WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

B́nh luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

INTERFERON a-2b ĐƠN THUẦN VÀ KẾT HỢP VỚI RIBAVIRIN TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN SIÊU VI C MẠN TÍNH


Các nghiên cứu thí điểm đă gợi ư là có nhiều BN bị bệnh viêm gan siêu vi C (HCV) mạn tính có đáp ứng vi-rút học ổn định hơn khi được điều trị interferon a-2b kết hợp với ribavirin so với khi dùng interferon a-2b đơn thuần. Các tác giả đă nghiên cứu đáp ứng vi-rút học và sinh hóa cũng như độ an toàn của phác đồ interferon a-2b kết hợp với ribavirin so với phác đồ interferon a-2b đơn thuần.

Đây là một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược. Trong nghiên cứu này, 100 BN được điều trị ngẫu nhiên với interferon a-2b (3 triệu đơn vị, 3 lần mỗi tuần) kết hợp với ribavirin (1000 hoặc 1200 mg mỗi ngày) hoặc với giả dược trong 24 tuần và sau đó được theo dơi trong 24 tuần nữa. Ngoài ra, các BN dùng thuốc c̣n được theo dơi thêm 1 năm sau khi ngưng thuốc. Chỉ số chính để đánh giá là đáp ứng vi-rút học ổn định, được định nghĩa là không phát hiện được RNA của siêu vi viêm gan C (HCV-RNA) qua kỹ thuật PCR ở tuần lễ 24 và 48. Khi hồi cứu, các dữ liệu HCV-RNA được phân tích như là dấu hiệu dự báo đáp ứng vi-rút học ổn định.

Kết quả cho thấy 18 (36%) trong số 50 BN trong nhóm dùng interferon a-2b kết hợp với ribavirin có đáp ứng miễn dịch ổn định so với 9 (18%) trong số 50 BN trong nhóm dùng interferon a-2b kết hợp với giả dược (p=0.047). Vào thời điểm 1 năm theo dơi, tỉ lệ BN có đáp ứng vi-rút học ở nhóm dùng interferon a-2b kết hợp với ribavirin cao hơn so với nhóm dùng interferon a-2b kết hợp với giả dược (42% so với 20%, p=0.03). Ngoài ra, số BN có nồng độ HCV-RNA lớn hơn 3x106 đương lượng (equivalents =Eq) genome/mL lại có đáp ứng ổn định với liệu pháp interferon a-2b kết hợp với ribavirin hơn là với interferon a-2b kết hợp với giả dược (12/29 so với 1/26, p=0.009), trong khi đó đáp ứng ổn định lại không khác nhau đối với những BN có hàm lượng HCV-RNA nhỏ hơn 3 x 106 Eq/mL giữa nhóm dùng interferon a-2b kết hợp với ribavirin và interferon a-2b kết hợp với giả dược (6/21 so với 8/24, p=0.67).

Các tác giả kết luận là trong nhóm được điều trị với interferon a-2b kết hợp với ribavirin, số lượng BN bị bệnh viêm gan siêu vi C mạn tính có đáp ứng vi-rút học ổn định th́ nhiều hơn so với nhóm chỉ được điều trị với interferon a-2b đơn thuần.

-Theo Lancet 1998; 351:83-87

Randomised, double-blind, placebo-controlled trial of interferon a-2b with and without ribavirin for chronic hepatitis C

Bs Lê Hùng Thái


RELENZA thuốc mới trị bệnh cúm


Relenza (zanamivir) là một dược phẩm mới của hăng Glaxo-Wellcome vừa được Cục Quản Lư Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho phép lưu hành để trị bệnh cúm cả tưp A và B..

Relenza được chỉ định để điều trị bệnh cấp tính không có biến chứng do virut cúm gây ra ở BN trưởng thành và trẻ em trên 12 tuổi sau khi có các triệu chứng không quá 2 ngày.

Thuốc được đưa vào phổi dưới dạng khí dung bằng dụng cụ phun mù gọi là Diskhaler.

Dược phẩm này thuộc nhóm các hợp chất ức chế sự hoạt động của enzym neuranimidaz, một enzym có tác dụng cắt đứt cầu nối giữa các phần tử của virut với các tế bào bị nhiễm. Nếu enzym này bị ức chế, các phần tử của virut sẽ không thể nhiễm sang các tế bào mới.

Theo FDA, trên lâm sàng, zanamivir có một số tác dụng rút ngắn thời gian các triệu chứng của bệnh cúm. Hiệu quả của thuốc chỉ thể hiện trên những BN bắt đầu điều trị trong ṿng 2 ngày khi có các triệu chứng bệnh. FDA cũng cho rằng Relenza tỏ ra kém hiệu quả ở những BN không bị sốt cao hoặc không có những triệu chứng nặng. Ngoài ra, chưa rơ hiệu quả và sự an toàn của Dược phẩm này trong việc pḥng ngừa bệnh cúm.

FDA cũng ghi nhận có sự co thắt khí quản ở những BN bị suyễn nhẹ hoặc trung b́nh sau khi dùng Relenza. BN nên ngưng dùng Relenza và hỏi ư kiến của thầy thuốc khi thấy có các triệu chứng co thắt khí quản .

Theo Reuters Health qua Internet 27.7.99

DS. Huỳnh văn Nhiệm


NGHIÊN CỨU MÙ ĐÔI, NGẪU NHIÊN, ĐỐI CHỨNG VỚI GIẢ DƯỢC VỀ HIỆU QUẢ VÀ SỰ DUNG NẠP CỦA MELOXICAM TRÊN bệnh nhân VIÊM XƯƠNG KHỚP GỐI


Meloxicam là một kháng viêm không steroid (NSAID) mới, có tỉ số giữa ức chế cyclooxygenase-2 (COX-2) / cyclooxygenase-1 (COX-1) khá cao, làm cho thuốc có tiềm năng ít gây phản ứng ngoại ư hơn trên dạ dày. Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm thăm ḍ hiệu quả và tính an toàn của meloxicam trên BN viêm xương-khớp gối. Đây là một nghiên cứu mù đôi trên 513 BN được điều trị meloxicam 7,5mg, 15mg, 30mg ngày một lần, hoặc giả dược (140, 134, 102 và 137 BN theo thứ tự).

Đo lường kết quả bằng thang điểm dựa theo thang mô phỏng thị giác (visual analogue scales - VAS) về đánh giá đau khi cử động (mục tiêu đánh giá chủ yếu) và đau khi nghỉ ngơi ở khớp khảo sát cũng như hiệu quả chung. Đo lường chỉ số Lesquesne về độ nặng và việc dùng paracetamol. Ghi nhận sự dung nạp chung và sự xuất hiện các tác dụng phụ.

Kết quả cho thấy cả hai meloxicam 7,5 mg và 15 mg đều có hiệu quả cao hơn đáng kể so với giả dược về mặt đau khi cử động (với p, tuần tự là < 0,01 và < 0,03). Cả hai liều meloxicam này đều tỏ ra có ưu thế hơn so với giả dược về mặt đau khi nghỉ ngơi ở khớp được khảo sát, tuy nhiên chỉ có liều 15mg là đat-ư nghĩa thống kê (p< 0,02). Về hiệu quả chung, có khác biệt ư nghĩa thống kê với cả hai liều của meloxicam (p< 0,05 đối với liều 7,5 mg và p< 0,002 với liều 15 mg).

Các tác giả cho rằng liều meloxicam 7,5 mg và 15 mg duy nhất mỗi ngày có hiệu quả và được dung nạp tốt trong điều trị triệu chứng ngắn hạn viêm xương khớp gối.

Theo Scand-J- Rheumatol. 1998; 27(1): 32-7

A double blind, randomized, placebo-controlled study of efficacy and tolerance of meloxicam treatment in patients with osteoarthritis of the knee

BS Nguyễn Văn Phượng


HIỆU QUẢ VÀ SỰ DUNG NẠP CỦA MELOXICAM TIÊM BẮP VÀ UỐNG Ở NGƯỜI ĐAU LƯNG CẤP: SO SÁNH VỚI PIROXICAM TIÊM BẮP VÀ UỐNG


Đây là nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên, có đối chứng trên nhóm song song về hiệu quả và sự dung nạp của một liều meloxicam (15 mg) tiêm bắp vào ngày 1, tiếp theo là meloxicam uống (15 mg /ngày) trong 7 ngày được so sánh với một liều piroxicam (20 mg) tiêm bắp vào ngày 1 và tiếp theo là piroxicam uống (20 mg/ngày) trong 7 ngày, trên tổng số 169 BN ngoại trú bị chứng đau lưng cấp.

Đánh giá bằng cách xác định thời gian xuất hiện tác dụng giảm đau của thuốc sau khi tiêm bắp, hiệu quả chung, đau khi cử động, giới hạn sinh hoạt hằng ngày, sự dung nạp tại chỗ tiêm và sự dung nạp chung bởi người nghiên cứu và BN dựa trên thang điểm đáp ứng bằng lời nói (Verbal rating scales). Ghi nhận các tác dụng phụ, và các đánh giá labô.

Meloxicam và piroxicam cho thấy có một tác dụng nhanh sau khi tiêm bắp (thời gian trung b́nh là 40 phút đối với meloxicam và 45 phút với piro-xicam), hiệu quả chung của cả hai trị liệu được cho điểm cao, và các giới hạn của cuộc sống hàng ngày giảm đáng kể ở đại đa số các người bệnh ở cả hai nhóm. Không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê về hiệu quả giữa meloxicam và piroxicam, các dung nạp tại chỗ và chung là tốt như nhau cho cả hai loại thuốc, nhưng ở các người bệnh dùng meloxicam có ít tác dụng phụ trên đường tiêu hoá hơn (1,2%) so với BN dùng piroxicam (7%). Sự cải thiện về mặt dung nạp của meloxicam có thể được giải thích bằng tính chọn lọc trên cyclooxygenase- 2 của thuốc.

Theo Curr-Med-Res-Opin. 1997; 14 (1); 29-38

Efficacy and tolerability of intramuscular and oral meloxicam in patients with acute lumbago: a comparison with intramuscular and oral piroxicam

BS Nguyễn Văn Phượng


RIBOFLAVIN LIỀU CAO LÀM GIẢM TẦN SUẤT CƠN ĐAU NHỨC NỬA ĐẦU


Vấn đề được đặt ra là liệu riboflavin liều cao có ngừa được những cơn đau nhức nửa đầu không-

Để trả lời câu hỏi này, các tác giả đă tiến hành thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược với 3 tháng theo dơi sau thời gian 1 tháng ban đầu làm cơ sở.

Thử nghiệm được tiến hành tại 6 trung tâm nghiên cứu ở Bỉ và vùng Grand Duchy của Luxem-bourg.

Tham gia thử nghiệm có 55 BN tuổi từ 18-65 (tuổi trung b́nh: 36, phụ nữ chiếm 78%) đă đáp ứng được các tiêu chuẩn của Hiệp Hội Nhức đầu Quốc tế về chứng đau nhức nửa đầu (migraine) có hoặc không kèm theo tiền triệu; có bệnh sử đau nhức nửa đầu - 1 năm, có 2-8 cơn đau nhức nửa đầu mỗi tháng, khoảng cách giữa các lần đau nhức nửa đầu - 5 ngày mỗi tháng, không dùng quá nhiều thuốc giảm đau hoặc ergotamin, và không có bệnh thực thể hoặc tâm thần nặng; và có sử dụng đầy đủ biện pháp tránh thai (riêng đối với phụ nữ).

Tất cả BN đều được nhận giả dược trong thời gian đầu 1 tháng. Nếu BN nào bị - 1 cơn đau nhức nửa đầu trong thời gian này th́ được cấp riboflavin uống (Riboflavinum D 2914A, Federa, Brussels), liều 400 mg/ngày (n=28) hoặc giả dược (Avicel RC 581, 850 mg, và b-carotene, 0,473 mg) (n=27). Việc cho thuốc được thực hiện ngẫu nhiên trong 10 hộp có đựng 10 gói thuốc, mỗi hộp gồm 5 cơ số điều trị riboflavin và 5 cơ số giả dược.

Các chỉ số chính để đánh giá là tỉ lệ BN có cải thiện được 50% tần suất cơn đau nhức nửa đầu (thay đổi tần suất cơn đau nhức nửa đầu ở tháng thứ 4 so với tháng đầu), số ngày đau nhức nửa đầu, và chỉ số đau nhức nửa đầu (số ngày đau nhức nửa đầu và độ nặng trung b́nh). Các dữ liệu về những cơn đau nửa đầu (độ nặng, buồn nôn và nôn, việc dùng thuốc, và thời gian kéo dài của cơn đau) đều được ghi lại trong hồ sơ y bạ của BN.

Kết quả cho thấy tỉ lệ BN có cải thiện - 50% trong nhóm riboflavin cao hơn so với nhóm giả dược về tần suất đau nhức nửa đầu (P = 0,01), về số ngày đau nhức nửa đầu (P = 0,002), và về chỉ số đau nhức nửa đầu (P = 0,01). Cả hai nhóm không khác nhau về số BN có tác dụng phụ (2 so với 1).

Các tác giả kết luận là những BN dùng riboflavin uống liều cao đă có cải thiện nhiều hơn về tần suất cơn đau nhức nửa đầu, số ngày đau nhức nửa đầu, và chỉ số đau nhức nửa đầu (phản ánh số ngày đau nhức đầu và độ nặng của cơn đau) so với những BN dùng giả dược.

B́nh Luận (BS Elizabeth Loder, Spaulding Rehabilitation Hospital, Boston, Massachusetts, USA)

Trong thập niên vừa qua, việc đưa sumatriptan và các chất đồng vận 5HT 1B/1D vào sử dụng lâm sàng đă tập trung sự chú ư vào vai tṛ của serotonin trong điều trị chứng đau nhức nửa đầu. Tuy nhiên, với sự hiểu biết ngày càng nhiều về một chuỗi phức hợp các biến cố tích lũy được về biểu hiện lâm sàng của chứng đau nhức nửa đầu đă gợi ư là chắc hẳn không chỉ có một phương cách để ngăn chặn căn bệnh này.

Những bằng chứng gợi ư có những bất thường về chuyển hóa năng lượng ở năo trong bệnh sinh của chứng đau nhức nửa đầu. Sự xuất hiện của các cơn nhức đầu giống đau nhức nửa đầu (migraine-like headaches) trong hội chứng MELAS (mito-chondrial encephalopathy, lactic acidosis, and stroke-like episodes) cũng được lưu ư. Các kết quả đầy khích lệ
từ việc sử dụng riboflavin liều cao (một tiền chất của flavoenzym liên quan đến sinh năng lượng ở năo) trong hội chứng MELAS đă khiến Schoenen và cs thử nghiệm dùng riboflavin trong chứng đau nhức nửa đầu, và các kết quả đạt được cũng thật ấn tượng.

Thử nghiệm kéo dài 4 tháng này, vốn tuân theo những hướng dẫn của Hiệp Hội Nhức đầu Quốc tế, đă cho thấy là riboflavin có tác dụng đáng kể trên tần suất đau nhức đầu, nhưng ít có tác dụng đối với độ nặng của chứng đau nhức đầu. Điều này cũng tương tự với những tác dụng được thấy với các thuốc pḥng ngừa đau khác và cho thấy là những thuốc này tác động bằng cách làm tăng ngưỡng nhức đầu, chứ không can thiệp vào các yếu tố chi phối đến độ nặng của chứng đau nhức đầu một khi cơn đau nhức đầu tái xuất hiện. Các lợi ích của riboflavin trở nên có ư nghĩa chỉ vào lúc được 4 tháng, điều này nhấn mạnh đến sự cần thiết phải kiên nhẫn và có những hồ sơ ghi chép cẩn thận nếu như những kết quả này được đem ra ứng dụng trong thực hành lâm sàng.

Tỉ suất thuận lợi giữa lợi ích và nguy cơ của riboflavin và độ dung nạp tuyệt vời của thuốc gợi ư là hiện nay thuốc có thể thích hợp đối với những BN có nhu cầu dự pḥng (những BN có - 2 cơn đau nhức đầu /tuần). Những nghiên cứu bổ sung sẽ giúp khẳng định các lợi ích, xác định rơ hơn nữa liều lượng tối ưu, và làm rơ các nhóm nhỏ BN có khả năng được hưởng lợi ích nhiều nhất của biện pháp trị liệu này.

Theo ACP Journal Club Sep Oct 1998, p 33

High dose riboflavin reduced the frequency of migraine headaches.

BS Lê Hùng Thái


ASPIRIN CÓ THỂ NGỪA CHỨNG ĐIẾC DO CHÍCH KHÁNG SINH


Aspirin có thể sẽ là một phương thuốc rẻ tiền, an toàn và đơn giản không ngờ để ngừa chứng điếc gây ra do chích kháng sinh aminoglycosid như Genta-mycin, Neomycin, Streptomycin..Đó là kết luận rút ra từ một công tŕnh nghiên cứu mới đây của các Bác sĩ Su-Hua Sha và Jochen Schacht thuộc Đại Học Michigan, Hoa Kỳ đăng trên tạp chí Laboratory Investigation.

Các nhà nghiên cứu đă phát hiện ra rằng các kháng sinh thuộc nhóm Aminoglycosid kể trên thường gắn kết với sắt (Fe) trong máu tạo thành các gốc tự do tác động lên tế bào thần kinh của tai trong, gây ra chứng lăng tai hay điếc hoàn toàn không thể hồi phục được.

Theo các nhà nghiên cứu này th́ có khoảng 22% BN ở các nước đang phát triển bị ảnh hưởng đến thính giác sau khi dùng các kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosid, vốn được sử dụng rộng răi v́ giá rẻ. Trên thực tế, hai phần ba số người bị câm-điếc ở miền Nam Trung Quốc có nguyên nhân liên quan đến việc dùng kháng sinh khi c̣n bé.

Để khắc phục t́nh trạng trên, các tác giả đă t́m ra phương pháp rẻ tiền mà hiệu quả: Thí nghiệm trên bọ (guinea pigs), bằng cách chích gentamycin hoặc gentamycin cùng với salicylat (một hoạt chất của Aspirin).

Kết quả là thính giác của những con bọ dùng gentamycin đơn thuần bị ảnh hưởng rất nặng, giảm ngưỡng nghe được, với cường độ âm thanh lên đến 70 decibel, trong khi các con chuột dùng gentamycin kết hợp với salicylat bị ảnh hưởng nhẹ hơn, cường độ âm thanh nghe được ở khoảng 20 decibel (Ở người, cường độ âm thanh nghe được trong khoảng 0-20 decibel).

Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy ở những con bọ dùng gentamycin đơn thuần, hầu như tất cả các tế bào lông ngoại vi của tai trong bị hủy hoại, trong khi ở bọ dùng gentamycin kết hợp với salicylat, tỷ lệ tế bào lông bị tổn hại chỉ có 20%.

Kết quả này đă chứng minh cho giả thuyết của các tác giả đưa ra là có thể dùng salicylat gắn với sắt trong máu để ngăn cản sự tạo thành các gốc tự do sắt-gentamycin, nhờ đó bảo vệ khỏi sự hủy hoại ống tai trong do kháng sinh này gây ra. Theo các nhà nghiên cứu th́ salicylat không ảnh hưởng đến khả năng kháng khuẩn của genta-mycin.

Theo công bố của Đại học Michigan th́ thí nghiệm lâm sàng của việc dùng kháng sinh kết hợp với aspirin hiện đang thực hiện ở bệnh viện Xi-an, Trung Quốc. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu th́ tin rằng liệu pháp này rất hứa hẹn sẽ là phương pháp hiệu quả và ít tốn kém để ngăn ngừa chứng điếc do thuốc gây ra trên thế giới.

Theo Reuters Health qua Internet 21.7.99

DS. Huỳnh văn Nhiệm


uống nước và nguy cơ ung thư bàng quang ở đàn ông


Nền tảng: Những nghiên cứu ở súc vật chứng tỏ đi tiểu nhiều lần th́ tỷ lệ nghịch với nồng độ chất có khả năng gây ung thư trong biểu mô hệ niệu. Ở người, gia tăng việc uống nước nhiều có thể làm giảm thời gian tiếp xúc giữa biểu mô hệ niệu với chất gây ung thư bằng cách pha loăng các chất chuyển hóa trong nước tiểu và làm đi tiểu nhiều lần. Dữ liệu về mối liên quan uống nhiều nước và nguy cơ ung thư bàng quang chưa được chứng minh.

Phương pháp: Đây là tiền cứu Health Profes-sionals Follow-up Study, khảo sát mối liên quan giữa tổng lượng nước uống và nguy cơ ung thư bàng quang trong thời gian 10 năm ở 47.909 đối tượng tham gia. Có 252 trường hợp mắc mới ung thư bàng quang trong thời gian theo dơi. Tổng lượng nước uống được tính từ bảng câu hỏi về 22 loại thức uống của 47.909 người tham gia, những người này không mắc bệnh ung thư vào lúc khởi đầu nghiên cứu (1986). Thực
hiện phân tích hồi quy logistic để điều chỉnh các các yếu tố nguy cơ nghi ngờ và đă biết của ung thư bàng quang.

Kết quả: Nghiên cứu này cho thấy tổng lượng nước uống hằng ngày có mối tương quan nghịch với nguy cơ ung thư bàng quang. Nguy cơ tương đối đa biến là 0,51 (95% KTC: 0,32-0,80) ở những người uống nước nhiều nhất (1/5 tổng số người uống >2531 ml/ngày) so với những người uống nước ít nhất (1/5 tổng số người uống <1290 ml/ngày). Uống nước nhiều đă góp phần làm giảm nguy cơ (nguy cơ tương đối 0,49 cho những người uống > 1440 ml/ngày so với người uống < 240 ml/ngày).

Kết luận: Uống nước nhiều làm giảm nguy cơ ung thư bàng quang ở đàn ông.

Theo N Engl J- Med 1999;340:1390-7

Fluid intake and the risk of bladder cancer in men.

BS Lê Anh Bá


Những thay đổi ở âm đạo và HOẠT DỘNG t̀nh dục

ở phụ nữ có bệnh sử ung thư cổ tử cung


Bối cảnh: Trên phụ nữ bị ung thư cổ tử cung, việc điều trị gây ra những thay đổi về h́nh thể giải phẫu và chức năng âm đạo. Tác động của những thay đổi đó trên chức năng t́nh dục và mức độ trục trặc cho phụ nữ, nếu có, chưa được biết rơ.

Phương pháp: Trong năm 1996 và 1997, các tác giả đă tiếp xúc với 332 phụ nữ có bệnh sử ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm (độ tuổi từ 26 đến 80 tuổi) đă được điều trị vào năm 1991 và 1992 tại bảy khoa ung bướu phụ nữ tại Thụy Điển và 489 phụ nữ không có bệnh sử ung thư (nhóm chứng) để nhờ họ trả lời một bảng câu hỏi dấu tên về những thay đổi âm đạo và chức năng t́nh dục.

Kết quả. Tổng số phụ nữ gửi về bảng câu hỏi được điền trả lời là 256 người có bệnh sử ung thư cổ tử cung và 350 người chứng. Có 167 người trong số 247 phụ nữ có bệnh sử ung thư (68%) và 236 người trong số 330 người chứng (72%) báo rằng họ vẫn giao hợp đều đặn qua đường âm đạo. Hai mươi sáu phần trăm số phụ nữ bị ung thư và 11% số đối chứng
báo rằng âm đạo không đủ chất nhờn để giao hợp, 26% phụ nữ bị ung thư và 3% số đối chứng báo cáo âm đạo ngắn, và 23% phụ nữ bị ung thư và 4 đối chứng báo rằng âm đạo không đủ độ đàn hồi. Hai mươi sáu phần trăm phụ nữ bị ung thư báo cáo bị khó chịu nhiều hoặc vừa phải v́ những thay đổi ở âm đạo, so với 8% phụ nữ ở nhóm chứng. Giao hợp đau cũng thường xảy ra hơn ở những phụ nữ bị ung thư cổ tử cung. Tần suất cực khoái và sự thỏa măn tương tự nhau ở hai nhóm, kiểu điều trị đă áp dụng ít ảnh hưởng, nếu không nói là không ảnh hưởng, đến tỉ lệ xảy ra những thay đổi đặc hiệu ở âm đạo.---

Kết luận: Những phụ nữ đă được điều trị ung thư cổ tử cung có những thay đổi ở âm đạo tồn tại dai dẳng, ảnh hưởng đến sinh hoạt t́nh dục và gây nên những trục trặc đáng kể.

Theo N Eng J Med 1999:340:1383-9:

-Vaginal changes and sexuality in women with a history of cervical cancer

BS Nguyễn Triển

 


tử vong liên quan đến hút mỡ


Nền tảng: Kỹ thuật hút mỡ phồng (tumescent liposuction) thực hiện bằng cách truyền vào dưới da một dung dịch có chứa lidocain, tiếp đến hút mỡ qua các ống cannun rất nhỏ. Mặc dầu liều lidocain lên đến 55 mg/kg thể trọng, nhưng ít biến chứng được báo cáo. Sau đây là 5 trường hợp tử vong có liên quan đến hút mỡ phồng.

Phương pháp: Năm trường hợp tử vong sau khi hút mỡ phồng trong số 48.527 trường hợp tử vong chuyển đến văn pḥng Office of Chief Medical Examiner của thành phố New York từ năm 1993 đến 1998. Hồi soát bệnh án và kết quả giải phẫu tử thi để xác định những yếu tố gây tử vong.

Kết quả: Năm bệnh nhân được dùng lidocain
liều từ 10 đến 40 mg/kg. Những thuốc khác cũng được- dùng như midazolam. Ba BN chết là do tụt huyết áp trong lúc mổ và nhịp tim chậm không xác định được nguyên nhân. Nồng độ lidocain trong máu sau khi chết trên 2 BN là 5,2 và 2 mg/L. Một BN chết do quá tải dịch truyền và một chết do huyết khối tĩnh mạch sâu ở tĩnh mạch bắp chân với huyết khối tắc mạch phổi sau khi hút mỡ phồng ở chân.

Kết luận: Hút mỡ phồng có thể gây tử vong, có thể là do ngộ độc lidocain hoặc do tương tác thuốc có liên quan đến lidocain.

Theo N Engl J Med 1999;340:1471-5

Deaths related to liposuction

BS Lê Anh Bá


Hội chứng Reye tại Hoa Kỳ từ năm 1981 đến 1997


Bối cảnh. Hội chứng Reye là một thực thể bệnh lư lâm sàng được mô tả lần đầu tiên vào năm 1963 tại Úc. Đây là một hội chứng được đặc trưng bởi một bệnh lư năo và thoái hóa mỡ ở gan, thường xảy ra sau cúm hoặc thủy đậu. Từ năm 1980, đă có những cảnh báo về việc sử dụng salicylat trên trẻ em khi bị nhiễm siêu vi v́ nguy cơ xảy ra hộ- chứng Reye.

Phương pháp: Để mô tả h́nh thái dịch tễ hội chứng Reye tại Hoa Kỳ, các đặc trưng của BN và các yếu tố nguy cơ- gây hậu quả xấu, các tác giả đă phân tích số liệu giám sát dịch tễ quốc gia được thu thập từ tháng 12/1980 đến tháng 11/1997. Hệ thống giám sát dựa trên cơ sở tự nguyện báo cáo bằng một mẫu bệnh án chuẩn.

Kết quả: Từ tháng 12/1980 đến tháng 11/1997, có 1207 trường hợp hội chứng Reye được báo cáo trên BN dưới 18 tuổi. Trong số dữ liệu có thể phân tích được về chủng tộc và giới tính, 93% là trẻ da trắng và 52% là trẻ gái. Số trường hợp hội chứng Reye được báo cáo giảm nhanh sau khi có những báo cáo về sự liên kết giựa hội chứng này với việc sử dụng aspirin. Sau một đỉnh bệnh gồm 555 trường
hợp vào năm 1980, từ năm 1987 trở đi mỗi năm có không quá 36 trường hợp. 93% số trẻ có bệnh sử bệnh được báo cáo, và 82% có thể phát hiện được nồng độ salicylat trong máu. Tỉ lệ tử vong chung là 31%. Tỉ lệ tử vong cao nhất ở trẻ dưới 5 tuổi (nguy cơ tương đối 1,8; khoảng tin cậy 95% 1,5-2,1) và ở những trẻ có nồng độ ammonia huyết thanh trên 45
mg/dL (26 mmol/L) (nguy cơ tương đối 3,4, KTC 95% 1,9-6,2).

Kết luận: Từ năm 1980, sự kết hợp giữa hội chứng Reye và sử dụng aspirin khi bị thủy đậu hoặc bị bệnh dạng cúm được báo cáo lần đầu tiên, số trường hợp trẻ em bị hội chứng Reye đă giảm rơ rệt. Hiện nay, hội chứng Reye rất hiếm gặp, bất cứ trẻ nào bị nghi ngờ mắc phải rối loạn bệnh lư này cũng cần được thăm khám kỹ càng để loại trừ những rối loạn chuyển hóa bẩm sinh có thể điều trị được, vốn rất giống hội chứng Reye.

Theo N Eng J Med 1999;340:1337-82

Reye's syndrome in the United States from 1981 through 1997

BS Nguyễn Triển


CÁC PHẢN ỨNG PHỤ CỦA ISOTRETINOIN


Cục Kiểm soát Dược Phẩm Anh Quốc đă nhận được 841 báo cáo về các phản ứng phụ liên quan đến việc sử dụng isotretinoin từ khi dược phẩm này được cho phép lưu hành năm 1982.

Hầu hết các phản ứng là những biểu hiện rối loạn ở da, cơ xương, tiêu hoá, thị giác, thần kinh như nổi mẫn, khô da, và nhạy cảm với ánh sáng (18%), đau cơ hay đau khớp (11%), viêm môi, đau bụng và khô miệng (10%), viêm kết mạc, khô mắt hay nh́n không rơ (7%), đau nửa đầu, co giật (7%), và các phản ứng về tâm thần kể cả trầm cảm, tự sát hay có ư định tự sát (5%).

Một thông tin khác từ Ủ- Ban Tư Vấn về các phản ứng phụ của Thuốc ở Úc cho biết từ năm 1985 đến 1998, Ủ- Ban đă nhận được 129 báo cáo về các phản ứng phụ của Isotretinoin, trong đó có 12 bản báo cáo về chứng trầm cảm xảy ra ở BN từ 15-40 tuổi, tất cả đều dùng isotretinoin để trị mụn trứng cá. 10 trường hợp bị trầm cảm ở giai đoạn đầu, 2 trường hợp nặng và 4 trường hợp biểu hiện loạn tâm thần. Ba BN có ư định tự sát, 2 đă tự sát trong đó có một trường hợp tử vong.

Các thầy thuốc cũng được nhắc nhở là isotretinoin là thuốc có thể gây quái thai, nên chống chỉ định cho phụ nữ trong tuổi sinh đẻ, trừ khi các điều kiện sau đây được tuân thủ:

-         Isotretinoin chỉ được dùng trong trường hợp bị mụn trứng cá nặng, có thể nang biến dạng, đă đề kháng với các phương pháp điều trị chuẩn.

-         BN không mang thai khi bắt đầu điều trị và trong ṿng 2 tuần trước khi điều trị phải được thử thai để chắc chắn là không có thai.

-         Các biện pháp tránh thai hiệu quả phải được áp dụng ít nhất 4 tuần trước khi điều trị, trong suốt quá tŕnh điều trị và ít nhất 4 tuần sau khi ngưng điều trị bằng isotretinoin.

Isotretinoin chỉ được ghi toa hoặc giám sát bởi một bác sĩ chuyên khoa hoặc một bác sĩ da học. Bác sĩ điều trị phải giải thích rơ ràng những điều cần thận trọng cho BN và phải chắc chắn rằng BN hiểu rơ các nguy cơ và những điều cần phải lưu ư.

Theo WHO Drug Information V12, N4,1998

Isotretinoin: adverse reaction profile

DS Huỳnh Văn Nhiệm


UNG THƯ BUỒNG TRỨNG VÀ LIỆU PHÁP THAY THẾ HOÓC-MÔN SAU MĂN KINH


Liệu pháp thay thế hoóc-môn sau măn kinh (LTHSM) có làm gia tăng nguy cơ bị ung thư biểu mô buồng trứng hay không-

Để trả lời câu hỏi này, các tác giả đă tiến hành một nghiên cứu đa phân tích dựa trên nguồn dữ liệu của MEDLINE (từ 1966 đến tháng 6/1997) bằng cách tra cứu các từ sau đây: tăng sản buồng trứng, ung thư buồng trứng, liệu pháp thay thế estrogen, liệu pháp thay thế hoóc-môn, các estrogen sau măn kinh, các estrogen không có tác dụng ngừa thai. Các thư mục của các bài thích hợp sẽ được đưa cho các chuyên gia xem xét.

Chọn các nghiên cứu trong MEDLINE nếu đáp ứng được các yêu cầu như: đánh giá sự liên quan giữa LTHSM và sự- phát triển của ung thư buồng trứng ở mức ranh giới hoặc đă xâm lấn, các phụ nữ bị ung thư buồng trứng được ghép cặp với các phụ nữ đối chứng dựa trên độ tuổi, các kết quả được điều chỉnh theo tuổi, dữ liệu có thể phân biệt được việc sử dụng hoóc-môn trước và sau măn kinh, và loại trừ được các phụ nữ đă cắt bỏ ṿi-buồng trứng. Các dữ liệu được xem xét về mặt thiết kế nghiên cứu, nguồn phụ nữ để đối chứng, mô học của bướu buồng trứng, việc sử dụng LTHSM (estrogen đơn thuần hoặc estrogen kết hợp với progestin), thời gian sử dụng LTHSM (<1, 1-5, 6-10, hoặc >10 năm), và loại ung thư (ung thư buồng trứng, các bướu buồng trứng ranh giới với ung thư, hoặc cả hai).

Kết quả cho thấy có 11 bài báo bao gồm các dữ liệu từ 21 nghiên cứu đáp ứng được các tiêu chuẩn để đưa vào nghiên cứu này. Có 10 nghiên cứu đánh giá ung thư xâm lấn buồng trứng (4392 phụ nữ bị ung thư buồng trứng). Tổng phân tích cho thấy những phụ nữ đă từng dùng và dùng trên 10 năm LTHSM đều có liên quan với gia tăng nguy cơ mắc ung thư xâm lấn buồng trứng. Các nghiên cứu dựa vào bệnh viện và cộng đồng cũng cho những kết quả tương tự. Ung thư buồng trứng dạng xâm lấn hoặc ranh giới chỉ liên quan với việc đă từng dùng LTHSM.


Các tác giả kết luận là LTHSM, đặc biệt khi dùng thời gian dài, có thể liên quan với gia tăng nguy cơ ung thư biểu mô buồng trứng dạng xâm lấn.

B́nh luận (BS. Holly L. Thacker, Ceveland Clinic Foundation, Ohio, USA)

Việc đánh giá LTHSM dự pḥng đă tập trung vào việc pḥng ngừa bệnh loăng xương, bệnh tim mạch, và nguy cơ ung thư vú. Tái phân tích các dữ liệu của 51 công tŕnh nghiên cứu dịch tễ về phụ nữ bị ung thư vú đă hậu thuẫn ư kiến cho rằng nguy cơ ung thư vú hơi tăng cao ở phụ nữ dùng LTHSM kéo dài.

Bất cứ tiềm năng gia tăng nguy cơ ung thư buồng trứng nào đi kèm với sử dụng LTHSM kéo dài đều nên được quan tâm bởi v́ việc tầm soát và điều trị ung thư buồng trứng th́ kém hiệu quả hơn so với ung thư vú. Công tŕnh phân tích này liên quan đến 11 bài báo (21 nghiên cứu) có thể đă bị hạn chế do những sai số về xuất bản (publication bias) và sai số về giám sát. Nó không chứng tỏ được mối liên hệ nhân quả giữa ung thư buồng trứng và LTHSM. Điểm quan trọng cần lưu ư là trong những nghiên cứu thuần tập, LTHSM có liên quan với giảm tử vong do tất cả nguyên nhân. Lợi ích bảo vệ chung của LTHSM, mặc dù có hơi yếu, vẫn c̣n tồn tại sau 10 năm sử dụng LTHSM. Tuy nhiên, những nhận định tích cực này có lẽ là do các phụ nữ có sức khoẻ tốt hơn hơn dùng LTHSM- chứ không phải do bản thân việc sử dụng LTHSM.

Nghiên cứu này khiến chúng ta quan tâm đến việc xem xét những t́nh huống nghiêm trọng khác ở phụ nữ có thể đă được cải thiện nhờ LTHSM kéo dài, chẳng hạn như khám phá mới đây về giảm nguy cơ ung thư đại tràng. Các nhà lâm sàng nên bàn luận về các lợi ích dự pḥng và các mối nguy tiềm tàng của LTHSM với các phụ nữ sau măn kinh.

Theo ACP Journal Club Jan/Feb 1999, p 23: Review: Postmenopausal hormone replacement therapy is associated with increased invasive ovarian cancer, especially after long-term use.

BS Lê Hùng Thái


 

[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net