NHẬP ĐỀ:
Xương là kho dự trữ calcium lớn nhất của
cơ thể được huy động thường xuyên để ổn định nội môi trường và cho hoạt động của
tế bào trên toàn cơ thể. Xương được coi là mô phụ thuộc hormon tính dục v́ khối
lượng xương tăng nhanh lúc dậy th́ và giảm nhanh lúc tắt kinh. Nguy cơ găy xương
ở người già tùy thuộc phần lớn vào khối lượng xương bị mất trong ṿng 10 năm sau
măn kinh. V́ vậy, hormon thay thế là cách bảo vệ khối lượng xương tốt nhất. Từ
sau 70 tuổi, ngoài thiếu estrogen, người già c̣n chịu thêm một lư do mất xương
nữa liên quan đến tuổi, trong đó vitamin D có một vai tṛ khá quan trọng. Vậy,
sự phối hợp hormon thay thế (HTT) và vitamin D liệu rằng:
- Có hiệu quả không-
- Hiệu quả như thế nào-
- Có nguy hiểm không-
- Có chỉ định dùng cho những đối tượng
nào-
- Và dùng như thế nào-
Đó là những điều mà bài tổng quan sau đây
sẽ cố gắng giải đáp.
TỔNG QUAN VỀ CHUYỂN HÓA CALCIUM VÀ SỰ MẤT XƯƠNG:
1- Chuyển hóa calcium:
40% calcium từ thức ăn được hấp thu ở ruột
qua một hệ thống đặc biệt phụ thuộc vào vitamin D. Calcium được thải từ cơ thể
ra theo đường tiểu và đường tiêu hóa. Calcium trong nước tiểu được quyết định
bởi sự tái hấp thu chủ động tại ống thận dưới ảnh hưởng của hormon cận giáp
(PTH); do đó chỉ một phần rất nhỏ calcium được vi cầu thận lọc sẽ bị thải ra
ngoài. Calcium trong nước tiểu liên quan chặt chẽ với calci-máu. Chỉ một thay
đổi nhỏ ở calci-máu có thể gây nên những thay đổi lớn ở calci-niệu. V́ vậy thận
được coi là có vai tṛ chính trong điều ḥa calci-máu.
2. Cấu trúc xương:
Hầu hết xương được cấu tạo bởi một lớp vỏ
cứng ở ngoài và một vùng xốp ở trung tâm - xương xốp có cấu trúc là những vách
ngăn nên c̣n gọi là xương bẹ - Cấu trúc nền của xương là những sợi collagen,
trên đó đọng các tinh thể hydroxyapatit là một hỗn hợp calcium phosphorus với
một lượng nhỏ sodium, carbonat và fluorin.
Xương được luân chuyển (giữa hủy xương và
tái tạo xương) một cách liên tục. Nói chung tế bào osteoblast sản xuất collagen
và osteoclast phá hủy, chất nền xương và tinh thể xương được tan ră cùng lúc. Bộ
xương của thanh niên trẻ có khoảng 1kg calcium. Chỉ 0,1% được dùng để huy động
tạo quân b́nh với dịch cơ thể (phần c̣n lại chỉ được sử dụng đến qua sự tái tạo
tổ chức xương theo năm tháng).
3. Sự điều ḥa chuyển hóa calcium.
Có 3 hormon liên quan đến điều ḥa chuyển
hóa chất khoáng ở xương b́nh thường: PTH, calcitonin và vitamin D.
3.1- Sự chuyển hóa calcium và phosphat và
duy tŕ xương được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của PTH.
Ở xương, PTH tác động lên osteoclast để
phóng thích calcium và phosphat
Ở thận, PTH tác động lên ống thận để giảm
tái hấp thu phosphat và tăng tái hấp thu calcium.
Ở ruột, PTH tăng thành lập 1,25(OH2)D3
giúp hấp thu calcium tại ruột. Kết quả là dưới tác động của PTH, calci-huyết
tăng và giảm phosphat-máu. Sự chế tiết PTH từ tuyến cận giáp lại được kiểm soát
bằng cơ chế phản hồi (feedback) của ion Ca++
máu - Ca++ tăng sẽ ngăn PTH tiết và đảo lại.
3.2- Calcitonin: Là một hormon được
tiết ra từ tế bào cạnh nang của tuyến giáp, tác động ức chế hủy xương lên
osteoclast làm giảm calci-huyết. Vai tṛ của calcitonin trong chuyển hóa chất
khoáng chưa rơ.
3.3- Vitamin D: Hiện nay vitamin D
được coi là một hệ thống phức tạp bao gồm hormon với dinh dưỡng. Tại da, tác
động của tia cực tím của ánh sáng mặt trời làm 7-dehydrocholesterol thành
cholecalciferol hay vitamin D3. Trong thức ăn, vitamin D2
(ergocalciferol) có nguồn gốc thực vật.
Tại gan, D2 và D3
được hydroxy hóa để thành 25-hydroxycholecalciferol (25-OH D3). Tại
thận, chất này lại được hydroxy hóa một lần nữa để cho 1,25 (OH2)D3
là một hormon rất mạnh và rất hiệu quả (c̣n gọi là calcitriol). Vai tṛ chính là
thúc đẩy hấp thu calci tại ruột và calci hóa chất nền xương tại xương. Tại thận,
một chất khác là
24,24- (OH2)D3 cũng được thành lập với số
lượng rất lớn nhưng lại không hoạt động, có thể là một thành phần dự trữ trong
hệ kiểm soát (C24 chuyển sang C1).


4. Sự loăng xương: Là giảm khối lượng
xương do sự mất quân b́nh giữa vận tốc thành lập xương và hủy xương. Phần xương
c̣n lại là b́nh thường cả về mô học lẫn sinh hóa so với xương không loăng. Chính
v́ cái vẻ b́nh thường bề ngoài mà sự thiếu xương, loăng xương do mất xương làm
cho không thể định rơ được giới hạn giữa xương b́nh thường với xương bị loăng.
Về mặt lâm sàng không có sự thay đổi về sức khỏe tổng quát v́ xương bị rỗng
không đau. Thế nhưng đau lại là triệu chứng chính bởi v́ xương loăng th́ gịn và
dễ xoắn găy. Đau lưng là do lún đốt xương thường hay có viêm khớp thoái hóa đi
kèm. Nhiều bệnh nhân phải chịu những găy xương sườn và xương dài sau những chấn
thương rất nhỏ. Dấu hiệu thực thể chỉ là giảm chiều cao, c̣ng lưng, và lưng có
vẻ ngắn hơn so với bề dài của các chi hoặc các xương sườn phần dưới chạm vào mào
chậu gây nên một lơm da ở bụng trên
HORMON THAY THẾ
A. Phụ nữ sau măn kinh có 2 giai đoạn mất xương:
1. Giai đoạn mất xương nhanh: xảy ra trong
ṿng 10 năm sau măn kinh. Đặc điểm xương bị mất nhanh (2%-3%/năm). Găy xương chủ
yếu là ở cổ tay và đốt sống, liên quan trực tiếp đến sự suy giảm estrogen.
2. Giai đoạn mất xương chậm: xảy ra 10 năm
sau măn kinh, xương mất được biểu lộ trên xuất hiện găy cổ xương đùi.
B. Cơ chế gây loăng xương do thiếu estrogen:



Estrogen
ngăn sự hủy xương. Thiếu estrogen làm tăng sự hủy xương, tăng calci huyết, giảm
tiết PTH, giảm hoạt hóa Vit D ở thận, giảm hấp thu calcium tại ruột và giảm tái
hấp thu Ca ở thận.
C. Cơ chế gây
loăng xương do tuổi già:
Sau 70 tuổi, sự hấp thu calci và phosphat
ở ruột giảm, tổng hợp Vit D ở da giảm, giảm hoạt hóa vit D ở thận, giảm Calci
máu gây tăng PTH, tăng hủy xương.
D. Hormon thay thế:
Hormon thay thế (HTT) không những ngăn hủy
xương mà c̣n có thể làm tăng khối lượng xương hoặc có thể làm giảm nguy cơ găy
xương thêm ở người đă bị găy xương do loăng xương. Nên nhớ:
- HTT không có hiệu quả nếu phụ nữ chưa
thật sự thiếu estrogen và chưa vào giai đoạn mất xương nhanh.
- Việc ngưng HTT sẽ vào giai đoạn mất
xương nhanh giống như lúc mới măn kinh.
- HTT phải được dùng đủ liều bảo vệ xương
(tối thiểu để có hiệu quả là 0,625
mg cho estrogene
conjugué, 10-15 mg
EE2, 0,05 mg cho 17bE2
dán và 1mg 17bE2
uống)
- Từ 70 tuổi trở đi, loăng xương không chỉ
do thiếu estrogen mà c̣n do sự giảm hấp thu Calcium, giảm Vit D.
Vậy HTT phải dùng đủ về lượng lẫn thời
gian (tối thiểu là 5-10 năm).
Tất cả phụ nữ măn kinh đều có giảm
Estrogen nhưng chỉ 1/3 bị găy xương do loăng xương trong ṿng 20 năm sau măn
kinh. Dựa trên phương pháp đo mật độ xương để chẩn đoán loăng xương và tiên đoán
phụ nữ nào có nguy cơ loăng xương trong tương lai. Tuy nhiên, có một số giới hạn
cho phương pháp này là:
- Khối lượng xương và mật độ xương thay
đổi theo từng người tùy thuộc vào đỉnh xương lúc dậy th́ và tốc độ mất xương
trong quá tŕnh sống.
- Đỉnh khối xương tùy thuộc yếu tố di
truyền, dinh dưỡng và môi trường.
- Tốc độ mất xương khác nhau ở mỗi
người: có người bị mất xương từ khi chưa măn kinh, sau cắt 2 buồng trứng phụ
nữ bị mất xương nhanh trong 2 năm đầu; ở loại xương: xương xốp mất nhanh
hơn xuơng cứng; ở vị trí xương: xương cổ tay và đốt sống mất xương sớm
hơn xương đùi.
Việc dùng HTT lâu năm đặt ra một số vấn đề
sau:
- Gây tăng sinh nội mạc tử cung và ung
thư. Điều này có thể hạn chế hoặc tránh được bằng cách thêm progesteron ở người
c̣n tử cung.
- Tăng tần suất ung thư vú: c̣n nhiều bàn
căi.
- Sạn mật.
- Bệnh thuyên tắc mạch
- Huyết áp cao
- Tăng triglycerid
HTT dùng cho 3 đối tượng: Pḥng
ngừa cho người có nguy cơ, hoặc người đă thiếu xương và điều trị cho người đă
loăng xương.
. Đối tượng có nguy cơ là những người có:
- Tiền căn vô
kinh kéo dài
- Điều trị
corticoid lâu ngày
- Loăng xương
gia đ́nh
- Cường và
nhược giáp
- Chế độ ăn
thiếu calci
. Đối tượng thiếu xương khi mật độ xương ở
trong khoảng 1-2 độ dưới độ lệch chuẩn của mật độ xương trung b́nh ở người
trưởng thành.
. Đối tượng loăng xương khi mật độ xương ở
dưới 2 độ lệch chuẩn của mật độ xương trung b́nh ở người trưởng thành. Ở đây có
thêm khái niệm ngưỡng găy xương, đó là mật độ xương mà 90% người bị găy xương do
loăng xương nằm dưới ngưỡng này. Đối tượng có mật độ xương trong khoảng 0-1 độ
dưới độ lệch chuẩn và những người bị thiếu xương có thể theo dơi bằng đo mật độ
xương mỗi 2 năm. Nếu thấy có mất xương nhanh th́ nên dùng HTT.
Hiệu quả của HTT:
Dùng HTT sớm sau măn kinh hoặc sau cắt 2
buồng trứng có thể duy tŕ được độ đậm xương như hiện trạng lúc măn kinh. Ảnh
hưởng này sẽ c̣n tiếp tục duy tŕ nếu vẫn tiếp tục HTT. Ở 70 tuổi,- phụ nữ- đă
dùng HTT trên 10 năm và đă bắt đầu HTT trong ṿng 3 năm sau măn kinh có thể có
được một bộ xương như lúc chưa măn kinh. HTT nếu bắt đầu muộn ở tuổi đă cao hoặc
đă có găy xương vẫn có hiệu quả ít nhất không làm tăng tỷ lệ găy xương thêm. Nên
bắt đầu sớm và đủ lâu (trên 5 năm). HTT có thể giảm nguy cơ lún đốt sống gấp 3
lần, nguy cơ găy cổ xương tay 40-60% và nguy cơ găy xương đùi 60%.
HTT VÀ VITAMIN D:
Nghiên cứu ngẫu nhiên, đa trung tâm tại Úc
(Donald Heath Gutteridge và cộng sự) thực hiện trên 81 phụ nữ tuổi trung b́nh là
70 trong 2 năm, so sánh HTT đơn thuần và phối hợp HTT + vitamin D có kèm hoặc
không calci bổ sung, đưa ra các kết luận sau:
1. Không có khác biệt có ư nghĩa về tần
suất lún đốt sống và t́nh h́nh găy xương ở chỗ khác.
2. Có tăng calci huyết ở 15% trường hợp
dùng HTT + D (tăng nhẹ và chỉ xảy ra ở người được bổ sung calci).
3. Có tăng calci-niệu ở 23% trường hợp
dùng HTT + D (không có trường hợp sỏi thận và chỉ có ở 33% trường hợp được bổ
sung calci).
4. Sự thay đổi mật độ xương:
- Nhóm HTT: thay đổi không có ư nghĩa ở
toàn vùng xương hông, liên mấu chuyển, cổ và thân xương đùi.
- Nhóm HTT + D: sự thay đổi rơ rệt ở toàn
cơ thể 4,4%; mấu chuyển 5,9%; xương hông 3,1%; liên mấu chuyển 3%; thân xương
đùi 3,3%.
5. Mật độ khoáng xương: (toàn thân và ở
mấu chuyển): có lợi ích đáng kể ở người kém hấp thu và người b́nh thường ở nhóm
HTT + D.
6. Hấp thu calcium: không tăng ở nhóm HTT,
nhưng có cải thiện ở người bị kém hấp thu trong nhóm HTT + D.
7. PTH và luân chuyển xương giảm rơ rệt ở
nhóm HTT + D.
8. Kết luận chung:
- Lợi ích đáng kể cho cột sống thắt lưng
(xương bẹ) ở cả 2 nhóm.
- Lợi ích hơn và rơ ràng hơn ở toàn thân
và xương hông và thân xương đùi ở nhóm HTT + D.
Như thế HTT + D đă giúp tiết kiệm calci
toàn thân và lợi ích cho xương hông.
KẾT LUẬN:
Phụ nữ được điều trị HTT trong 10 năm đầu
của thời măn kinh đă duy tŕ được khối xương, bảo vệ được nguy cơ găy đốt sống
và xương cổ tay, nhưng bước vào tuổi già (từ 70 tuổi trở đi) phụ nữ chịu thêm sự
mất xương do tuổi tác mà cơ chế chính là thiếu calci. Việc bổ sung calci 1.500mg
mỗi ngày có thể khắc phục được sự thiếu calci này. Nhưng ở người già lại có thêm
cơ chế kém hấp thu do thiếu vitamin D và tăng hủy xương do tăng PTH. Do đó việc
phối hợp HTT và vitamin D cho thấy:
- Hợp lư và có hiệu quả bảo vệ xương, nhất
là xương hông, một gánh nặng cho gia đ́nh xă hội về mặt y tế và chăm sóc và c̣n
là một nguyên nhân gây tử vong cho phụ nữ sau găy xương.
- Nên áp dụng cho phụ nữ sau 70 tuổi nhất
là những người bị kém hấp thu tiêu hóa.
- Calci huyết được đo mỗi 2 năm và được
dùng để làm cơ sở cho việc điều chỉnh calci bổ sung - an toàn.
- Với hàm lương 400 UI/ngày, vitamin D
phối hợp với HTT không gây tăng calci huyết và không tăng nguy cơ sỏi thận.
TÓM TẮT:
Sau măn kinh, phụ nữ có 2 giai đoạn mất
xương:
- Mất xương nhanh trong 10 năm đầu, do
thiếu estrogen gây loăng xương, găy xương ở cổ tay và đốt sống.
- Mất xương chậm do giảm hấp thu calci
trong những năm kế tiếp, gây nguy cơ găy xương đùi.
Sự hấp thu calci giảm ở tuổi già là do sự
giảm hoạt động của các cơ quan tiêu hóa và thận, trong đó có vai tṛ đáng kể của
vitamin D.
Sự phối hợp điều trị hormon thay thế với
vitamin D cho phụ nữ sau 70 tuổi kém hấp thu calcium mang lại sự chậm hủy xương,
kể cả phục hồi tái tạo xương đă mất.
Với theo dơi calci định kỳ trong máu và
nước tiểu để điều chỉnh thuốc, sự phối hợp hormon thay thế và vitamin D không
gây tăng calci huyết và- sỏi thận.
SUMMMARY:
Loss of bone in post-menopausal women is
divided into 2 phases:
- Phase of rapid bone loss, due to
estrogen deficiency, occuring in the 10 years following menopause. Fractures of
vertebra and wrist are often observed in this phase.
- Phase of decelerated loss, due to
decreased calcium absorption, occuring much later in life. Hip fractures are
often seen in this phase. Otherwise it was demonstrated that vitamin D plays a
primordial role in calcium absorption at both intestinal anf renal level.
Combination of HRT and vitamin D for women
over 70 y.o. with decreased calcium absorption will not only prevent bone loss
but also increase bone formation.
Hypercalcemia and renal lithiasis are
prevented if treatment was adjusted following regular surveillance of calcium in
serum and urine.
Tài liệu tham khảo:
1. B. Lawrence Riggs, - Osteoporosis: Etiology, diagnosis
and management- L. Joseph Melton III (2nd edition)
2. John J. B. Anderson, Sanford C. Garner.- Calcium and
phosphores in health and disease. - CPC Press Inc., 1996.
3. Edmund H. Duthie Jr. MD, Paul R. Katz, MD,- Practice of
geriatrics.- W.B. Saunder company, 3th edition.
4. Tài liệu chuyên đề tại khóa đào tạo về loăng xương tại
Bali 1-2-1999.
5. Progress in the management of the menopause- The
proceeding of the 8th international congress on the menopause, Sydney,
Australia, November 1996.
6. International symposium on biology of menopause.
Newport Beach, California USA, september 10-13, 1998.