-ĐẶT VẤN ĐỀ
Bilirubin gián tiếp là một sản phẩm chuyển
hóa trong quá tŕnh thoái hóa hème của hồng cầu. Vàng da xuất hiện ở trẻ sơ sinh
khi nồng độ bilirubin trong máu đạt đến 5-7 mg/100ml. Điều này có thể thấy ở 25
-50% trẻ đủ tháng và gần 100% trẻ non tháng.(2,3,4)
Tại Việt Nam, vàng da sơ sinh do tăng
bilirubin gián tiếp vẫn là một trong những vấn đề quan trọng cần giải quyết cấp
bách và cần được can thiệp tích cực trong lănh vực chăm sóc và điều trị sơ sinh.
Tại Viện Nhi Thụy Điển (Hà Nội), chỉ trong 2 năm 1995-1996 đă có 126 trường hợp
vàng da nặng cần phải thay máu, 83% số này có mức bilirubin máu > 20 mg% lúc
nhập viện mà 43% số đó có nồng độ bilirubin máu vượt quá 30 mg%, 1/3 số trẻ được
thay máu có các di chứng thần kinh do vàng da nhân sau xuất viện.(1)
Tại BV Nhi Đồng 1, TP.HCM có 147 trường hợp vàng da nhân trong năm 1995, 158
trường hợp trong năm 1996, sang năm 1997 là 238 trường hợp. Tại BV Từ Dũ TP.HCM
có 29 trường hợp vàng da nhân và nghi vàng da nhân trong năm 1996, 3 trường hợp
trong năm 1997 và 6 trường hợp trong năm 1998. Vàng da nặng cũng xảy ra ngay cả
trên những trẻ đủ tháng khỏe mạnh đă xuất viện theo mẹ vài ngày sau sanh và khi
nhập khoa sơ sinh th́ thường phải thay máu cấp cứu. Thủ thuật thay máu đă được
áp dụng tại Hà Nội từ những năm đầu của thập niên 70 và được tiến hành tại khoa
sơ sinh bệnh viện Từ Dũ từ 1978. Đây là phương pháp điều trị vàng da sơ sinh
nặng do tăng bilirubin gián tiếp có hiệu quả nhanh nhất, đặc biệt khi nồng độ
bilirubin tự do trong máu đă tăng quá cao đe dọa t́nh trạng nhiễm độc thần kinh.(7)
- Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc định lượng bilirubin máu c̣n gặp nhiều
khó khăn về phương tiện và kỹ thuật. Do vậy, việc nhận diện các yếu tố nguy cơ,
các triệu chứng lâm sàng báo động và mối tương quan giữa chúng với nhau có thể
giúp chẩn đoán và chỉ định điều trị kịp thời, thích hợp nhằm tránh biến chứng
vàng da nhân. Đây cũng chính là mục tiêu của nghiên cứu này.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu mô tả 106 trường hợp vàng da
nặng do tăng bilirubin gián tiếp cần điều trị tích cực, kể cả thay máu, nhập
khoa Sơ sinh BV Từ Dũ từ tháng 6/1996 đến tháng 6/1998-
Tiêu chuẩn chọn bệnh: các trẻ vàng
da có nồng độ bilirubin máu
-18 mg% khi nhập viện.
Tiêu chuẩn loại trừ: các trẻ có dị
tật bẩm sinh nặng, trẻ non tháng có cân nặng
-
2000 g hoặc có các bệnh lư nặng khác đi kèm.-
Tất cả các trẻ vàng da nặng nhập viện được
khám, ghi nhận các triệu chứng lâm sàng, làm các xét nghiệm: nhóm máu mẹ-con,
dung tích hồng cầu, huyết sắc tố, công thức bạch cầu, phết máu ngoại biên, đo
bilirubin máu (lúc nhập viện, 12 giờ, 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ sau thay máu hoặc
rọi đèn) và theo dơi- diễn tiến lâm sàng. Các xét nghiệm được thực hiện tại BV
Từ Dũ, Trung tâm Chẩn đoán Y khoa và Trung tâm Truyền máu Huyết học TP.HCM.
Thay máu được chỉ định nếu vàng da tăng
bilirubin gián tiếp đă ở giai đoạn tiền nhiễm độc thần kinh (có dấu hiệu đe dọa
biến chứng vàng da nhân trên lâm sàng và cận lâm sàng).
Chọn nhóm máu thay theo nguyên tắc phù hợp
nhóm máu mẹ-con, với liều 160 ml/kg, lưu ống thông tĩnh mạch rốn 24-48 giờ sau
thay máu. Trong trường hợp có bất đồng nhóm máu hệ ABO, máu được loại bỏ huyết
tương trước khi thay và bù bằng dịch truyền.
Khám, đánh giá, theo dơi phát triển thể
chất, tâm sinh lư, tâm thần vận động theo tiêu chuẩn Brunet - Lezine có cải biên
đối với các trẻ được thay máu sau khi xuất viện lúc 1, 2, 3, 6, 12, 18 tháng
tuổi và gởi đi khám chuyên khoa hoặc tập vật lư trị liệu nếu phát hiện trẻ có di
chứng.
Các dữ liệu được xử lư theo phần mềm Epi
Info 6.04. Phân tích số liệu bằng các phương pháp thống kê mô tả.
KẾT QUẢ
1. Đặc điểm về mẹ: Không ghi nhận
điều ǵ đặc biệt khi nghiên cứu các chi tiết về tuổi mẹ, địa chỉ, số con, tiền
sử nội ngoại khoa, các loại thuốc mẹ dùng trong thời gian mang thai.
2. Đặc điểm lâm sàng của trẻ lúc nhập viện:
Tổng cộng có 106 trường hợp hội đũ các
tiêu chuẩn để nghiên cứu, trong đó có 41 trẻ được thay máu. Các đặc trưng lâm
sàng được tŕnh bày trong bảng 1.
Bảng 1. Đặc trưng lâm sàng khi nhập viện
|
Đặc điểm
|
Nhóm thay máu (n=41)
|
Nhóm không thay máu (n=65)
|
|
Đủ tháng
|
39 (95,i%)
|
64 (98,4%)
|
|
Cân nặng
-2500g
|
38 (92,7%)
|
61 (93,8%)
|
|
Nhập khoa:
|
|
|
|
- ngay sau sanh
|
3
(7,3%)
|
0
|
|
- nằm với mẹ
|
38 (92,7%)
|
65 (100%)
|
|
Giờ tuổi lúc nhập viện*
|
79
- 44,5
|
74,3
- 36,8
|
|
Nồng độ bilirubin gián tiếp (mg%)*
|
26,53
- 5,13
|
19,24
-- 2,95
|
Ghi chú:*trị số trung b́nh
-
độ lệch chuẩn
Không có sự khác biệt giữa hai nhóm về
cách sanh. Ngoài ra, xét nghiệm nhóm máu có 65 trường hợp bất đồng nhóm máu
mẹ-con hệ ABO (Bảng 2), nhưng thử nghiệm Coombs chỉ có một trường hợp dương tính
(1,5%) trong số 64 trường hợp được thực hiện thử nghiệm này.
Bảng 2. Bất đồng nhóm máu mẹ-con ở
trẻ vàng da nặng
|
Bất đồng nhóm máu
|
Nhóm thay máu (n = 41)
|
Nhóm không thay máu (n=65)
|
Tổng cộng (N = 106)
|
|
OA
|
20
|
27
|
47
|
|
OB
|
10
|
18
|
28
|
|
Không
|
11
|
20
|
31
|
3. Khảo sát nhóm triệu chứng lâm sàng có liên quan đến
chỉ định thay máu:
Vàng da là triệu chứng hiện diện ở 100% số
trường hợp theo tiêu chuẩn chọn bệnh, tuy nhiên mức độ có thay đổi từ vàng da
vừa đến vàng da sậm. Các dấu hiệu lâm sàng sau đây (Bảng 3) có tính chất gợi ư
và có liên quan đến việc chỉ định thay máu- trên lâm sàng:
Bảng 3. Các dấu hiệu lâm sàng có liên quan đến chỉ định
thay máu
|
Dấu hiệu lâm sàng
|
Nhóm thay máu (n=41)
|
Nhóm không thay máu (n=65)
|
p----------
|
|
Phản xạ bú (N=105)
|
41
|
64
|
|
|
-tốt
|
3
|
58
|
|
|
-trung b́nh
|
16
|
5
|
|
|
-yếu
|
22
|
1
|
P < 0,001
|
|
Mắt "ngó lơ"
|
32 (78%)
|
1
(4,3%)
|
P < 0,001
|
|
Li b́*
|
39 (95,1%)
|
4
(9,3%)
|
P < 0,001
|
|
Mắt "mặt trời lặn"*
|
10 (24,4%)
|
1
(1,6%)
|
P < 0,001
|
|
Cơn gồng giật lúc nhập viện*
|
7
(17,1%)
|
2
(3,2%)
|
P < 0,05
|
Ghi chú:*nhóm không thay máu chỉ khảo sát
được 63 trẻ
4. Kết quả theo dơi nồng độ bilirubin gián tiếp:
Dưới đây là nồng độ trung b́nh (- độ lệch chuẩn) của bilirubin gián tiếp trong
máu của trẻ được thay máu (n=41):
- lúc vào viện: 26,56
-
5,19 mg%
- sau thay máu:13,38
-
4,82 mg%
- sau thay máu 12 giờ: 19,27
- 3,36 mg%
- sau thay máu 24 giờ: 15,79
- 3,25 mg%
- sau thay máu 48 giờ: 13,21
- 2,41 mg%
BÀN LUẬN
+ Khảo sát về nhóm máu mẹ - con: Tỉ
lệ bất đồng nhóm máu ABO trong cả 2 nhóm khá cao (73% ở nhóm thay máu và 69% ở
nhóm không thay máu), trong đó tỉ lệ bất đồng OA cao hơn bất đồng OB. Điều này
phù hợp với các nghiên cứu trước đây của chúng tôi.(6)
Xét nghiệm Coombs dương tính ở 1/64 trường hợp có bất đồng nhóm máu ABO.
+ Khảo sát về tuổi thai: Trong
nghiên cứu này đa số là trẻ đủ tháng (-37
tuần): 39/41 trường hợp (95,2%) ở nhóm thay máu, 64/65 trường hợp (98,4%) ở nhóm
không thay máu, có thể là do các trường hợp non tháng được nhập khoa sơ sinh
ngay sau sanh nên vấn đề vàng da được điều trị sớm hơn.
+ Các yếu tố về giới tính và cách sanh,
nơi sanh không có ảnh hưởng rơ rệt đến sự khác biệt giữa hai nhóm. 92,7% số trẻ
thay máu là không nhập khoa sơ sinh sau sanh (38/41), tất cả 65 trường hợp trong
nhóm không thay máu đều không nhập khoa sơ sinh từ đầu. Như vậy trẻ nhập khoa sơ
sinh ngay ít có nguy cơ vàng da nặng so với trẻ sớm xuất viện theo mẹ. Điều này
cho thấy vấn đề vàng da là một hiện tượng đáng được quan tâm khi trẻ xuất viện
sớm v́ nó là một trong những nguyên nhân làm tái nhập viện thường gặp nhất.(8)
+ Các triệu chứng báo động có liên quan
đến chỉ định thay máu:
Vàng da là triệu chứng gặp ở 100% trường
hợp ở cả hai nhóm do chỉ chọn nghiên cứu các trường hợp vàng da nặng. Các triệu
chứng phối hợp sau đây có liên quan đến chỉ định thay máu:
Vàng da kèm bú yếu đi hoặc bỏ bú: Ở
các trẻ sơ sinh bị vàng da nặng triệu chứng bú yếu (không bảo đảm 50% nhu cầu
sữa hàng ngày)- gặp ở 38/41 (92,7%) trường hợp trẻ vàng da cần thay máu, nhưng
chỉ gặp ở 6/65 trẻ vàng da không thay máu (9,6%) (p<0,001). Đối chiếu với nồng
độ bilirubin máu, thấy triệu chứng bú yếu chỉ xuất hiện trên lâm sàng khi nồng
độ bilirubin gián tiếp máu
- 21,13 mg%. Có 5
trong số 44 trường hợp bú chậm hay bú yếu là được rọi đèn thành công, 39 trường
hợp c̣n lại đều phải thay máu. Ngược lại trong số 41 trường hợp có mức bilirubin
gián tiếp cao th́ chỉ có 3 trường hợp c̣n bú tốt, các trường hợp c̣n lại đều đă
có phản xạ bú yếu đi (p < 0,001).
Vàng da kèm mắt "ngó lơ": mắt lờ
đờ, trẻ thỉnh thoảng ngước lên, vẻ khó chịu, mất thần, kém linh hoạt. Triệu
chứng này rất kín đáo nhưng có giá trị báo động một t́nh trạng đe dọa nhiễm độc
thần kinh v́ khi so sánh với mức bilirubin máu th́ triệu chứng này bắt đầu xuất
hiện khi nồng độ bilirubin gián tiếp
- 20,3 mg% . Nhận thấy triệu
chứng này ở 32/41 trường hợp cần thay máu. Triệu chứng này không xuất hiện khi
bilirubin gián tiếp <20 mg%, có 11 trường hợp mắt "ngó lơ" khi bilirubin gián
tiếp 20-25 mg%, 21 trường hợp triệu chứng này xuất hiện khi bilirubin gián tiếp
>25mg%.
Vàng da kèm li b́: là triệu chứng
thường hay gặp ở trẻ vàng da nặng, trong số 41 trường hợp thay máu, quan sát
thấy triệu chứng này ở 39/41 (95,1%) trường hợp, chỉ có 4/65 (6,2%) trẻ vàng da
có triệu chứng li b́ nhưng không phải thay máu.
Vàng da kèm mắt "mặt trời lặn": Là
triệu chứng xuất hiện muộn khi mức bilirubin gián tiếp- vượt quá 23,18 mg%.
Trong nghiên cứu này, 10/11 trường hợp có triệu chứng này được thay máu cấp cứu
khi nồng độ bilirubin gián tiếp vượt quá 28,9mg%. Đây là triệu chứng xảy ra ở
giai đoạn nhiễm độc thần kinh, 6/10 trẻ này có di chứng thần kinh sau thay máu.
Vàng da có cơn gồng giật: Triệu
chứng này xảy ra khi nồng độ bilirubin gián tiếp trong máu
-23,18 mg% ở 7/41 trường hợp trẻ vàng da thay
máu (17,1%), trong khi đó chỉ có 2/65 trường hợp vàng da không thay máu có triệu
chứng giật nhẹ (3,-%), thường là những cơn giật ở nhiều mức độ nặng nhẹ khác
nhau, đa số phối hợp với- triệu chứng mắt "mặt trời lặn". Khám theo dơi phát
triển thể lực tâm sinh lư sau xuất viện ghi nhận được nhiều di chứng thần kinh ở
các trẻ này. Trẻ càng có nhiều triệu chứng phối hợp th́ nguy cơ vàng da nhân
càng cao.
+Khảo sát giai đoạn thay máu và sau thay
máu cho thấy ngay sau khi thay máu, lượng bilirubin được lấy ra khá nhiều, nồng
độ bilirubin gián tiếp trung b́nh đă giảm khoảng 50% so với mức trước thay máu.
Tuy nhiên sau đó bilirubin được tái hấp thu từ các khu vực ngoài mạch trở ngược
vào máu nên ở thời điểm 12 giờ sau đó nồng độ bilirubin gián tiếp/máu có tăng
lên nhưng sau đó giảm đi rất nhanh ở các giờ tiếp theo.
+ Thời gian nằm viện trung b́nh của nhóm
thay máu là: 4,70 -
0,42 ngày. Không thấy các biến chứng nặng nề nào do thay máu như đă báo cáo
trong y văn.(14)
+ Không có trường hợp nào tử vong, khám
xuất viện thấy có 10/41 trẻ có hoặc nghi ngờ có di chứng. Khám theo dơi phát
triển thể lực tâm sinh lư theo tiêu chuẩn Brunet-Lezine cải biên trong năm đầu
thấy chỉ có 2 trẻ có khả năng phục hồi c̣n 8 trẻ khác có di chứng thần kinh từ
nặng (bại năo) đến trung b́nh (chậm phát triển tâm thần vận động). Các trẻ c̣n
lại phát triển b́nh thường trong 18 tháng đầu. Tuy nhiên, chúng tôi chưa có điều
kiện theo dơi lâu dài hơn để phát hiện và theo dơi các biến chứng muộn như y văn
trên thế giới đă báo cáo.(11,15,16)
KẾT LUẬN
Trong vàng da nặng do tăng bilirubin gián
tiếp ở trẻ sơ sinh, cần phát hiện các yếu tố nguy cơ làm vàng da tăng nhanh ở
trẻ sơ sinh (bất đồng nhóm máu mẹ con, non tháng, nhiễm trùng sơ sinh, rối loạn
nước - điện giải, hạ đường huyết, đa hồng cầu.) để có kế hoạch điều trị và theo
dơi chặt chẽ.
Trên lâm sàng, theo dơi và phát hiện sớm
các triệu chứng báo động như bú yếu, lừ đừ, mắt "ngó lơ" để làm xét nghiệm và
chỉ định thay máu kịp thời, nhằm tránh chuyển sang giai đoạn nhiễm độc thần
kinh.
TÓM TẮT
Đây là một nghiên cứu trên 106 trẻ sơ sinh
vàng da nặng đă nhập bệnh viện Từ Dũ từ 06/1996 - 06/1998, trong đó có 41 trẻ sơ
sinh cần thay máu. Đa số là trẻ đủ tháng đă sớm xuất viện theo mẹ và tái nhập
viện ngay trong tuần tuổi- đầu tiên. Bất đồng nhóm máu hệ ABO là yếu tố nguy cơ
cao quan trọng của vàng da sơ sinh nặng ở trẻ sơ sinh Việt Nam. Việc theo dơi
các triệu chứng lâm sàng là hữu ích cho chỉ định thay máu tức thời nhằm tránh
biến chứng vàng da nhân ở trẻ sơ sinh vàng da nặng.
SUMMARY
CLINICAL SIGNS INDICATING FOR- AN EXCHANGE TRANSFUSION IN
SEVERE NEONATAL JAUNDICE
Exchange transfusion has an important role
in the treatment of neonatal unconjugated hyper-bilirubinemia. This approach can
be used in an attempt to prevent kernicterus when serum unconjugated bilirubin
concentrations are too high.
A total of 106 cases of severe neonatal
jaundice admitted in Tu Du hospital from 06/1996 to 06/1998 was enrolled in this
study. Forty-one- neonates- needing an exchange transfusion, the most of them
were full-term neonates, who came-back home early with their mothers and
re-admitted in the first week of age. ABO group incompatibility is a high risk
factor of jaundice in Vietnamese newborn babies. Close follow-up of clinical
signs is helpful for indicating an immediate exchange transfusion in order to
avoid the kernicterus complication in severe neonatal jaundice.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Trần Liên Anh: Yếu tố gây tổn thương năo ở trẻ sơ sinh
vàng da bệnh lư và chỉ định thay máu; Báo cáo NCKH khoa sơ sinh - Viện BVBMTSS
Hà Nội 1997.
2. Tạ Ánh Hoa: Bilirubin tự do đối với trẻ sơ sinh; Y học
Thực hành , số 4, tháng 7-8, 1979,- trang 21-27
3. Tạ Ánh Hoa: Vàng da do tăng bilirubin gián tiếp ở trẻ
sơ sinh; Nhi khoa tập 2, 1988, trang 32-48--------- -
4. Tạ Ánh Hoa: Thay máu trong vàng da do tăng bilirubin
gián tiếp ở trẻ sơ sinh; Nhi khoa sau đại học 1985
5. Ngô Minh Xuân; Lê Diễm Hương: Nhân 2 trường hợp vàng da
huyết tán nặng do bất đồng yếu tố Rhésus giữa mẹ và con được cứu sống; Thời sự Y
dược học, số 7 (bộ mới), tháng 2/96, trang 43-46
6. Ngô Minh- Xuân: Vàng da nặng do tăng bilirubin gián
tiếp; Y học Tp HCM, số 3, tập 1, 1997, trang 140 - 145
7. Nguyễn Thị Minh Yến; Lê Diễm Hương: Thay máu trẻ sơ
sinh- Kỹ thuật thay máu áp dụng trên 89 trường hợp; Báo cáo NCKH Bệnh viện Phụ
sản 1984.
8. Ann Schwoebel, Sheila Sakraida: Hyperbilirubinemia: New
approaches to an old problem; J. Perinat Neonat Nurs 1997; 11(3): 78 - 79
9. Klaus Jahrig, Dietlind Jahrig, Peter Meisel:
Phototherapy: Treating neonatal jaundice with visible light; quintessens
Verlags-GmbH. Munchen 1993
10. M. Odièvre: Ictère néonatal: physiopathologie,
étiologie, diagnostic. Rev Prat- (Paris) 1994, 44, 9.
11. Nihal Oygur, Dilara Nuzumlali, Askin Ersay; Sevtap
Velipasaoglu;Olcay Yegin: Bilirubin toxicity: outcome in infants with high
bilirubin levels; Eur. J. Pediatr (1996) 155: 145-150.
12. Omigbodun-AO; Akindele-JA;Osotimehin-BO;
Fatininikun-T; Fajimi-JL; Adeleve-JA: Effects of saline and glucose infusions of
oxytocin on neonatal bilirubin levels. Record 11, medline 1993;
Int-J-Gynaecol-Obstet. 1993 Mar; 40(3):235-9
13. P Vert: Physiopathologie de l- hyperbilirubinémie
néonatale; Arch Pédiatr 1998; 1028-30
14. Weisz-B; Belson-A; Milbauer-B; Reif-S: Complications
of exchange transfusion in term and preterm newborns; Medline 1996; Harefluah.
1996 Feb 1; 130 (3):170-3: 223
15. Wolf- MJ; Beunen- G; Casaer- P; Wolf- B: Extreme
hyper-bilirubinemia in Zimbabwean neonates: neurodevelopmental outcome at 4
months; Eur. J. Pedatr. 1997 Oct: 156 (10): 803-7; Medline 98
16. Wolf- MJ; Beunen- G; Casaer- P; Wolf- B: Neurological
status in severely jaundiced Zimbabwean neonates; J. Trop. Pediatr. 1998 Jun; 44
(3) 161-4; Medline 98.