Vô sinh
Vô sinh được định nghĩa là một cặp vợ
chồng sau khi lập gia đ́nh một năm, không sử dụng một biện pháp tránh thai nào,
mà vẫn không thể có thai và sinh con được. Thường đến khi đó, người ta mới bắt
đầu thăm ḍ nguyên nhân chậm có thai.
Ước tính chung, có khoảng 10% các cặp vợ
chồng là có vấn đề về vô sinh. Theo FIGO 1990, vô sinh nguyên phát chiếm khoảng
3%, tuy nhiên các yếu tố gây vô sinh thứ phát có thể làm tỉ lệ này tăng lên đến
30%. Tỷ lệ vô sinh thay đổi tùy theo xă hội. Ở Việt Nam, theo những số liệu điều
tra dân số từ những năm 80, có khoảng 7 đến 10% các cặp vợ chồng trong tuổi sinh
đẻ bị vô sinh. Tỷ lệ vô sinh ngày càng tăng cao v́ người phụ nữ ngày càng lập
gia đ́nh muộn hơn, trong khi đó tuổi dễ có thai nhất là từ 20 đến 24 tuổi, quá
35 tuổi người phụ nữ khó có thai hơn nhiều.
Vô sinh là một bi kịch trong đời sống của
người phụ nữ. Mặc dù vấn đề này không ảnh hưởng đến tính mạng hay thể chất con
người. Người phụ nữ vô sinh phải chịu một tổn thương rất lớn về tâm lư khi không
thể thực hiện được thiên chức làm mẹ, ngay cả khi nguyên nhân vô sinh thuộc về
người chồng. Quyền được làm mẹ là quyền thiêng liêng của mỗi người phụ nữ bất
chấp chủng tộc và nơi sinh sống.
Tại Việt Nam, do một số điều kiện khách
quan và chủ quan trong nhiều năm qua, vấn đề hiếm muộn chưa được quan tâm và
đánh giá đúng mức, nhưng ngày càng trở thành vấn đề lớn ảnh hưởng đến cuộc sống
của nhiều gia đ́nh.
Vô sinh c̣n là một trong những vấn đề hàng
đầu trong chiến lược về Sức khỏe sinh sản của Tổ chức Y tế Thế giới. Dự pḥng và
điều trị vô sinh hoàn toàn không đối lập với Kế hoạch hóa gia đ́nh (KHHGĐ) v́
mục đích cuối cùng của chương tŕnh KHHGĐ là đem lại cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc
cho mỗi gia đ́nh. Trên quan điểm này, việc dự pḥng và điều trị vô sinh được xem
là một bộ phận của chương tŕnh KHHGĐ.
Nguyên nhân:
Trong các nguyên nhân dẫn đến vô sinh,
nguyên nhân do ṿi trứng chiếm tỷ lệ lớn v́ tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục cao,
có thể là do phong tục tập quán, điều kiện khí hậu và thói quen sinh hoạt.. Mặt
khác, việc nạo phá thai và đặt dụng cụ tử cung không đảm bảo vô trùng cũng là
những yếu tố góp phần là gia tăng tỉ lệ vô sinh thứ phát.
Theo số liệu năm 1996, tại BV Phụ sản Từ
Dũ, trong số 11.481 cặp vợ chồng đến khám và điều trị vô sinh, có 33,4% trường
hợp vợ bị tắc ṿi trứng, 22,6% trường hợp chồng có tinh trùng yếu hoặc ít, 3,8%
vô sinh không rơ nguyên nhân, không đáp ứng với các phương pháp điều trị hiện
tại. Đa số các trường hợp này cần can thiệp bằng thụ tinh trong ống nghiệm để họ
có cơ hội có con.
Bảng 1:Các nguyên nhân vô sinh thường gặp
tại BV Từ Dũ, 1997
|
Vô sinh do nam
|
-khoảng 30 -40%
|
|
Không rụng trứng
|
-khoảng 20 -40%, tùy theo lứa tuổi
|
|
Ṿi trứng tắc nghẽn
|
-khoảng 30 -40%
|
|
Lạc nội mạc tử cung
|
-khoảng 10 -20%
|
|
Do cổ tử cung
|
-khoảng 5%
|
|
Không rơ nguyên nhân
|
-khoảng 10%
|
Ghi chú: Thường gặp các trường hợp có
nhiều hơn một nguyên nhân.
Thụ tinh trong ống nghiệm
Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) (In
vitro fertilization) là phương pháp cho giao tử của chồng (tinh trùng) và giao
tử của vợ (trứng) gặp nhau và thụ tinh bên ngoài cơ thể, sau đó chuyển hợp tử
hoặc phôi vào buồng tử cung người mẹ, thường được thực hiện vào ngày thứ 2 sau
khi cấy.
Việc thụ tinh giữa trứng và tinh trùng
người bên ngoài cơ thể được báo cáo lần đầu tiên vào năm 1969 do R.G. Edwards.
Cũng chính Edwards và Steptoe đă báo cáo trường hợp TTTON đầu tiên trên thế giới
ra đời năm 1978 ở Anh trên một bệnh nhân bị tắt ṿi trứng hai bên. Sau đó,
phương pháp này lần lượt được thực hiện thành công ở Úc, Mỹ, Đức, Pháp... Vào
lúc này, TTTON được thực hiện ở chu kỳ tự nhiên, không dùng thuốc. Xác định thời
điểm chọc hút trứng bằng cách định lượng estradiol và LH và được thực hiện qua
nội soi trước thời điểm dự đoán rụng trứng.
Năm 1981, Alan Trouson thành công trong
việc sử dụng các thuốc kích thích buồng trứng phối hợp với TTTON làm tăng số
trứng có được trong mỗi chu kỳ và giúp dự đoán thời điểm rụng trứng dễ dàng hơn
(Trouson và cộng sự 1981). Điều này làm tăng tỉ lệ thành công của các chu kỳ
TTTON lên rất nhiều. Từ đó đă có nhiều cải tiến trong phác đồ kích thích buồng
trứng giúp tăng số nang noăn trưởng thành và tạo đáp ứng thuận lợi ở nội mạc tử
cung để làm tổ cho phôi.
Ban đầu, TTTON chỉ thực hiện cho các
trường hợp bị tắt ṿi trứng, sau đó được mở rộng cho các chỉ định khác và đạt
được nhiều thành công. Năm 1980, TTTON thành công trên một trường hợp vô sinh
không rơ nguyên nhân (Lopata và cộng sự 1980). Năm 1983, một trường hợp vô sinh
do lạc nội mạc đơn thuần được báo cáo thành công với TTTON (Mahadevan và cộng sự
1983).
Việc chọc hút trứng đầu tiên được thực
hiện qua nội soi bụng. Năm 1981, Lenz và cộng sự thực hiện hút trứng dưới hướng
dẫn của siêu âm bụng. Năm 1984, Dellenbach và cộng sự thực hiện kỹ thuật chọc
hút trứng qua ngă âm đạo với sự hướng dẫn của siêu âm bụng. Đến năm 1985,
Wikland và cộng sự chọc hút trứng với kim gắn đầu ḍ âm đạo. Từ đó, phương pháp
này được áp dụng rộng răi và việc chọc hút trứng trở thành một thủ thuật đơn
giản, ít biến chứng, càng mở rộng khả năng ứng dụng của TTTON.
Tuy nhiên, TTTON vẫn c̣n bó tay với những
trường hợp vô sinh do nam nặng, thiểu tinh nặng, hay bất thường về thụ tinh. Năm
1991, Ng và cộng sự báo cáo trường hợp SUZI (Sub-Zona Insemination) thành công
đầu tiên trên thế giới bằng cách tiêm nhiều tinh trùng vào khoang quanh noăn.
Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương
trứng (Intra-Cytoplasmic Sperm Injection- ICSI) ra đời là một cuộc cách mạng
trong điều trị vô sinh do nam giới và những bất thường về thụ tinh. Kỹ thuật
ICSI, tiêm một tinh trùng trực tiếp vào bào tương trứng, được báo cáo thành công
lần đầu tiên năm 1992 tại Bỉ (Palermo và cộng sự, 1992) càng thúc đẩy sự phát
triển của kỹ thuật này, do kết quả ban đầu rất khả quan trong khoảng 8 năm gần
đây.
ICSI giúp làm tăng tỉ lệ thành công, trong
khi không ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi (Palermo và cộng sự, 1993). Một
báo cáo c̣n cho thấy phôi phát triển từ kỹ thuật ICSI, kỹ thuật ICSI có thể có
tỉ lệ làm tổ cao hơn phôi b́nh thường (Van Steirteghem và cộng sự 1993). Theo đà
phát triển nhanh về số lượng cũng như về chất lượng của kỹ thuật TTTON trên toàn
thế giới, kỹ thuật ICSI ra đời từ năm 1992 đă ngày càng được áp dụng rộng răi,
như một biện pháp hỗ trợ cho việc thụ tinh của trừng và tinh trùng. ICSI cho đến
nay đă trở thành kỹ thuật phổ biến, không thể thiếu ở hầu hết các trung tâm
TTTON trên thế giới.
Hiện nay kỹ thuật ICSI đă được ứng dụng
tại hầu hết các trung tâm TTTON trên thế giới. Ở nhiều trung tâm ICSI đă chiếm
hơn 50% các trường hợp TTTON. Tại Đông Nam Á, ICSI đă được báo cáo thành công
vào năm 1993 ở Singapore (đầu tiên ở Châu Á) và đă trở thành kỹ thuật phổ biến ở
các trung tâm TTTON trong khu vực như Singapore, Thailand.
TTTON đă trở thành phương pháp điều trị
phổ biến ở hầu hết các trung tâm Sản Phụ khoa trên thế giới. Người ta ước tính
số trẻ sinh ra bằng phương pháp TTTON cho đến nay đă vượt qua con số triệu. Chỉ
riêng ở Mỹ, đă có trên 300.000 trẻ sinh ra nhờ TTTON, năm 1995 đă có 59.142
trường hợp TTTON(4) và năm 1996 có đến 64.036 trường hợp.(5)
Ở Pháp, trong năm 1993 có 23.025 trường hợp TTTON.
Theo một thống kê chưa đầy đủ của Hội Phụ
Sản Châu Á - Châu Đại Dương, trong năm 1992, đă có 47.995 trường hợp TTTON đă
được thực hiện trong vùng (Các con số này cho đến nay c̣n tăng hơn nhiều). Ở khu
vực Đông Nam Á, TTTON đă được bắt đầu từ nhiều năm nay ở Singapore (1983),
Malaysia, Indonesia, Thailand, Philipines.
Thụ tinh trong ống nghiệm ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trước thời điểm tháng 8 năm
1997, kỹ thuật TTTON vẫn c̣n làm một vấn đề nằm trong quá tŕnh chuẩn bị của các
trung tâm chuyên ngành Phụ Sản lớn Việt Nam. Việc thực hiện kỹ thuật này cần sự
hỗ trợ đồng bộ và đ̣i hỏi sự phát triển- của một số kỹ thuật và chuyên ngành
khác có liên quan như: xét nghiệm nội tiết, kỹ thuật nội soi phẫu thuật, xét
nghiệm và xử lư tinh trùng, tế bào di truyền, chẩn đoán tiền sản, chăm sóc sơ
sinh cực non.
Từ tháng 8 năm 1997, BV Phụ Sản Từ Dũ đă
bắt đầu tiến hành trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên ở Việt Nam.
Đến tháng 4 năm 1999, BV Hùng Vương, TPHCM
cũng đă bắt đầu triển khai chương tŕnh TTTON. Hiện nay, Viện Bảo vệ Bà Mẹ trẻ
em và trường Đại học Y Hà Nội cũng đang tiến xúc tiến thành lập trung tâm TTTON,
theo kế hoạch sẽ bắt đầu triển khai hoạt động vào cuối năm nay.
Bảng 2: Sự phát triển của Chương tŕnh TTTON tại BV. Phụ
Sản Từ Dũ
|
19/8/1997
|
Bộ Y tế kư quyết định cho phép thực hiện TTTON tại Việt
Nam.
|
|
8/1997
|
Thực hiện TTTON đầu tiên tại Việt Nam
|
|
30/4/1998
|
3 bé TTTON đầu tiên ở Việt Nam ra đời
|
|
5/1998
|
Thực hiện tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) đầu
tiên ở Việt Nam
|
|
8/1998
|
Cặp song sinh 1 trai - 1 gái do TTTON đầu tiên ra đời ở
Việt Nam
|
|
2/1998
|
Em bé ICSI đầu tiên ở Việt Nam ra đời
|
|
4/1999
|
Khóa học đầu tiên toàn quốc về "Các kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản" tổ chức tại BV Phụ Sản Từ Dũ
|
|
-6/1999
|
- Thai lâm sàng trường hợp sử dụng rFSH (Puregon) đầu tiên
tại Việt Nam
|
|
|
- Thai lâm sàng chuyển phôi ngày thứ 3 đầu tiên ở Việt Nam
|
|
|
- Nuôi cấy được phôi người đến giai đoạn phôi nang
(blastocyst) với môi trường chuyển tiếp (sequential media) đầu tiên ở Việt
Nam
|
|
|
- Thai lâm sàng trường hợp TTTON cho trứng (oocyte
donation) đầu tiên ở Việt Nam.
|
Bảng 3: Một số kết quả của chương tŕnh TTTON tại BV Phụ
Sản Từ Dũ trong 2 năm đầu
|
|
8/1997 - 11/1998
|
4/1999 - 6/1999
|
|
Số chọc hút trứng
|
279
|
66
|
|
Tuổi trung b́nh (năm)
|
35,9
|
36,5
|
|
Thời gian vô sinh (năm)
|
9,1
|
9,9
|
|
Số chuyển phôi
|
256
|
64
|
|
HCG (+)
|
46 (16,5%)
|
23 (34,9%)
|
|
Thai lâm sàng/ chọc hút
|
13,3% (37/279)
|
(30,0%) (20/66)
|
|
----------- / chuyển phôi
|
14,5% (37/256)
|
31,2% (20/64)
|
|
So sánh với thế giới
|
Trên mức trung b́nh của toàn thế giới(4)
|
Tương đương với những nước mạnh trên thế giới về TTTON(5)
|
Kỹ thuật TTTON ở Việt Nam được thực hiện
khá muộn so với các trên thế giới và trong khu vực, tuy nhiên đang phát triển
nhanh tại Việt Nam do đáp ứng đúng nhu cầu về điều trị của nhiều bệnh nhân trong
cả nước. Hy vọng sự phát triển trong lănh vực này, cùng với các lănh vực khác
của Y học Việt Nam, sẽ góp phần giúp ngành Y tế Việt Nam từng bước theo kịp các
tiến bộ trên thế giới và trong khu vực.
SUMMARY
IN VITRO FERTILIZATION
The history of the IVF development in the
world was reviewed with the specific events through years.
The development of IVF in Viet Nam has
recently been started and extended countrywide. Some of the successes of the
first IVF program in Viet Nam are also recorded.
Tài liệu tham khảo
1. R.G. Edwards, S.A. Brody. History and Ethics of
Assisted Human Conception in "Principals and Practice of Assisted Human
Reproduction". W.B. Sauders Company;1995;17-47.
2. T. Rabe, K. Diedrich, I Eberhardt et al. In Vitro
Fertilization in "Manual on Assisted Reproduction". Spinger;1996; 252-311.
3. B. Hedon, C. Hedon. Histoire des traitements de la
stérilité. J Ob Gyn; 1993,1: 23-29.
4. 1995 ART world report. Abstract from 10th World Congess
on IVF and Assisted Reproduction; 1997; 256S.
5. 1996 Assisted Reproductive Technology Success rate
Report. American Society for Reproductive Medicine; 1999.
6. Nguyễn Thị Ngọc Phượng. Tổng quan về Hiếm muộn - Vô
sinh trong "Bài giảng lớp Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản" BV Phụ Sản Từ Dũ; 1999;1-14.
7. Nguyễn Thị Ngọc Phượng và cộng sự. Thụ tinh trong ống
nghiệm. Báo cáo tại Hội nghị Phụ Sản toàn quốc 16-17/7/1999 tại TPHCM.