Giới thiệu
Corning là người đầu tiên đề nghị gây tê
tủy sống (TS) và Bier thực hiện tê TS bằng cocain để vô cảm cho phẫu thuật (phẫu
thuật) vào năm 1899.(1) Năm 1981, Tôn đức Lang dùng dolargan tê TS cho các
phẫu thuật tiết niệu, bụng dưới, chi dưới và được phổ biến rộng rãi ở các bệnh
viện miền bắc và miền trung Việt Nam.(2)
Curran C dùng meperidin cho các phẫu thuật ngắn như triệt sản.(3)
Acalovschi I dùng pethidin tê đuôi ngựa cho các phẫu thuật tầng sinh môn.(4)
ở bệnh viện Ðà Nẵng, từ năm 1994, tê TS bằng marcain hoặc dolargan để vô
cảm cho các phẫu thuật bụng dưới và chi dưới đã trở nên phổ biến.
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá
hiệu quả của tê TS ở một số các phẫu thuật bụng dưới và so sánh hiệu quả giữa tê
TS bằng marcain và dolargan trên phẫu thuật cắt ruột thừa.
Phương pháp
Công trình được thực hiện từ tháng 6-1997
đến tháng 1-1998 tại BV Ðà Nẵng.
Chọn bệnh nhân: bệnh nhân người lớn,
phải trải qua một phẫu thuật bụng dưới (mổ lấy thai, cắt ruột thừa, cắt u nang
buồng trứng, khâu túi thoát vị bẹn...) không có chống chỉ định tê TS, có tình
trạng sức khoẻ được đánh giá theo hội gây mê Hoa Kỳ loại I hoặc II: (ASA I-II),
vào phòng mổ Bv
Ðà Nẵng và việc chích TS do chính người nghiên cứu thực hiện. Có 258 bệnh nhân
đáp ứng tiêu chuẩn chọn bệnh.
Sau khi thiết lập đường truyền
tĩnh mạch, 500ml dung dịch mặn 0,9% được cho trong 15-20 phút để phòng tác dụng
phụ hạ huyết áp (HA) do ức chế giao cảm của tê TS. Các dấu hiệu sinh tồn: Mạch
(Ma), huyết áp (HA), Nhịp thở (NT) được theo dõi mỗi 2 phút. BN được đặt nằm
nghiêng để chích TS bằng kim Quincke 24 G ở mức đốt sống L1-L2 hoặc L2-L3 hoặc
L3-L4 tuỳ theo thuốc dùng và độ cao blốc cảm giác mong muốn. Sau khi đã thấy
nước não tủy chảy ra, bơm vào TS marcain 0,5%: 10-15mg (liều: 0,08 mg/cm chiều
cao) hoặc dolargan: 50-70mg (liều: 1,2 mg/kg).
Tất cả đều được tiền mê bằng diazepam
5-10mg + dimedron 20mg + atropin 0,5mg. Ðối với mổ lấy thai, diazepam chỉ được
cho sau khi đã kẹp cuống rốn.
Blốc cảm giác được đánh giá theo Pinprick,
thời gian từ khi bơm hết thuốc đến khi blốc cảm giác đạt đến T7-T8 hoặc đến khi
rạch da được ghi nhận và được xem như thời gian khởi đầu. Nếu HA dưới 90 mmHg
hoặc dưới 30% so với HA ban đầu thì được xem là hạ HA và được xử trí bằng truyền
dịch chảy nhanh và Ephedrin 10-60 mg + Oxygen qua mặt nạ. Ðối với các trường hợp
mổ lấy thai, oxygen được cho ngay từ đầu. Ghi nhận các tác dụng phụ khác trong
phẫu thuật.
- Ðể so sánh tính hiệu quả giữa marcain và
dolargan. Các BN mổ cắt ruột thừa được chọn ngẫu nhiên để tiêm TS hoặc marcain?
(n = 32) hoặc dolargan (n = 30). Hai nhóm được so sánh về tuổi, giới, thời gian
khởi đầu, thời gian phẫu thuật, hiệu quả tê và các tác dụng phụ.
Nếu blốc cảm giác chưa đạt được mức T7-T8
sau 15 phút kể từ lúc bơm xong thuốc và đã đặt tư thế BN với đầu thấp, sẽ được
chuyển qua gây mê và tê TS được xem như thất bại.
Hiệu quả tê được đánh giá theo tiêu chuẩn
sau:
?
Tốt: BN yên lặng, dễ chịu; Giãn cơ tốt trong mổ;
Không phải cho thêm thuốc mê hoặc an thần nào khác.
?
Trung bình: BN lo âu, sợ; Thời gian khởi đầu kéo
dài; Giãn cơ tốt trong mổ; Sử dụng thêm 50mg Ketamin tĩnh mạch.
?
Thất bại: BN than đau; Cử động chi dưới; Không
giãn cơ; Chuyển qua gây mê.
Số liệu thống kê: Tuổi, giới, thời gian
phẫu thuật, thời gian khởi đầu được biểu thị bằng số trung bình (? độ lệch chuẩn). Dùng
test-t để so sánh 2 tổng thể có mẫu lớn hơn 30, test-t-student cho các mẫu nhỏ
hơn 30, và dùng phép kiểm
c2 để so
sánh hiệu quả tê giữa các nhóm phẫu thuật. Sự khác biệt có ý nghĩa khi p < 0,05.
Kết quả
258 BN được nghiên cứu, tuổi trung bình:
34,0
? 12,7. Có 164 trường hợp mổ
lấy thai, 62 trường hợp mổ cắt ruột thừa, 15 trường hợp cắt u nang buồng trứng,
10 trường hợp mổ khâu túi thoát vị bẹn và 7 trường hợp mổ bụng dưới khác. 206
trường hợp dùng dolargan và 52 trường hợp dùng marcain.
?
Thời gian phẫu thuật trung bình: 51 ?
16.6 phút.
?
Thời gian khởi đầu trung bình: 3.8 ?1.2
phút.
?
Hiệu quả gây tê được trình bày ở bảng 1
Bảng 1: Hiệu quả tê
|
Hiệu quả tê
|
Tốt
|
Trung bình
|
Thất bại
|
TC
|
|
Số BN (%)
|
230 (89,15)
|
15 (5,81)
|
13 (5,03)
|
258
|
|
Mổ lấy thai (%)
|
150 (91,46)
|
7
(4,27)
|
7(4,27)
|
164
|
|
Mổ cắt RT (%)
|
53 (85,48)
|
5
(8,06)
|
4
(6,45)
|
62
|
|
Tê
bằng marcain
|
29
|
1
|
2
|
32
|
|
Tê
bằng dolargan
|
24
|
4
|
2
|
30
|
|
Phẫu thuật khác
|
27 (84,38)
|
3
(9,37)
|
2
(6,25)
|
32
|
Tác dụng phụ:
?
Hạ HA có 147 trường hợp (57%), trong đó: HATÐ < 80mmHg là 70 trường hợp, HATÐ <
90mmHg là 71.
? Tác dụng phụ khác trong mổ như run
cơ (15 trường hợp), nôn mửa (10), ngứa (2), lạnh run (2), tức thượng vị (2),
ngưng thở (2), mạch chậm < 50 lần/ph (1).
Hiệu quả gây tê trên BN mổ lấy thai:
Có 164 trường hợp với tuổi trung bình:
31,5
? 5,5, thời gian phẫu thuật:
60,2
?14,7 phút. 162 BN được dùng
dolargan liều trung bình: 50,7 ?1,9
mg, thời gian khởi đầu: 3,7 ?
1,1 phút. Hiệu quả gây tê tốt: 91,5%, trung bình: 3%, thất bại: 5,5%.
Tác dụng phụ như hạ HA là 108 trường hợp
(66%). Nôn buồn nôn: 2 trường hợp. Ngứa: 2 trường hợp. Ngưng thở: 1 trường hợp.
BN ngưng thở được nhanh chóng úp mask giúp thở, 5 phút sau BN thở lại, các dấu
hiệu sinh tồn bình thường, phẫu thuật tiếp tục. Không có một trường hợp suy hô
hấp nào của sơ sinh được nghi ngờ do dolargan TS.
Khi xem xét hiệu quả tê so với mức chọc dò
tủy sống trong nhóm mổ lấy thai, có kết quả sau: (Bảng 2)
Bảng 2: Hiệu quả tê so với mức chọc dò tủy sống trong nhóm
mổ lấy thai
|
Mức chọc dò TS
|
L1-L2
n=5
|
L2-L3
n= 48
|
L3-L4
n= 110
|
P
|
|
Tê tốt
|
5
|
5
|
99
|
>0,05
|
|
Hạ HA
|
5
|
34
|
69
|
>0,05
|
Hiệu quả tê TS trên BN mổ cắt ruột thừa:
(Bảng 3)
Bảng 3: Ðặc điểm BN mổ cắt ruột thừa và hiệu quả tê TS
|
Nhóm
|
Marcain (n=32)
|
Dolargan
(n=30)
|
P
|
|
Ðặc điểm
|
|
|
|
|
Tuổi
|
36,2
? 14,8
|
36,4
? 17,3
|
KYN
|
|
Giới nam/nữ
|
16/16
|
19/11
|
KYN
|
|
Thời gian phẫu thuật (ph)
|
42.6
? 19.4
|
43.8
?17.5
|
KYN
|
|
Thời gian khởi đầu (phút)
|
3.45 (0.75
|
4.93 (1.08
|
|
|
Hiệu quả tê
|
|
|
KYN
|
|
Tốt
|
29 (90)
|
24 (80)
|
|
|
Trung bình
|
1
|
4
|
|
|
Thất bại
|
2
|
2
|
|
|
Tác dụng phụ
|
|
|
|
|
Hạ HA:? HATÐ < 80mmHg
|
2
|
2
|
KYN
|
|
????????? HATÐ < 90mmHg
|
14
|
8
|
|
|
Run cơ
|
11
|
0
|
|
|
Nôn, buồn nôn
|
1
|
2
|
|
|
Tức thượng vị
|
1
|
1
|
|
|
Ngứa
|
0
|
2
|
|
|
Mức chọc dò TS
|
%thành công
|
%thành công
|
|
|
L1-L2
|
100
|
100
|
|
|
L2-L3
|
100
|
100
|
|
|
L3-L4
|
90,9
|
33,3
|
|
Bàn luận:
Về tỷ lệ thất bại trong nghiên cứu
này là 5,03% (bảng 1) tương đương với báo cáo của Lesly-Ann(5) thực
hiện tê TS trên 394 phẫu thuật bụng dưới là: 20/394 (5,07%). Sechzer và Cohen
cho rằng nguyên nhân tê TS thất bại là do thuốc tê được tiêm không cố ý vào
khoang dưới màng cứng (thay vì tiêm vào khoang dưới màng nhện),(6,7)
còn Kenneth Drasner thì cho rằng sự phân bố không tốt của thuốc tê trong khoang
dưới màng nhện là nguyên nhân thường gặp của tê TS thất bại.(8)
So sánh với nghiên cứu của Tôn đức Lang(2)
trên 1296 trường hợp tê TS với loại phẫu thuật chủ yếu là tiết niệu (918 trường
hợp), xương (244) và bụng (71), thấy hiệu quả tê tương tự trong 2 mức tốt và
trung bình, nhưng tỷ lệ thất bại của Tôn đức Lang thấp hơn, có thể do khác biệt
về loại phẫu thuật. Nghiên cứu này chỉ thực hiện trên phẫu thuật bụng dưới đòi
hỏi mức blốc cảm giác phải đạt đến T4-T5 để đảm bảo không kích thích khi vào
phúc mạc và giãn cơ tốt, còn nghiên cứu của Tôn
đức Lang chủ yếu thực hiện trên phẫu thuật tiết niệu và xương, điều này?
chứng tỏ tê TS tỏ ra là một phương pháp vô cảm thích hợp với các phẫu thuật chi
dưới và tiết niệu.
Ðối với các BN có hiệu quả tê
trung bình, nguyên nhân thường là do BN lo sợ và rất nhạy cảm với đau. Tuy nhiên
chỉ cần thêm 50mg ketamin là đủ làm cho BN nằm yên và cuộc mổ tiến hành với giãn
cơ tốt. Nếu xếp hiệu quả tê tốt và trung bình vào nhóm tê thành công để so sánh
với nhóm tê thất bại phải chuyển mê. Chúng tôi nhận thấy hiệu quả tê giữa các
loại phẫu thuật bụng dưới là tương tự (Bảng 1).
Tác dụng phụ nổi bật là hạ HA chiếm
tỷ lệ 57% BN tê TS trong nghiên cứu này. Tác dụng phụ này được khắc phục dễ dàng
bằng cách cho dịch truyền chảy nhanh và dùng Ephedrin tĩnh mạch nhưng đòi hỏi
phải được theo dõi chặc chẽ để kịp thời xử trí.
Trong nhóm mổ lấy thai thì tác dụng phụ hạ
HA cao hơn hẳn (65,8 %) so với nhóm BN mổ cắt RT (41,9 %), nhóm phẫu thuật bụng
dưới khác (40,6%). Ðiều này có lẽ do những thay đổi sinh lý bệnh ở nhóm bệnh
nhân mổ lấy thai bị tăng áp lực trong ổ bụng làm cản trở lưu lượng máu trở về
cùng với sự thay đổi tính hấp thu thuốc tê ở khoang dưới màng nhện, vì vậy nhiều
khuyến cáo khuyên nên giảm liều thuốc tê xuống còn 70% ở nhóm BN này. Khi thực
hiện các mức chọc TS khác nhau ở các BN mổ lấy thai, nhận thấy không có sự khác
biệt về hiệu quả tê cũng như tỷ lệ hạ HA (Bảng 2)
So sánh hiệu quả và tác dụng phụ của tê
TS bằng marcain? và dolargan trên BN mổ cắt RT (Bảng 4) nhận thấy thời gian
khởi đầu của nhóm marcain? (3,45 phút) nhanh hơn có ý nghĩa so với dolargan
(4,93 phút), tác dụng phụ hạ HA thì tương tự giữa 2 nhóm nhưng marcain? hay gây
run cơ đôi khi cần phải được xử trí bằng các thuốc an thần hoặc gây ngủ và
dolargan thì hay gây ngứa và nôn, buồn nôn.
Về hiệu quả tê, cả 2 nhóm đều đạt tỷ lệ tê
thành công bằng nhau là 93% nhưng với điều kiện là ở nhóm dolargan mức chọc TS
phải được thực hiện ở trên mức L3-L4. Thật vậy khi xem xét các mức chọc TS khác
nhau trong nội bộ từng nhóm (Bảng 5): ở nhóm Marcain dù mức chọc ở trong số các
mức L1-L2, L2-L3, L3-L4 thì kết quả tê vẫn giống nhau ngược lại ở nhóm Dolargan
khi thực hiện chọc TS ở mức L3-4 thì hiệu quả tê kém hơn có ý nghĩa so với khi
chọc TS ở mức L1-L2 hoặc L2-L3.
Kết luận
Một số các phẫu thuật bụng dưới như mổ lấy
thai, cắt ruột thừa, cắt u nang buồng trứng, khâu túi thoát vị bẹn thường được
tiến hành trong bối cảnh cấp cứu chưa được chuẩn bị như mổ chương trình, ngoài
ra? đối với BN mổ lấy thai thuốc mê còn gây ức chế hô hấp thai nhi. Vì vậy tê TS
tỏ ra đáp ứng được các yêu cầu đặt ra như: khởi đầu nhanh, giảm đau tốt, giãn cơ
tốt, không có các biến chứng do gây mê toàn thân mang lại. Có thể dùng marcain?
hoặc dolargan cho các phẫu thuật dài chừng 45-60 phút này, ngoài tác dụng phụ hạ
HA hay gặp trên một nữa số BN tê TS, mỗi thuốc còn có một số tác dụng phụ riêng
mà người gây mê cần nắm rõ để xứ lý thích hợp.
SUMMARY
ANAESTHETIC EFFICACY OF INTRATHECAL MARCAINE AND PETHIDINE
IN LOWER ABDOMINAL SURGERY
Spinal anaesthesia using Marcaine or
pethidine has been gaining popularity in our hospital. The aim of this study is
to evaluate blockade efficacy of spinal anaesthesia (S.A) and to compare the
anaesthetic efficacy of pethidine and Marcaine given intrathecally for lower
abdominal surgery.
Methods: Adult patients, ASA
physical status I or II, undergoing emergency lower abdominal surgery under S.A
via lumbar puncture performed by investigator himself. Patients were randomised
to receive either intrathecal pethidine 1.2 mg/kg or Marcaine 0.5%0.08mg/cm. The
level of block was detected using pinprick sensation. Time to establish block to
T7-T8 and adverse events including hypotension, bradycardia, respiratory
distress, nausea, vomiting... were recorded. Failure of adequate block within 15
minutes leads to the induction of general anaesthesia.
Results: 164 cases underwent
Cesarian section, 62 appendicectomy, 32 in other lower abdominal surgery. The
rate of successful block was similar between these interventions (95%),
hypotension occured in 57%, especially much more (66%) in Cesarian section. The
onset time was 3.8?1.2 min. 62 patients
undergoing appendectomy included 32 in the Marcaine group, 30 in the pethidine
group. The difference of blockade efficacy and hypotension was not significantly
(p>0.05). The onset of block in the Marcaine group was faster (p<0.05) but
muscular tremor greater in the Marcaine group. The rate of failed block was
similar (6.3%) between 2 groups (p>0.05).
Conclusion: Spinal anaesthesia with
its characteristics of fast onset time, good pain relief and musle relaxation,
without problems of general anaesthesia, was considered an appropriate
anaesthetic method for emergency lower abdominal surgery.
Tài liệu tham khảo:
1.
Terrence M.Murphy, M.B, Ch.B: Spinal, Epidural, and Caudal Anesthesia
Anesthesia edited by Ronald D.Miller, MD. p: 635 Churchill Livíngtone 1981
2.
Tôn đức Lang và cộng sự: Tê tủy sống bằng pethidine? Công trình nghiên
cứu khoa học của Bệnh việnViệt Ðức 1981-1985 ,? trang: 223
3.
Curran C, Dickerson SE: Efficacy of intrathecal meperidine as the sole
anesthetic of postppartum tubal ligation: Anesthesiology: 77. Abstract A1004 ,
1992
4.
Acalovschi I et al: Saddle block with pethidine for perinal operations.
Br. J. Anesth, 1986, 58: 1012-1016
5.
Lesley-Ann . L. Crone: Failed spinal anesthesia with sprotle needle?
Anesthesiology: 75 . 717, 1991
6.
Sechzer PH: Subdural space in spinal anesthesia Anesthesiology: 24 ,
869-870, 1991
7.
Cohen CA, Kallos T. Failure of spinal anesthesia due to subdural catheter
placement. Anesthesiology, 37: 352-353, 1972
8.
Eija Nilson. Intrathecal Morphine for post sternotomy pain in patients
with myasthenia gravis . Anesthesiology: 77. Abstract A857 , 1992
9.
James C. Eisenach: Respiratory depression following intrathecal opioids?
Anesthesiology: 75 . 712, 1991
10.
Kenneth Drasner: Repeat injection after a failed spinal. A times, a potentially
unsafe practice. Anesthesiology: 75 . 713, 1991
11.
Palmer CM: Early respiratory depression following intrathecal fentanyl, morphine
combination. Anesthesiology: 74 . 1153-1155, 1991
12.
SK Tsai: Comparative analgesic efficacy of intrathecal Morphine, meperidine,
Fentanyl and Butarphanol. Anesthesiology: 77 . Abstract A829 , 1991
13.
W.R Caman: A comparison of epidural, intrathecal and intravenous sufentalyl for
labor analgesia Anesthesiology: 77 . Abstract 992 , 1992