Mục tiêu tối hậu của điều trị bướu tiền
lập tuyến là loại bỏ hiện tượng bế tắc đường tiểu dưới, nói cho đúng hơn bế tắc
khối cổ bọng đái niệu đạo sau.
Vị trí về giải phẫu học của tiền lập tuyến
tại ngã tư đường sinh dục - đường tiểu, với đáy nằm sát ngay dưới cổ bọng đái và
niệu đạo sau chạy giữa hai thùy, tạo điều kiện- thuận lợi gây bế tắc đường tiểu
khi có tăng dưỡng. Nếu bướu lại có thùy giữa thì rối loạn đường tiểu sớm xảy ra.
Nói thế để xác định rằng mức độ rối loạn đi tiểu không phụ thuộc nhất thiết vào
độ lớn của bướu.
Ðiều trị nội khoa bướu lành tiền lập tuyến
nhằm hai mục tiêu:
1. Làm nhỏ bướu lại hay ít nhất cũng làm
chậm sự tăng trưởng của bướu.
2. Giảm sự co thắt của các cơ tiền lập
tuyến và cổ bọng đái.
Ðể đạt các mục tiêu trên, sẽ dựa vào hai
cơ sở:
- Cơ sở tăng trưởng của mô tiền lập tuyến
mà cơ chế gây bế tắc có tính chất cơ học.
- Cơ sở rối loạn sinh lý đi tiểu có tính
chất cơ năng.
Về sự tăng trưởng mô tiền lập tuyến
có hai loại nguyên nhân khác nhau:
1. Nguyên nhân yếu tố tăng trưởng các
mô với 4 yếu tố chính sau đây:
-
Yếu tố tăng triển sợi bào (FGF)
-
Yếu tố biến hóa tăng triển mô (TGF)
-
Yếu tố tăng triển thượng bì (EGF)
-
Yếu tố tăng triển Kératin (KGF)
Trong 4 yếu tố này FGF đóng vai trò quan
trọng nhất vì làm tăng triển mô sợi mà mô này lại chiếm 60% dung tích tiền lập
tuyến, trong khi đó mô tuyến chỉ có 20% và mô cơ cũng vậy, chỉ có 20%. Hiện thời
chưa có dược chất có khả năng kháng các yếu tố tăng triển trên một cách thực sự
hữu hiệu. Người ta thường nói tới chiết xuất từ vỏ cây Pygéum Africanum
(Tadenan) và một số dược thảo khác có khả năng trên. Các dược thảo này có tác
dụng chậm nhưng có thể dùng dài ngày mà không gây tác dụng phụ.
2. Nguyên nhân kích tố nam (DHT)
xuất phát từ testosteron dưới tác động của thụ thể 5- alpha reductase. Trong các
dược chất có khả năng ức chế 5 alpha reductase có Finasterid (Proscar) và thuốc
đối vận LHRH trong đó có Leuprolid.
Cơ sở rối loạn sinh lý đi tiểu:
Các sợi mô cơ tiền lập tuyến có thụ thể 5-
alpha reductase kích thích sự co thắt các cơ trên, một nguyên nhân của bế tắc
đường tiểu.
Các dược chất chặn 5 alpha adrenergic có
thể chia làm hai loại:
1. Thuốc chặn Alpha toàn diện như Phenoxy-
benzamin, Phenotamin, Indoramin.
2. Thuốc chặn Alpha chọn lọc (Alpha 1)
như: Prazozin, Terazozin, Alfuzozin (Xatral)
Trong ba loại thuốc sau, Alfuzozin tương
đối ít tác dụng phụ, nhưng dù sao vẫn phải thận trọng khi gặp bệnh nhân có bất
thường về huyết áp.
Những thuốc ức chế yếu tố tăng sinh, kháng
androgen và chặn alpha có thể dùng riêng rẽ hay phối hợp. Những dạng phối hợp
sau đây thường được áp dụng:
1. Phối hợp hai thứ thuốc:
-
Tadenan + Permixon
-
Alfuzozin + Finasterid
-
Tadenan + Alfuzozin
2. Phối hợp ba thứ thuốc (đánh cả 3 mặt)
-
Tadenan + Finasterid + Alfuzozin
TRỊ LIỆU BỔ SUNG
Bên cạnh những thuốc cơ bản trình bày ở
trên vẫn có thể dùng một số thuốc kinh điển: thuốc giảm sự kích thích bọng đái
niệu đạo (Mictasol), thuộc chiết xuất từ tiền lập tuyến Protatdusse, Eviprostat,
Prostaveron, thuốc giảm sung huyết hốc chậu Pelvomagenesium.
LƯỢNG GIÁ KẾT QUẢ ÐIỀU TRỊ
Bảng thang điểm triệu chứng quốc tế
(IPSS), bảng lượng giá chất lượng sống (QoL) và bảng lượng giá chất lượng tình
dục (QoS) có giá trị giúp theo dõi kết quả điều trị. Ðể chính xác hơn nên áp
dụng một số phương pháp khách quan sau:
-
Niệu dòng đồ (Uroflow)
-
Phép dung lượng kế (Débimétrie)
-
Phương pháp niệu động lực/ áp lực lưu lượng
(Pression/Débit) để phân tích bế tắc đường tiểu với giảm co bóp bọng đái.
-
Lượng giá dung lượng nước tiểu tồn động trong bọng đái
sau khi tiểu, qua âm vang ký.(1)
THEO DÕI QUÁ TRÌNH VÀ CHỈ ÐỊNH CAN THIỆP
Ngoài sự ghi nhận những tác dụng phụ của
các dược chất, trong quá trình điều trị cần kiểm tra định kỳ các biến chứng:
- Nhiễm trùng niệu.
- Giảm chức năng suy thận.
- Suy thận.
- Sỏi bọng đái.
- Biến dạng và biến thể bọng đái.
Thực tế đừng quên rằng, mặc dầu có giảm
các rối loạn đi tiểu, lâu ngày bọng đái vẫn bị biến dạng và biến thể với sự tăng
triển của các cơ và sợi collagen với hai hậu quả:
-
Tăng cơ chế kích thích.
-
Giảm tính co bóp của bọng đái.
Ðưa đến tồn đọng nước tiểu, căng chướng
bọng đái, sau cùng là niệu quản - thận chướng nước dẫn đến suy thận. Nếu lại có
nhiễm trùng thì viêm bồn thận thật khó tránh. Sự kiện thứ hai là bướu phát triển
lên trên đằng sau bọng đái có thể đội niệu quản sát bọng đái với biến dạng hình
lưỡi câu. Ðây cũng là yếu tố ứ nước đường tiểu trên.
Hai sự kiện này có thể phát hiện qua niệu
ký nội tĩnh mạch mà hiện nay vẫn còn công dụng trong chẩn đoán và theo dõi điều
trị bướu lành tiền lập tuyến.
Có hai nhân tố tham sự vào sự quyết định
can thiệp vào bướu lành tiền lập tuyến đang điều trị nội khoa:
1- Nhân tố bệnh nhân đòi hỏi sự can thiệp
vì- không chịu nổi các rối loạn đi tiểu với giảm chất lượng sống.
2- Nhân tố thầy thuốc vì phát hiện có biến
chứng giảm chức năng và suy thận, nhiễm trùng khó trị, tồn đọng nước tiểu trên
100 ml.
(1) Ghi
chú: Không nên lượng giá dung tích tồn của nước tiểu bằng thông niệu đạo, nhất
là trong bí đái mạn tính với ứ đọng nước tiểu bọng đái- niệu quản, hoặc ngược
dòng bọng đái - niệu quản để tránh viêm nhiễm đường tiểu trên và thận.
summary
An overvew of the medical treatment of benign prostatic
hypertrophy (BHP)
The objectives of the medical treatment of
BHP are to slow down the rate of tissue hyperplasia and to decrease the muscle
contraction in the bladder neck and the prostate itself. The basic principles of
treatment are as followed:
- Inhibition of growth factors, in which
the most important is the fibroblast growth factor (FGF), that are associated
with the pros-tatic tissue hyperplasia.
- Inhibition of 5-a
reductase activity.
On the other hand, micturation disorders
should be effectively controlled either by
a-adrenergic blocking agents or preferably by
uroselective
a-1 blockers.
Other classic treatments (prostate
extracts, pelvic decongesting agents.) can be used as adjuvant therapy.
Patients with BHP undergoing medical
treatment should be followed-up and regularly monitored by urological
examinations in regard of the quality of life and of the surgical intervention
considered when necessary.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Buzelin J.M., Roth S., Geffriaud-Ricouard C.,
Delauche-Cavalier M.C. and the Algebi study group: Efficacy and safety of
sustained-release alfuzosin 5 mg in patients with benign prostatic hyperplasia.
Eur Urol 1997; 31: 190 - 198.
2. Caine M., Perlnerg
s., Meretyks. (1978): A placebo-controlled double blind study of the
effect of phenoxybenzamine in benign prostatic obstruction Br Urol; 50: 551
-S54.
3. Di Silverio F. (1992): Use of terazosin in the medical
treatment of benign prostatic hyperplasia: Experience in Italy. Br J Urol; 70
(suppl 1): 22 - 26.
4. Jardin A., Bensadoun H., Delauche - Cavalier M.C.,
Attali P. (1991): Alfusozin for treatment of benign prostatic hypertrophy.
Lancet; 337: 1457- 1461.
5. Le Duc A., Cariou G., Barbon J.C. (1990): A
multicenter, double blind, placebo-controlled study of the efficacy of prazosin
in the treatment of dysuria associated with benign prostatic hypertrophy. Urol
Int; 45 (suppl 1): 56 - 62.
6. Lloyd S.N., Buckley J.F., Chilton C.P (1992): Terazosin
in the treatment of benign prostatic hyperplasia: A multicentre,
placebo-controlled trial. Br.J Urol: 70 (suppl 1): 17 -21.
7. Lukacs B., Comet D., Doublet J.D., Gattegno B.,
Thibault PH.: Two - year assessment of long term health ralated quality of life
(HRQL) in 4591 patients suffered from benign prostatic hypertrophy (BPH) treated
with uroselective alpha -1-blocker, alfuzosin. J urol: 1996; 155 (suppl): 574A.
8. Stott M.A., Abramsp.H. (1991):Indoramin in the
treatment of prostatic bladder outflow obstruction. Br J Urol:67:499 - 501.
9. Teillac P., Delauche - Cavalier M.C.. Attali P., Dualf
Group. (1992): Urinary flow rates in patients with benign prostatic hypertrophy
following treatment with alfuzosin. Br J Urol: 70; 58 - 64.
10. Wilde M.I., Fitton A., Mc Tavish D. (1993):-
Alfuzosin: a review of its
phamarcodynamic and pharmacokinetic properties, and therapeutic potential in
benign prostatic hyperplasia. Drugs 45 (3): 410-429.