Giới thiệu
Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON - in
vitro fertilization) với trứng của người cho lần đầu tiên trên thế giới thành
công vào năm 1984.(1). Từ đó, kỹ thuật cho trứng (oocyte donation)
ngày càng phát triển rộng răi và trở thành một phương pháp điều trị thường qui
tại các trung tâm TTTON trên thế giới.
Ban đầu, kỹ thuật cho trứng được áp dụng
cho những trường hợp suy buồng trứng sớm. Suy buồng trứng sớm (premature ovarian
failure) là t́nh trạng vô kinh, giảm estrogen, tăng gona-dotropin trước 40 tuổi,
tần suất là 1% phụ nữ trước 40 tuổi.(2) Sau đó, người ta bắt đầu mở
rộng chỉ định cho những trường hợp khác như bất thường nhiễm sắc thể ở người mẹ,
măn kinh sinh lư, buồng trứng kém đáp ứng với kích thích, ở phụ nữ thất bại với
TTTON nhiều lần.
Chương tŕnh TTTON ở BV Từ Dũ bắt đầu năm
1997. Do hoàn cảnh khách quan, số BN lớn tuổi chiếm tỉ lệ khá cao, buồng trứng
bắt đầu suy yếu hoặc đă vào giai đoạn tiền măn kinh và quanh măn kinh. V́ vậy
yêu cầu áp dụng TTTON với trứng của người cho là rất lớn.
Trong kỹ thuật cho trứng, người cho trứng
sẽ được dùng thuốc kích thích buồng trứng, chọc hút trứng qua siêu âm đầu ḍ âm
đạo. Người nhận trứng sẽ được chuẩn bị nội mạc tử cung để đón nhận phôi h́nh
thành sau khi cấy trứng của người cho và tinh trùng của người nhận trong pḥng
thí nghiệm. Tuổi người cho trứng không quá 35. Người nhận lớn tuổi nhất có thai
sau khi nhận trứng là 63 tuổi, được báo cáo ở Mỹ năm 1997.(3)
Chuẩn bị nội mạc tử cung người nhận là
khâu quyết định thành công của kỹ thuật cho trứng. Hiện có nhiều phác đồ chuẩn
bị tử cung người cho được áp dụng trên thế giới. Tùy theo t́nh trạng hoạt động
của buồng trứng mà các phác đồ chuẩn bị có thể khác nhau.(4) Đối với
người c̣n chu kỳ kinh nguyệt, sử dụng phác đồ đơn giản estradiol và progesteron.
Buồng trứng c̣n hoạt động, thường phải phối hợp GnRH analogue với estrogen và
progesteron. Tuy nhiên liều lượng và cách điều chỉnh thay đổi tùy theo trung
tâm.(4,5)
Đồng thời với việc triển khai thành công
kỹ thuật TTTON ở Việt Nam, việc áp dụng sớm kỹ thuật cho trứng sẽ giải quyết yêu
cầu rất lớn từ BN và từng bước theo kịp các tiến bộ trên thế giới trong lănh vực
này hiện nay. Ngày 25/9/1998, Bộ Y tế đă gửi Công văn số 6680/YT-BVBMTE cho phép
BV Phụ sản Từ Dũ tiến hành trường hợp cho trứng đầu tiên.
TRƯỜNG HỢP CHO TRỨNG ĐẦU TIÊN tại Việt Nam
Tóm tắt bệnh sử
BN B.T.L.H, 40 tuổi, lập gia đ́nh năm
1987. BN bị thai chết lưu 1 lần với tuổi thai 3 tháng, vào năm 1989. Đến năm
1993, BN có u nang buồng trứng bên trái và được mổ bóc u nang buồng trứng. Sau
mổ, BN bắt đầu có triệu chứng vô kinh. Sau đó BN đă khám và điều trị vô sinh tại
nhiều cơ sở điều trị từ năm 1993 đến năm 1997 với các phác đồ sử dụng nội tiết
tạo ṿng kinh nhân tạo và kích thích buồng trứng(!).
Năm 1997, BN đă được chẩn đoán là suy
buồng trứng sớm. Xét nghiệm nội tiết thực hiện tại BV. Từ Dũ ngày 22/7/1998 cho
kết quả: FSH 42mIU/ml, LH 20mIU/ml, E 25pg/ml. Đây là kết quả nội tiết điển h́nh
cho t́nh trạng suy buồng trứng sớm. Xét nghiệm tinh dịch đồ của chồng cho thấy
mật độ tinh trùng là 250 triệu/ml với tỉ lệ tinh trùng di động có tiến tới là
40%. BN nữ này được chọn áp dụng kỹ thuật cho trứng.
Chuẩn bị người cho trứng
Chị N.T.P, 35 tuổi, PARA 2002. Các xét
nghiệm nội tiết sinh sản nằm trong giới hạn b́nh thường. Chị được kích thích
buồng trứng với phác đồ dài: (down-regulation) tiêm dưới da Triptorelin (GnRHa)
0,1mg/ngày từ ngày 21 của chu kỳ (tổng cộng 14 ống); kích thích buồng trứng với
tiêm bắp FSH 225 IU/ngày và Triptorelin 0,05mg/ngày, tiêm dưới da; kích thích
rụng trứng với hCG (Pregnyl 5000 IU) 1 ống tiêm bắp vào ngày kích thích thứ 12.
Vào ngày tiêm hCG, siêu âm theo dơi thấy 8 nang kích thước > 14 mm ở 2 buồng
trứng.
Tiến hành chọc hút trứng qua ngă âm đạo
dưới sự hướng dẫn của siêu âm đầu ḍ âm đạo 35 giờ 30 phút sau tiêm hCG tại
pḥng TTTON. -
Chuẩn bị người nhận trứng
Chuẩn bị nội mạc tử cung người nhận trứng
theo phác đồ đơn giản với micronized estradiol (Provames 2mg), liều 6 mg mỗi
ngày, chia làm 3 lần. BN bắt đầu sử dụng estradiol từ ngày bắt đầu kích thích
buồng trứng ở người cho trứng. Sau đó, BN được đặt âm đạo progesteron
(Utrogestan) từ ngày chọc hút trứng của người cho (liều 1200 mg mỗi ngày, chia
làm 3 lần). Nồng độ estradiol huyết thanh BN là 516 pg/ml và nồng độ
progesterone huyết thanh là 0,4ng/ml vào ngày dùng thuốc thứ 11. Khảo sát nội
mạc tử cung người nhận trứng vào ngày tiêm hCG ở người cho trứng, ghi nhận độ
dày là 9,4mm, có h́nh ảnh hạt cà phê điển h́nh.
Thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển phôi
Vào ngày 29/5/1999, số trứng chọc hút là
7. Trứng sau khi chọc hút được thụ tinh in vitro với tinh trùng của chồng người
nhận (ngày 0). Kiểm tra thụ tinh vào ngày thứ nhất, thấy có 6 trứng được thụ
tinh. Phôi theo dơi vào ngày thứ hai có chất lượng trung b́nh. Giao tử và phôi
được cấy trong môi trường EBSS cải tiến (Ferticult IVF - Fertipro, Bỉ).
-Ngày 2 sau khi thụ tinh (31/5/1999): phôi
được chuyển vào buồng tử cung người nhận, trong đó có 2 phôi chất lượng tốt.
Việc chuyển phôi có nhiều khó khăn do tử cung bị gập trước, lỗ trong cổ tử cung
siết chặt.
BN nằm nghỉ tại viện trong 6 giờ, sau đó
có thể về nhà. Sau khi chuyển phôi, duy tŕ sử dụng nội tiết cho đến khi tuổi
thai đạt 14 tuần (khi có thai).
Kết quả
Tiến hành thử thai bằng định lượng
b-hCG huyết tương ngày
14/6/1999 (ngày 16 sau thụ tinh) bằng phương pháp EIA với máy tự động, cho thấy
kết quả dương tính rơ với nồ-g độ
b-hCG huyết tương là
936 mIU/ml. BN được tiếp tục duy tŕ dùng nội tiết và hẹn tái khám siêu âm thai
3 tuần sau. Kết quả siêu âm ngày 10/7/1999 (ngày 40 sau thụ tinh) thấy 1 thai
sống trong tử cung # 7 tuần. Cho tới thời điểm viết bài (đầu tháng 8/1999), thai
kỳ vẫn diễn tiến b́nh thường.
BÀN LUẬN
Suy buồng trứng sớm thường do 2 cơ chế:(1)
không c̣n nang noăn tại buồng trứng do thiếu hụt từ đầu các nang noăn nguyên
phát hoặc quá tŕnh tiêu hủy (atresia) các nang noăn diễn ra quá mạnh; (2) rối
loạn chức năng các nang noăn.(2) Ở BN này, có thể do tăng quá tŕnh
tiêu hủy các nang noăn bởi tác động của phẫu thuật.
Trong TTTON, tỉ lệ có thai giảm dần theo
tuổi, đặc biệt sau 35 tuổi. Cho đến nay người ta cho rằng tỉ lệ thành công giảm
chủ yếu là do giảm chất lượng và số lượng trứng có được khi kích thích buồng
trứng. Sự phát triển nội mạc tử cung thích hợp cho làm tổ và phát triển của phôi
hoàn toàn có thể điều khiển bằng các nội tiết ngoại sinh.(4,5) Y văn
trên thế giới cho thấy chương tŕnh cho trứng rất hiệu quả đối với các BN lớn
tuổi.
Tỉ lệ thành công của kỹ thuật cho trứng áp
dụng cho nhiều chỉ định khác nhau theo một sồ báo cáo gấn đây thay đổi từ 22%-
67%.(6,7) Tỉ lệ này phụ thuộc nhiều vào đối tượng BN và chỉ định,
trong đó tỉ lệ có thai cao hơn nếu BN suy buồng trứng sớm và trẻ tuổi.(4,5)
Chúng tôi đă thành công trường hợp đầu tiên thực hiện cho trứng ở Việt Nam. BN
đă có thai ngay chu kỳ điều trị đầu tiên.
Chuẩn bị nội mạc tử cung người nhận là
khâu quan trọng trong. Khoảng cửa sổ cho chuyển phôi (window for embryo
transfer) là khoảng thời gian duy nhất có thể thực hiện chuyển phôi để phôi có
thể làm tổ trong tử cung người nhận sau đó.(8,9) Trong sinh lư thụ
thai b́nh thường, sự phát triển của trứng, phôi và nội mạc tử cung là đồng bộ và
thống nhất do tác động của nội tiết trong cơ thể. Ở trường hợp cho trứng, 3 quá
tŕnh: (1) sự phát triển trứng trong cơ thể người cho trứng, (2) sự phát triển
của phôi in vitro, và (3) sự phát triển của nội mạc tử cung người nhận dưới tác
động của các nội tiết tố ngoaị sinh là hoàn toàn độc lập. Vấn đề quan trọng là
làm sao tạo được khoảng cửa sổ cho chuyển phôi thích hợp với thời điểm phát
triển của phôi. Ngoài các phác đồ TTTON thông thường, đây là mấu chốt quyết định
tỉ lệ thành công của TTTON với trứng cho.
Độ dày và h́nh ảnh nội mạc tử cung của
người nhận trứng vào ngày 12 cho thấy nội mạc tử cung đă được chuẩn bị tương đối
tốt để tiếp nhận phôi. Đây có thể là yếu tố quan trọng cho sự thành công. Điều
này cho thấy các phác đồ điều trị được áp dụng có thể thích hợp với đối tượng BN
ở Việt Nam. Sắp tới, sẽ tiếp tục triển khai chương tŕnh cho trứng với một số
trường hợp suy buồng trứng sớm, măn kinh sinh lư và buồng trứng đáp ứng kém với
kích thích. Ngoài ra, hy vọng trong tương lai có thể triển khai thực hiện cho
trứng đối với trường hợp bất thường nhiễm sắc thể ở người vợ.
Thành công của trường hợp cho trứng đầu
tiên này c̣n mở ra khả năng triển khai chương tŕnh mang thai hộ (surrogacy),
tạo cơ hội có con cho các phụ nữ không c̣n tử cung hoặc tử cung không có khả
năng mang thai. Về mặt kỹ thuật, mang thai hộ hoàn toàn tương tự chương tŕnh
cho trứng, chỉ khác ở chỗ, ai sẽ là mẹ của đứa bé sau khi sinh. Trong trường hợp
"cho trứng", đó là người mang thai. Trong trường hợp "mang thai hộ", đó là người
cung cấp trứng. Tuy nhiên, việc áp dụng các kỹ thuật trên sẽ đặt ra một số vấn
đề phức tạp về mặt xă hội và luật pháp.- Chúng tôi nghĩ rằng vấn đề này sẽ được
giải quyết bằng các qui định pháp luật chặt chẽ như tại nhiều nước khác trên thế
giới.
KẾT LUẬN
Chương tŕnh thụ tinh trong ống nghiệm sau
2 năm hoạt động, đă áp dụng thành công nhiều kỹ thuật điều trị tiên tiến. Mặc dù
điều trị vô sinh chỉ mới được chú ư trong vài năm gần đây, nhưng đă đạt được một
số kết quả ban đầu rất khả quan.
Cần có một hành lang pháp luật chặt chẽ và
phù hợp để có thể triển khai các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mới, mang lại hạnh
phúc cho nhiều gia đ́nh.
Summary
Report of the first successful case of coocyte donation
pregnancy in Vietnam
The authors report the first successful
case of coocyte donation pregnancy in Vietnam with evidence of live clinical
pregnancy at 8 weeks of gestational age. It was done on a patient with premature
ovarian failure. This success would lead to apply the other techniques in the
oocyte donation program.
Legal problem should be considered to cope
with the advanced assisted reproductive techno-logy that would be applied in
Vietnam in the near future.
Tài liệu tham khảo
1. Navot D., Laufer N., Kopolovic J. et al. Artificial
induced endometrial cycles and establishment of pregnancies in the absence of
ovaries. N. Engl J. Med; 1984, 314: 806-811.
2. Anasti J.M.. Premature ovarian failure: an update.
Fertil. Steril; 1998,70:1-15.
3. Paulson R.J., M.H.Thornton, Francis M.M. et al.
Successful pregnancy in a 63-year-old woman. Fertil. Steril; 1997, 67:949-951.
4. Younis J.S., Simon A., Laufer N.. Endometrial
preparation: lessons from oocyte donation. Fertil. Steril; 1996,66:873-884.
5. Devroey P., Pados G.. Preparation of endometrium for
egg donation. Hum Reprod Update; 1998,4; 856 - 861.
6. Yaron Y., Ochshorn Y., Amit a. et al. Oocyte donation in Israel: a study of 1001 initiated
treatment cycles. Hum reprod; 1998,13: 1819-1824.
7. Remohi J., Gartner B., Gallardo E. et al. Pregnancy and
birth rates after oocyte donation; Fertil. Steril; 1997,67:717-722.
8. Prapas Y, Paras N, Jones E E, và CS (1998). The window
for embryo transfer in oocyte donation cycles depends on the duration of
progesterone therapy. Hum Reprod; 1998,13:720-723.
16. Yaron Y., Amit A., Mani A. et al. Uterine preparation
with estrogen for oocyte donation: assessing the effect of treatment duration on
pregnancy rates. Fertil. Steril; 1996,63:1284-1286.