b
kết hợp với ribavirin và interferon
a-2b kết hợp với giả dược (6/21 so với 8/24, p=0.67).
Các tác giả
kết luận là trong nhóm được điều trị với interferon
a-2b
kết hợp với ribavirin, số lượng BN bị bệnh viêm gan siêu vi C mạn tính có đáp
ứng vi-rút học ổn định th́ nhiều hơn so với nhóm chỉ được điều trị với
interferon a-2b đơn thuần.
-Theo Lancet 1998; 351:83-87
Randomised, double-blind, placebo-controlled trial of
interferon
a-2b with and without ribavirin for chronic hepatitis C
Bs Lê Hùng Thái
RELENZA thuốc mới trị bệnh
cúm
Relenza
(zanamivir) là một dược phẩm mới của hăng Glaxo-Wellcome vừa được Cục Quản Lư
Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho phép lưu hành để trị bệnh cúm cả tưp A
và B..
Relenza được
chỉ định để điều trị bệnh cấp tính không có biến chứng do virut cúm gây ra ở BN
trưởng thành và trẻ em trên 12 tuổi sau khi có các triệu chứng không quá 2 ngày.
Thuốc được
đưa vào phổi dưới dạng khí dung bằng dụng cụ phun mù gọi là Diskhaler.
Dược phẩm
này thuộc nhóm các hợp chất ức chế sự hoạt động của enzym neuranimidaz, một
enzym có tác dụng cắt đứt cầu nối giữa các phần tử của virut với các tế bào bị
nhiễm. Nếu enzym này bị ức chế, các phần tử của virut sẽ không thể nhiễm sang
các tế bào mới.
Theo FDA,
trên lâm sàng, zanamivir có một số tác dụng rút ngắn thời gian các triệu chứng
của bệnh cúm. Hiệu quả của thuốc chỉ thể hiện trên những BN bắt đầu điều trị
trong ṿng 2 ngày khi có các triệu chứng bệnh. FDA cũng cho rằng Relenza tỏ ra
kém hiệu quả ở những BN không bị sốt cao hoặc không có những triệu chứng nặng.
Ngoài ra, chưa rơ hiệu quả và sự an toàn của Dược phẩm này trong việc pḥng ngừa
bệnh cúm.
FDA cũng ghi
nhận có sự co thắt khí quản ở những BN bị suyễn nhẹ hoặc trung b́nh sau khi dùng
Relenza. BN nên ngưng dùng Relenza và hỏi ư kiến của thầy thuốc khi thấy có các
triệu chứng co thắt khí quản .
Theo Reuters Health qua Internet 27.7.99
DS. Huỳnh văn Nhiệm
NGHIÊN CỨU MÙ ĐÔI, NGẪU
NHIÊN, ĐỐI CHỨNG VỚI GIẢ DƯỢC VỀ HIỆU QUẢ VÀ SỰ DUNG NẠP CỦA MELOXICAM TRÊN bệnh
nhân VIÊM XƯƠNG KHỚP GỐI
Meloxicam là
một kháng viêm không steroid (NSAID) mới, có tỉ số giữa ức chế cyclooxygenase-2
(COX-2) / cyclooxygenase-1 (COX-1) khá cao, làm cho thuốc có tiềm năng ít gây
phản ứng ngoại ư hơn trên dạ dày. Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm thăm ḍ
hiệu quả và tính an toàn của meloxicam trên BN viêm xương-khớp gối. Đây là một
nghiên cứu mù đôi trên 513 BN được điều trị meloxicam 7,5mg, 15mg, 30mg ngày một
lần, hoặc giả dược (140, 134, 102 và 137 BN theo thứ tự).
Đo lường kết
quả bằng thang điểm dựa theo thang mô phỏng thị giác (visual analogue scales -
VAS) về đánh giá đau khi cử động (mục tiêu đánh giá chủ yếu) và đau khi nghỉ
ngơi ở khớp khảo sát cũng như hiệu quả chung. Đo lường chỉ số Lesquesne về độ
nặng và việc dùng paracetamol. Ghi nhận sự dung nạp chung và sự xuất hiện các
tác dụng phụ.
Kết quả cho
thấy cả hai meloxicam 7,5 mg và 15 mg đều có hiệu quả cao hơn đáng kể so với giả
dược về mặt đau khi cử động (với p, tuần tự là
< 0,01 và
< 0,03). Cả hai liều meloxicam này đều tỏ ra có ưu thế
hơn so với giả dược về mặt đau khi nghỉ ngơi ở khớp được khảo sát, tuy nhiên chỉ
có liều 15mg là đat-ư nghĩa thống kê (p< 0,02). Về hiệu quả chung, có khác biệt ư nghĩa thống kê với cả hai liều
của meloxicam (p< 0,05 đối với
liều 7,5 mg và p< 0,002 với liều 15 mg).
Các tác giả
cho rằng liều meloxicam 7,5 mg và 15 mg duy nhất mỗi ngày có hiệu quả và được
dung nạp tốt trong điều trị triệu chứng ngắn hạn viêm xương khớp gối.
Theo Scand-J- Rheumatol. 1998; 27(1): 32-7
A double blind, randomized, placebo-controlled study of
efficacy and tolerance of meloxicam treatment in patients with osteoarthritis of
the knee
BS Nguyễn Văn Phượng
HIỆU QUẢ VÀ SỰ DUNG NẠP CỦA
MELOXICAM TIÊM BẮP VÀ UỐNG Ở NGƯỜI ĐAU LƯNG CẤP: SO SÁNH VỚI PIROXICAM TIÊM BẮP
VÀ UỐNG
Đây là
nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên, có đối chứng trên nhóm song song về hiệu
quả và sự dung nạp của một liều meloxicam (15 mg) tiêm bắp vào ngày 1, tiếp theo
là meloxicam uống (15 mg /ngày) trong 7 ngày được so sánh với một liều piroxicam
(20 mg) tiêm bắp vào ngày 1 và tiếp theo là piroxicam uống (20 mg/ngày) trong 7
ngày, trên tổng số 169 BN ngoại trú bị chứng đau lưng cấp.
Đánh giá
bằng cách xác định thời gian xuất hiện tác dụng giảm đau của thuốc sau khi tiêm
bắp, hiệu quả chung, đau khi cử động, giới hạn sinh hoạt hằng ngày, sự dung nạp
tại chỗ tiêm và sự dung nạp chung bởi người nghiên cứu và BN dựa trên thang điểm
đáp ứng bằng lời nói (Verbal rating scales). Ghi nhận các tác dụng phụ, và các
đánh giá labô.
Meloxicam và
piroxicam cho thấy có một tác dụng nhanh sau khi tiêm bắp (thời gian trung b́nh
là 40 phút đối với meloxicam và 45 phút với piro-xicam), hiệu quả chung của cả
hai trị liệu được cho điểm cao, và các giới hạn của cuộc sống hàng ngày giảm
đáng kể ở đại đa số các người bệnh ở cả hai nhóm. Không có sự khác biệt có ư
nghĩa thống kê về hiệu quả giữa meloxicam và piroxicam, các dung nạp tại chỗ và
chung là tốt như nhau cho cả hai loại thuốc, nhưng ở các người bệnh dùng
meloxicam có ít tác dụng phụ trên đường tiêu hoá hơn (1,2%) so với BN dùng
piroxicam (7%). Sự cải thiện về mặt dung nạp của meloxicam có thể được giải
thích bằng tính chọn lọc trên cyclooxygenase- 2 của thuốc.
Theo Curr-Med-Res-Opin. 1997; 14 (1); 29-38
Efficacy and tolerability of intramuscular and oral
meloxicam in patients with acute lumbago: a comparison with intramuscular and
oral piroxicam
BS Nguyễn Văn Phượng
RIBOFLAVIN LIỀU CAO LÀM
GIẢM TẦN SUẤT CƠN ĐAU NHỨC NỬA ĐẦU
Vấn đề được
đặt ra là liệu riboflavin liều cao có ngừa được những cơn đau nhức nửa đầu
không-
Để trả lời
câu hỏi này, các tác giả đă tiến hành thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối
chứng với giả dược với 3 tháng theo dơi sau thời gian 1 tháng ban đầu làm cơ sở.
Thử nghiệm
được tiến hành tại 6 trung tâm nghiên cứu ở Bỉ và vùng Grand Duchy của
Luxem-bourg.
Tham gia thử
nghiệm có 55 BN tuổi từ 18-65 (tuổi trung b́nh: 36, phụ nữ chiếm 78%) đă đáp ứng
được các tiêu chuẩn của Hiệp Hội Nhức đầu Quốc tế về chứng đau nhức nửa đầu
(migraine) có hoặc không kèm theo tiền triệu; có bệnh sử đau nhức nửa đầu
- 1 năm, có 2-8 cơn đau nhức nửa đầu mỗi tháng, khoảng
cách giữa các lần đau nhức nửa đầu
-
5 ngày mỗi tháng, không dùng quá nhiều thuốc giảm đau hoặc ergotamin, và không
có bệnh thực thể hoặc tâm thần nặng; và có sử dụng đầy đủ biện pháp tránh thai
(riêng đối với phụ nữ).
Tất cả BN
đều được nhận giả dược trong thời gian đầu 1 tháng. Nếu BN nào bị
-
1 cơn đau nhức nửa đầu trong thời gian này th́ được cấp riboflavin uống
(Riboflavinum D 2914A, Federa, Brussels), liều 400 mg/ngày (n=28) hoặc giả dược
(Avicel RC 581, 850 mg, và
b-carotene,
0,473 mg) (n=27). Việc cho thuốc được thực hiện ngẫu nhiên trong 10 hộp có đựng
10 gói thuốc, mỗi hộp gồm 5 cơ số điều trị riboflavin và 5 cơ số giả dược.
Các chỉ số
chính để đánh giá là tỉ lệ BN có cải thiện được 50% tần suất cơn đau nhức nửa
đầu (thay đổi tần suất cơn đau nhức nửa đầu ở tháng thứ 4 so với tháng đầu), số
ngày đau nhức nửa đầu, và chỉ số đau nhức nửa đầu (số ngày đau nhức nửa đầu và
độ nặng trung b́nh). Các dữ liệu về những cơn đau nửa đầu (độ nặng, buồn nôn và
nôn, việc dùng thuốc, và thời gian kéo dài của cơn đau) đều được ghi lại trong
hồ sơ y bạ của BN.
Kết quả cho
thấy tỉ lệ BN có cải thiện
- 50% trong nhóm riboflavin cao hơn so với nhóm giả dược
về tần suất đau nhức nửa đầu (P = 0,01), về số ngày đau nhức nửa đầu (P =
0,002), và về chỉ số đau nhức nửa đầu (P = 0,01). Cả hai nhóm không khác nhau về
số BN có tác dụng phụ (2 so với 1).
Các tác giả
kết luận là những BN dùng riboflavin uống liều cao đă có cải thiện nhiều hơn về
tần suất cơn đau nhức nửa đầu, số ngày đau nhức nửa đầu, và chỉ số đau nhức nửa
đầu (phản ánh số ngày đau nhức đầu và độ nặng của cơn đau) so với những BN dùng
giả dược.
B́nh Luận (BS Elizabeth Loder, Spaulding Rehabilitation Hospital,
Boston, Massachusetts, USA)
Trong thập
niên vừa qua, việc đưa sumatriptan và các chất đồng vận 5HT 1B/1D vào sử dụng
lâm sàng đă tập trung sự chú ư vào vai tṛ của serotonin trong điều trị chứng
đau nhức nửa đầu. Tuy nhiên, với sự hiểu biết ngày càng nhiều về một chuỗi phức
hợp các biến cố tích lũy được về biểu hiện lâm sàng của chứng đau nhức nửa đầu
đă gợi ư là chắc hẳn không chỉ có một phương cách để ngăn chặn căn bệnh này.
Những bằng
chứng gợi ư có những bất thường về chuyển hóa năng lượng ở năo trong bệnh sinh
của chứng đau nhức nửa đầu. Sự xuất hiện của các cơn nhức đầu giống đau nhức nửa
đầu (migraine-like headaches) trong hội chứng MELAS (mito-chondrial
encephalopathy, lactic acidosis, and stroke-like episodes) cũng được lưu ư. Các
kết quả đầy khích lệ
từ việc sử dụng riboflavin liều cao (một tiền chất của flavoenzym liên quan đến
sinh năng lượng ở năo) trong hội chứng MELAS đă khiến Schoenen và cs thử nghiệm
dùng riboflavin trong chứng đau nhức nửa đầu, và các kết quả đạt được cũng thật
ấn tượng.
Thử nghiệm
kéo dài 4 tháng này, vốn tuân theo những hướng dẫn của Hiệp Hội Nhức đầu Quốc
tế, đă cho thấy là riboflavin có tác dụng đáng kể trên tần suất đau nhức đầu,
nhưng ít có tác dụng đối với độ nặng của chứng đau nhức đầu. Điều này cũng tương
tự với những tác dụng được thấy với các thuốc pḥng ngừa đau khác và cho thấy là
những thuốc này tác động bằng cách làm tăng ngưỡng nhức đầu, chứ không can thiệp
vào các yếu tố chi phối đến độ nặng của chứng đau nhức đầu một khi cơn đau nhức
đầu tái xuất hiện. Các lợi ích của riboflavin trở nên có ư nghĩa chỉ vào lúc
được 4 tháng, điều này nhấn mạnh đến sự cần thiết phải kiên nhẫn và có những hồ
sơ ghi chép cẩn thận nếu như những kết quả này được đem ra ứng dụng trong thực
hành lâm sàng.
Tỉ suất
thuận lợi giữa lợi ích và nguy cơ của riboflavin và độ dung nạp tuyệt vời của
thuốc gợi ư là hiện nay thuốc có thể thích hợp đối với những BN có nhu cầu dự
pḥng (những BN có
- 2 cơn đau nhức
đầu /tuần). Những nghiên cứu bổ sung sẽ giúp khẳng định các lợi ích, xác định rơ
hơn nữa liều lượng tối ưu, và làm rơ các nhóm nhỏ BN có khả năng được hưởng lợi
ích nhiều nhất của biện pháp trị liệu này.
Theo ACP Journal Club Sep Oct 1998, p 33
High dose riboflavin reduced the frequency of migraine
headaches.
BS Lê Hùng Thái
ASPIRIN CÓ THỂ NGỪA CHỨNG
ĐIẾC DO CHÍCH KHÁNG SINH
Aspirin có
thể sẽ là một phương thuốc rẻ tiền, an toàn và đơn giản không ngờ để ngừa chứng
điếc gây ra do chích kháng sinh aminoglycosid như Genta-mycin, Neomycin,
Streptomycin..Đó là kết luận rút ra từ một công tŕnh nghiên cứu mới đây của các
Bác sĩ Su-Hua Sha và Jochen Schacht thuộc Đại Học Michigan, Hoa Kỳ đăng trên tạp
chí Laboratory Investigation.
Các nhà
nghiên cứu đă phát hiện ra rằng các kháng sinh thuộc nhóm Aminoglycosid kể trên
thường gắn kết với sắt (Fe) trong máu tạo thành các gốc tự do tác động lên tế
bào thần kinh của tai trong, gây ra chứng lăng tai hay điếc hoàn toàn không thể
hồi phục được.
Theo các nhà
nghiên cứu này th́ có khoảng 22% BN ở các nước đang phát triển bị ảnh hưởng đến
thính giác sau khi dùng các kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosid, vốn được sử
dụng rộng răi v́ giá rẻ. Trên thực tế, hai phần ba số người bị câm-điếc ở miền
Nam Trung Quốc có nguyên nhân liên quan đến việc dùng kháng sinh khi c̣n bé.
Để khắc phục
t́nh trạng trên, các tác giả đă t́m ra phương pháp rẻ tiền mà hiệu quả: Thí
nghiệm trên bọ (guinea pigs), bằng cách chích gentamycin hoặc gentamycin cùng
với salicylat (một hoạt chất của Aspirin).
Kết quả là
thính giác của những con bọ dùng gentamycin đơn thuần bị ảnh hưởng rất nặng,
giảm ngưỡng nghe được, với cường độ âm thanh lên đến 70 decibel, trong khi các
con chuột dùng gentamycin kết hợp với salicylat bị ảnh hưởng nhẹ hơn, cường độ
âm thanh nghe được ở khoảng 20 decibel (Ở người, cường độ âm thanh nghe được
trong khoảng 0-20 decibel).
Kết quả giải
phẫu bệnh cho thấy ở những con bọ dùng gentamycin đơn thuần, hầu như tất cả các
tế bào lông ngoại vi của tai trong bị hủy hoại, trong khi ở bọ dùng gentamycin
kết hợp với salicylat, tỷ lệ tế bào lông bị tổn hại chỉ có 20%.
Kết quả này
đă chứng minh cho giả thuyết của các tác giả đưa ra là có thể dùng salicylat gắn
với sắt trong máu để ngăn cản sự tạo thành các gốc tự do sắt-gentamycin, nhờ đó
bảo vệ khỏi sự hủy hoại ống tai trong do kháng sinh này gây ra. Theo các nhà
nghiên cứu th́ salicylat không ảnh hưởng đến khả năng kháng khuẩn của
genta-mycin.
Theo công bố
của Đại học Michigan th́ thí nghiệm lâm sàng của việc dùng kháng sinh kết hợp
với aspirin hiện đang thực hiện ở bệnh viện Xi-an, Trung Quốc. Trong khi đó, các
nhà nghiên cứu th́ tin rằng liệu pháp này rất hứa hẹn sẽ là phương pháp hiệu quả
và ít tốn kém để ngăn ngừa chứng điếc do thuốc gây ra trên thế giới.
Theo Reuters Health qua Internet 21.7.99
DS. Huỳnh văn Nhiệm
uống nước và nguy cơ ung
thư bàng quang ở đàn ông
Nền tảng: Những nghiên cứu ở súc vật chứng tỏ đi tiểu nhiều lần
th́ tỷ lệ nghịch với nồng độ chất có khả năng gây ung thư trong biểu mô hệ niệu.
Ở người, gia tăng việc uống nước nhiều có thể làm giảm thời gian tiếp xúc giữa
biểu mô hệ niệu với chất gây ung thư bằng cách pha loăng các chất chuyển hóa
trong nước tiểu và làm đi tiểu nhiều lần. Dữ liệu về mối liên quan uống nhiều
nước và nguy cơ ung thư bàng quang chưa được chứng minh.
Phương
pháp: Đây là tiền cứu Health Profes-sionals Follow-up
Study, khảo sát mối liên quan giữa tổng lượng nước uống và nguy cơ ung thư
bàng quang trong thời gian 10 năm ở 47.909 đối tượng tham gia. Có 252 trường hợp
mắc mới ung thư bàng quang trong thời gian theo dơi. Tổng lượng nước uống được
tính từ bảng câu hỏi về 22 loại thức uống của 47.909 người tham gia, những người
này không mắc bệnh ung thư vào lúc khởi đầu nghiên cứu (1986). Thực
hiện phân tích hồi quy logistic để điều chỉnh các các yếu tố nguy cơ nghi ngờ và
đă biết của ung thư bàng quang.
Kết quả: Nghiên cứu này cho thấy tổng lượng nước uống hằng ngày
có mối tương quan nghịch với nguy cơ ung thư bàng quang. Nguy cơ tương đối đa
biến là 0,51 (95% KTC: 0,32-0,80) ở những người uống nước nhiều nhất (1/5 tổng
số người uống >2531 ml/ngày) so với những người uống nước ít nhất (1/5 tổng số
người uống <1290 ml/ngày). Uống nước nhiều đă góp phần làm giảm nguy cơ (nguy cơ
tương đối 0,49 cho những người uống > 1440 ml/ngày so với người uống < 240
ml/ngày).
Kết luận: Uống nước nhiều làm giảm nguy cơ ung thư bàng quang ở
đàn ông.
Theo N Engl J- Med 1999;340:1390-7
Fluid intake and the risk of bladder cancer in men.
BS Lê Anh Bá
Những thay đổi ở âm đạo và
HOẠT DỘNG t̀nh dục
ở
phụ nữ có bệnh sử ung thư cổ tử cung
Bối cảnh: Trên phụ nữ bị ung thư cổ tử cung, việc điều trị gây
ra những thay đổi về h́nh thể giải phẫu và chức năng âm đạo. Tác động của những
thay đổi đó trên chức năng t́nh dục và mức độ trục trặc cho phụ nữ, nếu có, chưa
được biết rơ.
Phương
pháp: Trong năm 1996 và 1997, các tác giả đă tiếp xúc với
332 phụ nữ có bệnh sử ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm (độ tuổi từ 26 đến 80
tuổi) đă được điều trị vào năm 1991 và 1992 tại bảy khoa ung bướu phụ nữ tại
Thụy Điển và 489 phụ nữ không có bệnh sử ung thư (nhóm chứng) để nhờ họ trả lời
một bảng câu hỏi dấu tên về những thay đổi âm đạo và chức năng t́nh dục.
Kết quả. Tổng số phụ nữ gửi về bảng câu hỏi được điền trả lời
là 256 người có bệnh sử ung thư cổ tử cung và 350 người chứng. Có 167 người
trong số 247 phụ nữ có bệnh sử ung thư (68%) và 236 người trong số 330 người
chứng (72%) báo rằng họ vẫn giao hợp đều đặn qua đường âm đạo. Hai mươi sáu phần
trăm số phụ nữ bị ung thư và 11% số đối chứng
báo rằng âm đạo không đủ chất nhờn để giao hợp, 26% phụ nữ bị ung thư và 3% số
đối chứng báo cáo âm đạo ngắn, và 23% phụ nữ bị ung thư và 4 đối chứng báo rằng
âm đạo không đủ độ đàn hồi. Hai mươi sáu phần trăm phụ nữ bị ung thư báo cáo bị
khó chịu nhiều hoặc vừa phải v́ những thay đổi ở âm đạo, so với 8% phụ nữ ở nhóm
chứng. Giao hợp đau cũng thường xảy ra hơn ở những phụ nữ bị ung thư cổ tử cung.
Tần suất cực khoái và sự thỏa măn tương tự nhau ở hai nhóm, kiểu điều trị đă áp
dụng ít ảnh hưởng, nếu không nói là không ảnh hưởng, đến tỉ lệ xảy ra những thay
đổi đặc hiệu ở âm đạo.---
Kết luận: Những phụ nữ đă được điều trị ung thư cổ tử cung có
những thay đổi ở âm đạo tồn tại dai dẳng, ảnh hưởng đến sinh hoạt t́nh dục và
gây nên những trục trặc đáng kể.
Theo N Eng J Med 1999:340:1383-9:
-Vaginal changes and sexuality in women with a history
of cervical cancer
BS Nguyễn Triển
tử
vong liên quan đến hút mỡ
Nền tảng: Kỹ thuật hút mỡ phồng
(tumescent liposuction) thực hiện bằng cách truyền vào dưới da một dung dịch có
chứa lidocain, tiếp đến hút mỡ qua các ống cannun rất nhỏ. Mặc dầu liều lidocain
lên đến 55 mg/kg thể trọng, nhưng ít biến chứng được báo cáo. Sau đây là 5
trường hợp tử vong có liên quan đến hút mỡ phồng.
Phương pháp: Năm trường hợp tử
vong sau khi hút mỡ phồng trong số 48.527 trường hợp tử vong chuyển đến văn
pḥng Office of Chief Medical Examiner của thành phố New York từ năm 1993 đến
1998. Hồi soát bệnh án và kết quả giải phẫu tử thi để xác định những yếu tố gây
tử vong.
Kết quả: Năm bệnh nhân được dùng
lidocain
liều từ 10 đến 40 mg/kg. Những thuốc khác cũng được- dùng như midazolam. Ba BN
chết là do tụt huyết áp trong lúc mổ và nhịp tim chậm không xác định được nguyên
nhân. Nồng độ lidocain trong máu sau khi chết trên 2 BN là 5,2 và 2 mg/L. Một BN
chết do quá tải dịch truyền và một chết do huyết khối tĩnh mạch sâu ở tĩnh mạch
bắp chân với huyết khối tắc mạch phổi sau khi hút mỡ phồng ở chân.
Kết luận: Hút mỡ phồng có thể
gây tử vong, có thể là do ngộ độc lidocain hoặc do tương tác thuốc có liên quan
đến lidocain.
Theo N Engl J Med 1999;340:1471-5
Deaths related to liposuction
BS Lê Anh Bá
Hội chứng Reye tại Hoa Kỳ
từ năm 1981 đến 1997
Bối cảnh. Hội chứng Reye là một thực thể bệnh lư lâm sàng được
mô tả lần đầu tiên vào năm 1963 tại Úc. Đây là một hội chứng được đặc trưng bởi
một bệnh lư năo và thoái hóa mỡ ở gan, thường xảy ra sau cúm hoặc thủy đậu. Từ
năm 1980, đă có những cảnh báo về việc sử dụng salicylat trên trẻ em khi bị
nhiễm siêu vi v́ nguy cơ xảy ra hộ- chứng Reye.
Phương
pháp: Để mô tả h́nh thái dịch tễ hội chứng Reye tại Hoa Kỳ,
các đặc trưng của BN và các yếu tố nguy cơ- gây hậu quả xấu, các tác giả đă phân
tích số liệu giám sát dịch tễ quốc gia được thu thập từ tháng 12/1980 đến tháng
11/1997. Hệ thống giám sát dựa trên cơ sở tự nguyện báo cáo bằng một mẫu bệnh án
chuẩn.
Kết quả: Từ tháng 12/1980 đến tháng 11/1997, có 1207 trường hợp
hội chứng Reye được báo cáo trên BN dưới 18 tuổi. Trong số dữ liệu có thể phân
tích được về chủng tộc và giới tính, 93% là trẻ da trắng và 52% là trẻ gái. Số
trường hợp hội chứng Reye được báo cáo giảm nhanh sau khi có những báo cáo về sự
liên kết giựa hội chứng này với việc sử dụng aspirin. Sau một đỉnh bệnh gồm 555
trường
hợp vào năm 1980, từ năm 1987 trở đi mỗi năm có không quá 36 trường hợp. 93% số
trẻ có bệnh sử bệnh được báo cáo, và 82% có thể phát hiện được nồng độ salicylat
trong máu. Tỉ lệ tử vong chung là 31%. Tỉ lệ tử vong cao nhất ở trẻ dưới 5 tuổi
(nguy cơ tương đối 1,8; khoảng tin cậy 95% 1,5-2,1) và ở những trẻ có nồng độ
ammonia huyết thanh trên 45
mg/dL (26
mmol/L)
(nguy cơ tương đối 3,4, KTC 95% 1,9-6,2).
Kết luận: Từ năm 1980, sự kết hợp giữa hội chứng Reye và sử dụng
aspirin khi bị thủy đậu hoặc bị bệnh dạng cúm được báo cáo lần đầu tiên, số
trường hợp trẻ em bị hội chứng Reye đă giảm rơ rệt. Hiện nay, hội chứng Reye rất
hiếm gặp, bất cứ trẻ nào bị nghi ngờ mắc phải rối loạn bệnh lư này cũng cần được
thăm khám kỹ càng để loại trừ những rối loạn chuyển hóa bẩm sinh có thể điều trị
được, vốn rất giống hội chứng Reye.
Theo N Eng J Med 1999;340:1337-82
Reye's syndrome in the United States from 1981 through
1997
BS Nguyễn Triển
CÁC PHẢN ỨNG PHỤ CỦA
ISOTRETINOIN
Cục Kiểm
soát Dược Phẩm Anh Quốc đă nhận được 841 báo cáo về các phản ứng phụ liên quan
đến việc sử dụng isotretinoin từ khi dược phẩm này được cho phép lưu hành năm
1982.
Hầu hết các
phản ứng là những biểu hiện rối loạn ở da, cơ xương, tiêu hoá, thị giác, thần
kinh như nổi mẫn, khô da, và nhạy cảm với ánh sáng (18%), đau cơ hay đau khớp
(11%), viêm môi, đau bụng và khô miệng (10%), viêm kết mạc, khô mắt hay nh́n
không rơ (7%), đau nửa đầu, co giật (7%), và các phản ứng về tâm thần kể cả trầm
cảm, tự sát hay có ư định tự sát (5%).
Một thông
tin khác từ Ủ- Ban Tư Vấn về các phản ứng phụ của Thuốc ở Úc cho biết từ năm
1985 đến 1998, Ủ- Ban đă nhận được 129 báo cáo về các phản ứng phụ của
Isotretinoin, trong đó có 12 bản báo cáo về chứng trầm cảm xảy ra ở BN từ 15-40
tuổi, tất cả đều dùng isotretinoin để trị mụn trứng cá. 10 trường hợp bị trầm
cảm ở giai đoạn đầu, 2 trường hợp nặng và 4 trường hợp biểu hiện loạn tâm thần.
Ba BN có ư định tự sát, 2 đă tự sát trong đó có một trường hợp tử vong.
Các thầy
thuốc cũng được nhắc nhở là isotretinoin là thuốc có thể gây quái
thai, nên chống chỉ định cho phụ nữ trong tuổi sinh đẻ, trừ khi các điều kiện
sau đây được tuân thủ:
-
Isotretinoin chỉ được
dùng trong trường hợp bị mụn trứng cá nặng, có thể nang biến dạng, đă đề kháng
với các phương pháp điều trị chuẩn.
-
BN không mang thai khi
bắt đầu điều trị và trong ṿng 2 tuần trước khi điều trị phải được thử thai để
chắc chắn là không có thai.
-
Các biện pháp tránh thai
hiệu quả phải được áp dụng ít nhất 4 tuần trước khi điều trị, trong suốt quá
tŕnh điều trị và ít nhất 4 tuần sau khi ngưng điều trị bằng isotretinoin.
Isotretinoin
chỉ được ghi toa hoặc giám sát bởi một bác sĩ chuyên khoa hoặc một bác sĩ da
học. Bác sĩ điều trị phải giải thích rơ ràng những điều cần thận trọng cho BN và
phải chắc chắn rằng BN hiểu rơ các nguy cơ và những điều cần phải lưu ư.
Theo WHO Drug Information V12, N4,1998
Isotretinoin: adverse reaction profile
DS Huỳnh Văn Nhiệm
UNG THƯ BUỒNG TRỨNG VÀ LIỆU
PHÁP THAY THẾ HOÓC-MÔN SAU MĂN KINH
Liệu pháp
thay thế hoóc-môn sau măn kinh (LTHSM) có làm gia tăng nguy cơ bị ung thư biểu
mô buồng trứng hay không-
Để trả lời
câu hỏi này, các tác giả đă tiến hành một nghiên cứu đa phân tích dựa trên nguồn
dữ liệu của MEDLINE (từ 1966 đến tháng 6/1997) bằng cách tra cứu các từ sau đây:
tăng sản buồng trứng, ung thư buồng trứng, liệu pháp thay thế estrogen, liệu
pháp thay thế hoóc-môn, các estrogen sau măn kinh, các estrogen không có tác
dụng ngừa thai. Các thư mục của các bài thích hợp sẽ được đưa cho các chuyên gia
xem xét.
Chọn các
nghiên cứu trong MEDLINE nếu đáp ứng được các yêu cầu như: đánh giá sự liên quan
giữa LTHSM và sự- phát triển của ung thư buồng trứng ở mức ranh giới hoặc đă xâm
lấn, các phụ nữ bị ung thư buồng trứng được ghép cặp với các phụ nữ đối chứng
dựa trên độ tuổi, các kết quả được điều chỉnh theo tuổi, dữ liệu có thể phân
biệt được việc sử dụng hoóc-môn trước và sau măn kinh, và loại trừ được các phụ
nữ đă cắt bỏ ṿi-buồng trứng. Các dữ liệu được xem xét về mặt thiết kế nghiên
cứu, nguồn phụ nữ để đối chứng, mô học của bướu buồng trứng, việc sử dụng LTHSM
(estrogen đơn thuần hoặc estrogen kết hợp với progestin), thời gian sử dụng
LTHSM (<1, 1-5, 6-10, hoặc >10 năm), và loại ung thư (ung thư buồng trứng, các
bướu buồng trứng ranh giới với ung thư, hoặc cả hai).
Kết quả cho
thấy có 11 bài báo bao gồm các dữ liệu từ 21 nghiên cứu đáp ứng được các tiêu
chuẩn để đưa vào nghiên cứu này. Có 10 nghiên cứu đánh giá ung thư xâm lấn buồng
trứng (4392 phụ nữ bị ung thư buồng trứng). Tổng phân tích cho thấy những phụ nữ
đă từng dùng và dùng trên 10 năm LTHSM đều có liên quan với gia tăng nguy cơ mắc
ung thư xâm lấn buồng trứng. Các nghiên cứu dựa vào bệnh viện và cộng đồng cũng
cho những kết quả tương tự. Ung thư buồng trứng dạng xâm lấn hoặc ranh giới chỉ
liên quan với việc đă từng dùng LTHSM.
Các tác giả
kết luận là LTHSM, đặc biệt khi dùng thời gian dài, có thể liên quan với gia
tăng nguy cơ ung thư biểu mô buồng trứng dạng xâm lấn.
B́nh luận (BS. Holly L. Thacker, Ceveland Clinic Foundation, Ohio,
USA)
Việc đánh
giá LTHSM dự pḥng đă tập trung vào việc pḥng ngừa bệnh loăng xương, bệnh tim
mạch, và nguy cơ ung thư vú. Tái phân tích các dữ liệu của 51 công tŕnh nghiên
cứu dịch tễ về phụ nữ bị ung thư vú đă hậu thuẫn ư kiến cho rằng nguy cơ ung thư
vú hơi tăng cao ở phụ nữ dùng LTHSM kéo dài.
Bất cứ tiềm
năng gia tăng nguy cơ ung thư buồng trứng nào đi kèm với sử dụng LTHSM kéo dài
đều nên được quan tâm bởi v́ việc tầm soát và điều trị ung thư buồng trứng th́
kém hiệu quả hơn so với ung thư vú. Công tŕnh phân tích này liên quan đến 11
bài báo (21 nghiên cứu) có thể đă bị hạn chế do những sai số về xuất bản
(publication bias) và sai số về giám sát. Nó không chứng tỏ được mối liên hệ
nhân quả giữa ung thư buồng trứng và LTHSM. Điểm quan trọng cần lưu ư là trong
những nghiên cứu thuần tập, LTHSM có liên quan với giảm tử vong do tất cả nguyên
nhân. Lợi ích bảo vệ chung của LTHSM, mặc dù có hơi yếu, vẫn c̣n tồn tại sau 10
năm sử dụng LTHSM. Tuy nhiên, những nhận định tích cực này có lẽ là do các phụ
nữ có sức khoẻ tốt hơn hơn dùng LTHSM- chứ không phải do bản thân việc sử dụng
LTHSM.
Nghiên cứu
này khiến chúng ta quan tâm đến việc xem xét những t́nh huống nghiêm trọng khác
ở phụ nữ có thể đă được cải thiện nhờ LTHSM kéo dài, chẳng hạn như khám phá mới
đây về giảm nguy cơ ung thư đại tràng. Các nhà lâm sàng nên bàn luận về các lợi
ích dự pḥng và các mối nguy tiềm tàng của LTHSM với các phụ nữ sau măn kinh.
Theo ACP Journal Club Jan/Feb 1999, p 23: Review:
Postmenopausal hormone replacement therapy is associated with increased invasive
ovarian cancer, especially after long-term use.
BS Lê Hùng Thái
|