?Phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumonia)
là nguyên nhân của 40-50% số trường hợp viêm tai giữa cấp (VTGC). Gần đây, với
sự xuất hiện của những chủng đa kháng, việc điều trị theo kinh nghiệm thêm khó
khăn và làm tăng tỉ lệ thất bại điều trị. Để đối phó với sự thay đổi tính nhạy
cảm của S. pneumoniae, Trung tâm Kiểm soát Bệnh (CDC) Hoa Kỳ đă thành lập
Nhóm Nghiên cứu Điều trị S. pneumoniae kháng thuốc, với sự tham gia của nhiều
chuyên gia, nhằm xác định cách sử dụng tốt nhất những số liệu giám sát t́nh h́nh
kháng thuốc để đưa ra những quyết định điều trị hợp lư đối với ba bệnh thường do
phế cầu khuẩn khuẩn gây ra là viêm màng năo, viêm phổi và VTGC. Trong đó, VTGC
được chọn là mục tiêu nghiên cứu đầu tiên của nhóm chuyên gia này. Y văn có liên
quan đă hoặc chưa công bố từ năm 1966 đến nay đă được rà soát lại, thảo luận
nhóm để đi đến ư kiến thống nhất nhằm trả lời 5 câu hỏi: (1) Amoxicillin có c̣n
là kháng sinh tốt nhất đề dùng đầu tiên trị VTGC trong kỷ nguyên phế cầu khuẩn
kháng thuốc ngày càng tăng? (2) Nếu thất bại với amoxillin th́ nên dùng thuốc ǵ
để thay thế? (3) Liệu điều trị VTGC theo kinh nghiệm có thay đổi tùy vùng địa lư
không? (4) Bác sĩ lâm sàng có thể t́m hiểu về t́nh h́nh kháng thuốc ở đâu? (5)
Cần thay đổi ǵ trong giám sát cận lâm sàng để cải thiện tính hữu dụng của thông
tin điều trị VTGC????????????
Dưới đây là trích tóm tắt kết luận của
Nhóm nghiên cứu, tập trung chủ yếu hai vấn đề đầu tiên, có khả năng áp dụng được
đối với thực tiễn của Việt Nam.
Amoxicillin có c̣n là kháng sinh tốt nhất đề dùng đầu tiên trị VTGC trong kỷ
nguyên phế cầu khuẩn kháng thuốc ngày càng tăng?
Hiện nay, amoxicillin vẫn là kháng sinh
được chọn đầu tay để trị VTGC không biến chứng, bất luận t́nh trạng phế cầu
khuẩn kháng thuốc (PCKKT) trong cộng đồng như thế nào. Tuy vậy, cần xét đến việc
tăng liều chuẩn từ đầu. Trong việc chọn thuốc điều trị VTGC, điểm quan trọng đầu
tiên là xét đến hiệu quả chống S. pneumonia, v́: (1) vi khuẩn này là
nguyên nhân của 40-50% số trường hợp VTGC, trong khi Haemophilus influenzae
chỉ chiếm 20-30%, và Moraxella catarrhalis chiếm 10-15%, và (2): tuy hai
loại vi khuẩn sau có những chủng sản xuất beta-lactamase, theo thứ tự là 35% và
90%, nhưng bệnh có khả năng tự khỏi. V́ thế, amoxicillin vẫn là kháng sinh được
chuộng dùng đầu tiên.
Tại Hoa Kỳ, S. pneumonia giảm nhạy
cảm với penicillin (MIC ?0,1
mg/ml) được ghi nhận tại
nhiều vùng khác nhau, với tỉ lệ thay đổi từ 8-34%. Tỉ lệ này ở trẻ em cao hơn ở
người lớn, đặc biệt ở trẻ bán trú (nhà trẻ hoặc mẫu giáo) và trẻ đă dùng kháng
sinh trong ṿng 1-3 tháng trước đây.
Amoxicillin dùng đường uống hữu hiệu đối
với PCKKT và có đặc điểm dược động học tốt nhất (thời gian có MIC90 dài nhất) so
với các kháng sinh khác. Ngoài ra, amoxicillin c̣n những lợi điểm khác như? hiệu
quả lâm sàng và độ an toàn đă được biết rơ, hoạt phổ hẹp hơn so với? các thuốc
khác, và giá rẻ hơn.??
Dùng amoxicillin với liều chuẩn được
khuyến nghị (40-45 mg/kg/ngày), đạt được nồng độ đỉnh trong dịch tai giữa từ 1-6
mg/ml., có thể không đủ để
thanh toán PCKKT ở một số trường hợp. Tuy vậy, hiện nay không có kháng sinh dạng
uống nào thanh toán PCKKT tốt hơn amoxicillin. Tăng liều amoxicillin cao hơn
chưa được FDA chấp thuận. Tuy vậy thuốc đă được dùng khá lâu và không ghi nhận
được độc tính liên quan với liều dùng, nên đối với bệnh nhân có nguy cơ cao dùng
liều amoxicillin 80-90 mg/kg/ngày sẽ hợp lư hơn. Thời gian điều trị không được
nói rơ, nhưng nhiều tác giả chỉ dùng kháng sinh ngắn ngày (5-7 ngày) cho trẻ
trên 2 tuổi và không có biến chứng.
Bệnh nhân ít nguy cơ bị nhiễm PCKKT có thể
dùng amoxicillin 40-45 mg/kg/ngày. Các yếu tố đánh giá nguy cơ nhiễm PCKKT là đă
dùng kháng sinh từ trước, tuổi và gửi nhà trẻ. Như vậy, bệnh nhi trên 2 tuổi,
không dùng kháng sinh trong ṿng 3 tháng trước và không ở bán trú là những đối
tượng thích hợp để dùng liều chuẩn.
Nếu thất bại với amoxillin th́ nên dùng thuốc ǵ để thay thế?
Hiện nay không có kháng sinh dạng uống đơn
thuần nào có thể tiêu diệt hết vi khuẩn gây VTGC. Nhiều kháng sinh được chỉ định
trong VTGC c̣n thiếu bằng chứng thuyết phục đối với nhiễm PCKKT. Do vậy, nếu
thất bại trên lâm sàng với amoxicillin, cần rạch màng nhĩ để xét nghiệm vi khuẩn
học và thử kháng sinh đồ chọn kháng sinh thích hợp. Nếu chọn thuốc thay thế theo
kinh nghiệm, cần đặc biệt lưu ư nguy cơ nhiễm PCKKT và các kháng sinh được dùng
trước đó của bệnh nhân.
Có thể xem là thất bại điều trị khi các
triệu chứng lâm sàng như đau tai, sốt, màng nhĩ căng phồng và đỏ hoặc chảy mủ
tai không cải thiện sau 3 ngày điều trị. Bệnh nhi có triệu chứng không đặc hiệu
của VTGC như tai giữa có nước, sổ mũi, hoặc các dấu hiệu khác đi kèm với nhiễm
siêu vi th́ không xem là thất bại điều trị. Nếu đánh giá sau 10 ngày, th́ cần
phân biệt tai giữa có nước dai dẳng (có thể đến 70% số trẻ được điều trị đúng có
dấu hiệu này) với thất bại điều trị thật sự vốn thường kèm theo triệu chứng đặc
hiệu của nhiễm khuẩn đang diễn tiến.???
Bảng 1. Khuyến nghị điều trị viêm tai giữa cấp đối với trẻ
em đă hoặc chưa dùng kháng sinh trong tháng trước
|
Đă dùng KS
|
Ngày 0
|
Xác định thất bại lâm sàng vào ngày 3
|
Xác định thất bại lâm sàng vào ngày 10
|
|
Không
|
Amoxicillin liều cao?; amoxicillin liều thường dùng
|
Amoxicillin-clavulanat liều cao; cefuroxim acetil;
ceftriaxon TB. ?
|
Như ngày 3
|
|
Có
|
Amoxicillin liều cao; amoxicillin-clavulanat liều cao;
cefuroxim acetil
|
Ceftriaxon TB?; clindamycin? hoặc rạch màng nhĩ
|
Amoxicillin-clavulanat liều cao; cefuroxim acetil;
ceftriaxon TB? hoặc rạch màng nhĩ.
|
? Liều cao amoxicillin: 80-90 mg/kg/ngày. Liều cao
amoxcillin-clavulanat: amoxicillin 80-90 mg/kg/ngày + clavulanat 6,4
mg/kg/ngày.(cần dùng chế phẩm mới để đạt clavulanat 10 mg/kg/ngày).
? Chỉ hiệu quả trong thất bại điều trị VTGC nếu dùng 3 ngày,
mỗi ngày tiêm 1 lần.
? Clindamycin không hữu hiệu với Haemophilus influenzae
hoặc Moraxella catarrhalis.
Nếu đúng là thất bại điều trị, trừ khi đă
phân lập được vi khuẩn gây bệnh, nên dùng kháng sinh vừa hữu hiệu với vi khuẩn
sinh beta-lactamase, vừa diệt được PCKKT, như khuyến nghị trong Bảng 1. Các
kháng sinh đạt hai tiêu chuẩn trên có thể dùng để thay thế bao gồm
amoxillin-clavulanat (nhất là dùng liều cao với thành phần amoxicillin 80 - 90
mg/kg/ngày), cefuroxim axetil và ceftriaxon tiêm bắp.
Ceftriaxon có lợi điểm là có thể tiêm một
liều duy nhất 50 mg/kg, nhưng dùng liều duy nhất sẽ không hiệu quả bằng dùng
liệu tŕnh 10 ngày amoxicillin-clavulanat chuẩn. Hiệu quả của ceftriaxon được
cải thiện khi tiêm ba ngày liên tiếp, đặc biệt đối với trẻ đă dùng những kháng
sinh khác nhưng thất bại. Liều duy nhất ceftriaxon chỉ dùng trong trường hợp
nhiễm vi khuẩn c̣n nhạy cảm với penicillin. Trong VTGC, kinh nghiệm lâm sàng
dùng loại thuốc tiêm này c̣n ít so với dạng uống. Do vậy cephalosporin dạng tiêm
chỉ nên dành cho bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng.??
Hai thuốc khác là cefprozil và cefpodoxim
có hoạt tính
in vitro chống một số chủng PCKKT, nhưng chưa đủ chứng cứ trên thử nghiệm
lâm sàng, do vậy không nên dùng làm thuốc thay thế. Cefaclor, cefixim,
loracarbef và ceftibuten có hoạt tính chống H. influenzae và M.
catarrhalis, nhưng kém hiệu lực với S. pneumoniae, nhất là PCKKT, so
với các thuốc khác.
Hiện nay,
trimethoprim/sulfamethoxazol (TMX/SMP) và các macrolid không c̣n được dùng trong
VTGC, v́ tỉ lệ kháng cao và có hiện tượng kháng chéo giữa hai thuốc này với các
thuốc thuộc nhóm beta-lactam. Do vậy, bệnh nhân thất bại điều trị với
amoxicillin dễ có khả năng kháng với TMX/SMP hoặc macrolid. Khác với hiện tượng
lờn thuốc beta-lactam có thể khắc phục bằng cách tăng liều, một khi macrolid đă
bị kháng th́ không nên dùng. Phế cầu khuẩn kháng erythromycin cũng đề kháng các
macrolid mới như clarithromycin hoặc azithromycin.?
Vài kháng sinh thuộc nhóm fluoroquinolon
gần đây đă được chấp nhận dùng trong nhiễm khuẩn hô hấp (grepafloxacin,
levofloxacin, sparfloxacin, trovafloxacin). Khác với các thuốc thế hệ cũ
(ciprofloxacin, ofloxacin) những thuốc mới này có hoạt tính cao với phế cầu
khuẩn và có thể dùng trị PCKKT, nhưng hiện không được chấp nhận dùng thường quy
trên trẻ em.
Sau cùng, tuy khó thực hiện được trong
điều kiện thực hành hàng ngày, việc rạch màng nhĩ để cấy vi khuẩn và thử độ nhạy
cảm là cần thiết để có hướng chọn lựa điều trị trong những trường hợp khó.
Sơ đồ 1. Khuyến nghị của CDC để điều trị viêm tai giữa cấp
ở trẻ em trong kỷ nguyên phế cầu khuẩn kháng thuốc
|
|
BN có triệu chứng viêm tai giữa cấp
|
|
|
 
|
|
|
|
|
Đánh giá nguy cơ nhiễm S. pneumoniae kháng-penicillin (SPKP) (bao gồm
mới dùng kháng sinh, tuổi, gửi bán trú) nếu nghi có SPKP
|
|
|
|
|
|
|
 Hết
triệu chứng Ngưng điều trị
|
Dùng amoxicillin 80-90 mg/kg/ngày (nếu không nghi SPKP th́ dùng 40-45
mg/kg/ngày)
|
|
|
|
|
|
|
  
|
Thất bại điều trị sau 3 ngày dùng thuốc (không cải thiện - đau tai; sốt;
màng nhĩ đỏ và căng phồng, hoặc chảy mủ tai)
|
|
|
|
|
|
|
Cefuroxim ?axetil 30 mg/kg/ngày
|
|
Amoxicillin-clavulanat 80-90 mg/kg/ngày (vơi liều clavulanate vẫn giữ ~10
mg/kg/ngày)
|
|
Nếu nhiễm khuẩn nặng, tiêm bắp ceftriaxon 1 lần/ngày
?3 ngày
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tóm lại, trước sự lan rộng nhanh
chóng của PCKKT và tác động của t́nh h́nh này trên việc xử trí VTGC ở trẻ em,
Nhóm nghiên cứu của CDC khuyến nghị như sau (Sơ đồ 1): Amoxillin là kháng sinh
được chọn đầu tay trong VTGC, liều khởi trị nên tăng lên 80-90 mg/kg/ngày. Nếu
xác định là thất bại sau 3 ngày điều trị, nên thay bằng một thuốc khác sau khi
đă xem xét khả năng nhiễm các chủng kháng thuốc và thuốc thay thế này phải chống
được PCKKT và các vi khuẩn sinh beta-lactamase. Có ba thuốc đạt được những yêu
cầu này là amoxicillin-clavulanat dạng uống, cefuroxim axetil dạng uống và
ceftriaxon tiêm bắp. Cho đến nay, những số liệu thu thập ở bệnh viện và báo cáo
thống kê y tế không có tính chất đại diện cho nhiễm phế cầu khuẩn trong VTGC ở
trẻ em trong cộng đồng nên hiếm được dùng để hướng dẫn việc quyết định điều
trị.?
BS Nguyễn đức Xuyên tóm dịch theo
Dowell S.F. et al, Pediatr Infect Dis. 1999; 18:1-9.