Polưp mũi xoang (PMX) là hệ quả của một sự
thoái hoá phù nề nhiều chỗ của niêm mạc mũi có bản chất viêm mạn tính. PMX là u
lành tính thường gặp nhất ở vùng mũi xoang, hiện diện trên hơn 25% BN bị suyễn,
viêm mũi và viêm mũi xoang mạn tính. Vị trí xuất phát thường là niêm mạc thành
ngoài hốc mũi, ở khe mũi giữa, ở xoang sàng trước, xoang hàm.(1) Từ
xoang, mô bệnh chui qua lỗ thông mũi xoang để vào trong hốc mũi. Khám thấy được
u dạng polưp bằng soi mũi trước hay nội soi.
Về đại thể: Điển h́nh là những khối mềm,
trơn láng, hơi trong suốt, có màu hồng, xanh xám, ngả vàng, ít chảy máu. Polyp?
mũi có khi đơn độc, nhưng thường mọc thành chùm, chiếm đầy hốc mũi, các xoang,
cả hai bên.
Vi thể:(1,2) tổn thương đa
dạng, ở nhiều mức độ khác nhau.
+Biểu b́: bị thoái triển thành biểu b́ đa
tầng, nổi bật là sự hư? hoại của tế bào lông, màng đáy dày lên và không liên
tục.
+ Mô đệm có những biến đổi rơ nhất: T́nh
trạng giăn rộng của các tuyến nhày thành nang, kích thước không đều. Vắng mặt
các tuyến nhày-thanh dịch (vốn là đặc trưng của niêm mạc cuốn giữa và dưới). Sự
tụ tập các loại tế bào viêm, đặc biệt là các tế bào đa nhân ái toan.
Nguyên nhân và bệnh sinh của PMX vẫn chưa
được làm sáng tỏ hoàn toàn. Gần đây nhiều thành tựu trong nghiên cứu cơ bản cho
thấy bệnh sinh chủ yếu của PMX là t́nh trạng viêm thường trực, mạn tính tại chỗ.
Bệnh lư này do nhiều nguyên nhân phối hợp: giải phẫu, di truyền, dịch thể, tế
bào, thần kinh, nhiễm trùng, chấn thương.
Bệnh có khi bệnh xuất hiện nguyên phát, có
khi phối hợp với những bệnh khác như suyễn, tam chứng Widal, viêm nang xơ. PMX
có thể là một biểu hiện của rối loạn niêm mạc đường hô hấp của tuyến ngoại tiết
(như muco-viscodose), bệnh của chất nhầy (hội chứng Young), bệnh của lông chuyển
như rối loạn vận động lông chuyển nguyên phát.
Triệu chứng chính gây ra bởi polưp mũi là
nghẹt mũi và mất khứu giác. Mục đích của trị liệu là lấy bỏ polưp đi. Có thể
dùng hai cách: nội khoa và phẫu thuật.
Điều trị NỘI KHOA
Dành cho các polưp c̣n nhỏ và vừa.
Dùng glucocorticoid?
PMX được thành lập cơ bản là do phản ứng
viêm, vậy phải điều trị bằng thuốc kháng viêm. Các loại gluco-corticoid là những
thuốc được chọn hàng đầu. Gluco-corticoid là những chất kháng viêm mạnh, dùng
theo đường toàn thân và tại chỗ đều có tác dụng tốt. Điều không may là polưp
thường tái phát sau khi ngưng thuốc.
Tác động? cơ bản của glucocorticoid là
ngăn trở hoạt động của phospholipase A2 qua trung gian lipocortin. Thuốc chận
đứng quá tŕnh viêm từ đầu ở phản ứng tạo arachidonic acid từ phospholipid màng
và do vậy, ngăn chận sự tạo lập prostaglandin và leucotrien. Qua cơ chế này,
thuốc tác động lên mọi giai đọan của quá tŕnh viêm trong mô:
- Giai đoạn mạch máu: điều chỉnh lại t́nh
trạng giăn mạch, điều chỉnh độ thẩm thấu của thành mạch. Như vậy làm giảm phù nề
và giảm đau.
- Giại đoạn tế bào: giảm hóa ứng động,
giảm tụ tập của tế bào viêm, giảm hoạt động thực bào, củng cố màng của các
lysosom của các tế bào đa nhân và thực bào, ngăn chận sự phóng thích các enzym
làm duy tŕ và phát triển hiện tượng viêm.
- Giai đoạn thành sẹo: với tác động trên
những yếu tố tăng trưởng, tác động trên sự tăng sinh các tế bào sợi, tác động
trên sự tổng hợp collagen và mucopolysacharid.
Tuy nhiên, glucocorticoid có nhiều tác
dụng phụ từ hoạt tính mineralocorticoid như: nguy cơ cao huyết áp, mất potassium
và giữ nước. Có thể gây tiểu đường, làm chậm phát triển cơ thể và loăng xương.
Làm teo cơ bởi tác dụng ngăn trở sự tổng hợp protein. Do ức chế hoạt động của
trục vỏ năo-thượng thận, glucocorticoid gây nguy cơ suy thượng thận khi ngưng
thuốc hay khi có agression. Ngoài ra glucocorticoid c̣n gây loét dạ dày tá
tràng, ảnh hưởng tâm thần kinh.
Những tác dụng phụ khá nguy hại của
glucocorticoid khiến thầy thuốc phải cân nhắc lợi hại khi cho toa, sao cho sự
trị liệu đạt hiệu quả tối đa với một nguy cơ tối thiểu. Đây là nguyên nhân thúc
đẩy khuynh hướng thiên về dùng glucocorticoid tại chỗ hơn là toàn thân.
Điều trị bằng glucocorticoid toàn thân:
Có rất ít những nghiên cứu về chỉ định,
liều lượng, cách dùng và kết quả của việc trị liệu PMX bằng glucocorticoid đường
toàn thân.
Peynègre và Serrano(3) nêu 3 cách dùng glucocor-ticoid:
?
Điều trị liên tục: không dùng cho PMX trừ khi BN bị kèm theo suyễn nặng-lệ thuộc
glucocorticoid.

? Điều trị ngắn hạn:
dùng không quá 10 ngày. Cách dùng này cho phép ngưng glucocorticoid đột ngột,
không cần cho liều giảm lần. Nên dùng loại glucocorticoid có thời gian bán hủy
ngắn như prednison, prednisolon, methyl-prednisolon. Dùng một liều duy nhất
1mg/kg /ngày, uống vào buổi sáng, đúng vào chu kỳ sinh học tiết glucocorticoid
của cơ thể. Có hiệu quả cao trên PMX. Nếu có bội nhiễm, dùng thêm kháng sinh.
Không cần theo dơi ǵ đặc biệt đối với BN. Tuy nhiên, không nên dùng quá 3 lần
trong một năm.
?
Điều trị theo chu kỳ: Trường phái Pháp [Rouvier]. Dùng glucocorticoid dài ngày,
theo những qui tắc nhất định. Thường dùng tiếp theo sau một đợt điều trị ngắn
hạn. Cho liều tối thiểu có hiệu quả (0,1-0,3 mg/kg/ngày). Nên chọn prednisolon
hay prednison. Ví dụ:
- Uống một liều, hai ngày một lần, trong
một tuần.
- Rồi uống một tuần, nghỉ một tuần, trong
hai tháng;
- Rồi uống một tuần, nghỉ hai tuần, trong
hai tháng;
- Rồi uống một tuần, nghỉ ba tuần, trong
hai tháng.
Với kiểu dùng thuốc này, BN buộc phải được
theo dơi sát những hằng số sinh học, theo chế độ kiêng muối, giảm ăn chất bột.
Sự kiểm soát thường khó khăn v́ mức độ đáp ứng với glucocorticoid của từng BN
rất khác nhau.
Theo Bernstein,(1)
glucocorticoid đường toàn thân chỉ định cho những trường hợp polưp nặng, gây tắc
mũi. Chủ trương dùng ngắn hạn (không quá 2-3 tuần). Nếu không hiệu quả, nên phẫu
thuật, nếu có hiệu quả, tiếp tục dùng corticoid tại chỗ.?
Liều lượng dùng Prednisolon:
- 40mg/ ngày/ trong 3 ngày.
- 30mg/ ngày/ trong 3 ngày
- 20mg/ ngày/ trong 3 ngày
- 10mg/ ngày/ trong 3 ngày
- cuối cùng cho 3 lần 10mg, mỗi 2 ngày
Điều trị bằng glucocorticoid tại chỗ:
Từ 1962, thử nghiệm lần đầu tiên bằng
dexamethason cho thấy có nhiều phản ứng phụ toàn thân và tại chỗ. [Boxer]. Năm
1974, một tiến bộ quan trọng tổng hợp được thế hệ thứ hai của glucocorticoid là
beclomethason dipropionat. Sau đó là các glucocorticoid dùng tại chỗ mới lần
lượt xuất hiện: flunisolid, budesonid, fluticason. với hoạt tính cao hơn, liều
sử dụng ít hơn, an toàn hơn
Hiện nay, đây là phương pháp tốt nhất được
chọn lựa do những đặc tính:
? Tác dụng trực tiếp, hiệu quả cao trên vùng mũi xoang.
Howland, 1996(4) đă so sánh tác
dụng của fluticason tại chỗ và toàn thân trong thí nghiệm điều trị viêm mũi dị
ứng bằng fluticason propionat trên 4 nhóm BN trong 2 tuần: Nhóm 1 được dùng
fluticason propionat tại chỗ 200microgram/ ngày. Nhóm 2 dùng fluticason
propionat uống, 5mg/ ngày. Nhóm 3 dùng fluticason propionat uống, 10mg/ ngày.
Nhóm 4 dùng giả dược.
Kết quả được đánh giá bởi thầy thuốc và
BN: các triệu chứng nhảy mũi, chảy mũi, nghẹt mũi, ngứa trong mũi giảm rơ rệt ở
nhóm dùng tại chỗ so với 2 nhóm sử dụng thuốc uống.
?
Glucocorticoid tại chỗ có tác dụng rơ rệt trên các tế bào viêm. Nghiên cứu của
Johnson M.(5)1995 qua trên BN dùng Fluticason propionat xịt tại mũi
cho thấy Fluticason propionat ức chế đáng kể số lượng dưỡng bào (mast cell)
trong niêm mạc mũi, ngăn chặn sự giải hạt của tế bào này. Ngoài ra c̣n ức chế sự
tăng sinh tế bào lympho T, giảm lượng interleukin-5 (IL-5) và giảm yếu tố kích
hoạt tiểu cầu (platelet activating factor) là yếu tố kích thích sự tập trung
eosinophil tại phổi.
?
Glucocorticoid tại chỗ làm giảm rơ rệt kích thước polưp. Homberg K., Juliusson
S., năm 1997,(6)? thử nghiệm dùng glucocorticoid tại chỗ trên 55 BN
bị polưp mũi lâu ngày trong thời gian 26 tuần. Nhóm 1 dùng fluticason propionat
tại chỗ, 200
mg x 2 lần/ ngày. Nhóm
2 dùng beclomethason dipropionat tại chỗ 200
mg/ 2 lần/ ngày. Nhóm 3 dùng
giả dược. Kết quả được đánh giá dựa trên triệu chứng nghẹt mũi, kích thước polưp
(thang điểm polyp) và lưu lượng đỉnh khí hít vào qua mũi (peak nasal inspiratory
flow). Có sự cải thiện các triệu chứng và giảm kích thước polyp trên tất cả BN,
tăng lưu lượng đỉnh khí hít vào qua mũi rơ rệt ở hai nhóm dùng fluticason
propionat và beclomethason so với nhóm chứng sau 14 tuần. Nhóm dùng fluticason
propionat cho thấy thời gian thuốc có tác dụng đạt nhanh hơn nhóm beclomethason.
Không có khác biệt về độ dung nạp giữa hai chất trên.
Johansen,(7)1993 chứng minh
hiệu quả của gluco-corticoid trên kích thước polyp trong một nghiên cứu mù đôi,
đa trung tâm (4 ở Đan mạch và 1 ở Thụy điển). Thuốc dùng là? budesonid, 50
mL mỗi bên mũi/ 2lần /ngày= 400
mg và giả dược.
Polyp được phân loại theo: độ 0? (không có
polưp), độ 1 (polưp nhẹ -? polưp nhỏ, c̣n ở trên tầm bờ trên của cuốn dưới, gây
nghẹt mũi nhẹ), độ 2? (polưp trung b́nh - ngang tầm của bờ trên và bờ dưới cuốn
dưới, gây nghẹt mũi), độ 3 (polưp nặng - vượt quá bờ dưới của cuốn dưới, bít tắc
hốc mũi).
BN được phân loại dựa trên polưp lớn nhất
của một bên mũi và tổng của polưp hai bên. Chỉ đưa vào nghiên cứu các BN có
polưp ở độ 2 hoặc nhỏ hơn. Kết quả cho thấy kích thước của các polưp nhỏ và
trung b́nh giảm đáng kể trong đa số các trường hợp. Thuốc không có tác dụng đáng
kể trên các polưp độ 3. Tính chung, khoảng 32% BN có điểm polyp? không thay đổi
sau 3 tháng. Có lẽ cần liều cao hơn (800
mg) và có thể c̣n có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến
polưp. Các triệu chứng kèm theo như nghẹt mũi, nhảy mũi, chảy mũi giảm rơ rệt có
ư nghĩa thống kê so với nhóm chứng.
?
Dung nạp thuốc tại chỗ tốt.
1. Phản ứng phụ tại chỗ hiếm, nhẹ, thường
thoáng qua: kích thích niêm mạc, khô mũi, chảy máu mũi.thường chỉ xuất hiện lúc
khởi đầu trị liệu rồi giảm dần.
2. Tránh được những phản ứng phụ nếu dùng
đường toàn thân. Gần như không có phản ứng phụ toàn thân: tác dụng trên toàn
thân yếu, thời gian bán hủy trong huyết tương ngắn, được chuyển hóa trong gan
nhanh chóng và mạnh mẽ trở thành những chất không hoạt tính.
3. Liều trị liệu rất thấp hơn liều độc.
4. Thời gian bắt đầu có tác dụng tùy theo
loại thuốc. Từ vài ngày (beclomethason) đến chỉ c̣n vài giờ đối với thuốc thế hệ
mới (fluticason).
5.? Cách sử dụng đơn giản: Đa số các thuốc
đều có liều dùng xịt 2 lần/ngày (beclomethason, triamcinolon, budesonid. Chỉ cần
dùng 1 liều đối với các thế hệ thuốc mới hơn: fluticason, mometason.)
Bernstein, 1997, nêu phác đồ:
?
Nếu polưp chưa gây nghẹt mũi: dùng glucocorticoid tại chỗ trong 4-6 tuần.
- Beclometason: xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 2-4
lần/ngày
- Budesonid: xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 2 lần/
ngày hay xịt 1 lần 4 cái vào buổi sáng.
- Flunisolid: xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 2
lần/ ngày.
- Fluticason: xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 1
lần/ ngày.
- Triamcinolon:? xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 1
lần/ ngày.
?
Nếu polưp không giảm th́ điều trị ngắn hạn: Dùng prednisolon 40mg / ngày trong 3
ngày; 3 ngày kế tiếp dùng 30mg / ngày, 20mg trong 3 ngày, rồi 10mg trong 3 ngày;
cuối cùng dùng thêm 10mg mỗi 2 ngày trong 6 ngày.
Không nên dùng glucocorticoid toàn thân
quá 2-3 tuần. Nếu hết đợt trị liệu không hiệu quả, nên nghĩ dến phẫu thuật.
Không nên dùng glucocorticoid tại chỗ
trước cho những BN bi polưp quá lớn. Nên khởi đầu bằng đường toàn thân. Nếu có
hiệu quả, tiếp tục bằng xịt tại chỗ.
Vài thuốc khác:
?
Thuốc chống dị ứng có vai tṛ giới hạn, chỉ dùng phối hợp khi có bằng chứng về
dị ứng.
?
Thuốc tác dụng trên bơm natrium và kalium được chứng minh tác dụng trong vài
nghiên cứu,(2) áp dụng trên người c̣n hạn chế:
- Furosemid
- Amilorid.
?
Thuốc kháng sinh: không thể thiếu được trong t́nh trạng viêm mũi xoang bội
nhiễm, những chất tan đàm (Mucofluidifiants) có tác dụng hỗ trợ.
?
Crenothérapie.
?
Nước muối sinh lư: rửa mũi.
Điều trị PHẪU THUẬT:?
Thường phải phối hợp phẫu thuật với trị
liệu nội khoa.(8) Mục đích phẫu thuật nhằm:
- Tái lập chức năng của mũi, loại bỏ
polyp, làm thông thoáng mũi, tái lập đường dẫn lưu từ các xoang.
- Điều chỉnh các yếu tố bất thường trong
cấu trúc của mũi mà các cấu trúc này tạo thuận lợi cho sự thành lập và tồn tai
của polyp.
- Loại bỏ mô polưp là nơi tích tụ các yếu
tố tăng trưởng, các tế bào viêm là nguyên nhân của polyp.
Chỉ định:
- Polưp lớn gây tắc nghẽn đường thở
- Polưp gây mất khứu giác, không đáp ứng
với trị liệu nội khoa.
- Polưp tái phát, xơ hóa.
- Polưp tái phát gây biến chứng viêm tai,
viêm đường hô hấp dưới, kích hoạt cơn suyễn.ngăn trở sự lành bệnh của viêm mũi
xoang nhiễm trùng.
- Dị dạng giải phẫu học của mũi xoang:
lệch vách ngăn, concha bullosa, quá phát cuốn dưới, VA tồn lưu.
Phương pháp:
Có nhiều kỹ thuật mổ:
?
Cắt polưp đơn thuần: dùng khi mũi bị tắc bởi vài polưp lớn, có thể thực hiện với
gây tê tại chỗ.
?
Mổ qua nội soi, mổ nội soi mũi xoang chức năng (FESS- Functional endoscopic
sinus surgery) có thể dùng trong nhiều chỉ định:
- Cắt chính xác những polưp nhỏ nằm ở
những vị trí quan trọng như khe giữa, lỗ thông mũi xoang, vùng dẫn lưu của xoang
sàng trán.để cắt đứt ṿng luẩn quẩn của viêm mũi xoang. FESS là một chỉ định tốt
cho các polưp tái phát, không đáp ứng với corticoids.
- Trong FESS, có thể kết hợp dùng LASER để
đốt polưp hay dùng dụng cụ vi phẫu cắt lọc (microdebrider).
?
Cắt polưp và mổ xoang (hàm-sàng -bướm) kèm theo qua nội soi hay với kính hiển
vi:
- Khi BN bị viêm mũi xoang tái phát hay
phải cắt polưp nhiều lần trong năm và có những bằng chứng tổn thương xoang trên
CT scan.
- Bệnh nhân bị kèm theo suyễn hay không
dung? nạp aspirin thường bị polưp nặng hơn và bệnh dễ tái phát hơn nên thường có
chỉ định mổ.
Friedman,(8) 1982 thực hiện
phẫu thuật mổ sàng-bướm trên 55 BN có polưp kèm viêm mũi xoang tái phát và
suyễn, ghi nhận rằng đa số BN có thể ngưng dùng hay giảm liều corticoid trong
một thời gian dài; duy tŕ được mũi thông thoáng và tránh hay giảm được tần suất
viêm mũi xoang tái phát. Suyễn giảm hẳn sau khi tái? lập được chức năng của mũi.
Vai tṛ của corticoid tại chỗ trong việc pḥng ngừa polưp tái phát:
Dù phẫu thuật đă được thực hiện tốt, polưp
vẫn tái phát v́ phẫu thuật không trị dứt được bản chất viêm của bệnh polưp.
Trong điều trị bệnh polưp mũi, tuy phẫu thuật? có vai tṛ quan trọng, kháng viêm
tại chỗ vẫn là trị liệu cơ bản, lâu dài.
|

|
Nghẹt mũi kéo dài -
ngửi kém - mất ngửi
|
|
|
|
|
|
|
|
Soi mũi trước - nội soi mũi
|
|
|

|
|
|
|
|
Nếu thấy pôlưp mũi
|
|
|

|
|
|
|
|
Xịt? steroid mũi 4 tuần liền
|
|
|
 
|
|
|
|
Đáp ứng
|
|
Không đáp ứng
|
|
 
|
|
|
|
|
|
UỐNG STEROID
|
|
 
|
Đáp ứng
|
|
|
|
|
???? Không đỡ
|
|
Tiếp
tục xịt steroid mũi
|
|
Phẫu thuật
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Sơ đồ điều trị polưp mũi xoang (theo hội nghị Bali,
2/1999)
kết luận
Điều trị PMX là một công việc lâu dài và
thường xuyên. Trong đa số các trường hợp cần sự phối hợp chặt chẽ giữa điều trị
nội khoa và phẫu thuật.
Summary
Nasal polyps: medical or surgical management?
Nasal polyposis is considered to be a
non-IgE-mediated inflammatory condition of the nose and sinuses, often
associated with chronic non-allergic rhinitis, aspirin intolerance and
non-allergic asthma. The aetiology of nasal polyposis is unknown. The main
symptoms are nasal obstruction and disturbance of the sense of smell. Occlusion
of the nasal passage by a few large polyps could be treated by simple
polypectomy to help the patient breathe through the nose. Other surgical
procedures can be performed, depending on the degree of the disease. The aim of
surgery is to restore the physiological properties of the nose by making the
nose as free from polyps as possible, and to allow drainage of infected sinuses.
Complementary medical treatment of polyposis is always necessary, as surgery
cannot treat the inflammatory component of the mucosal disease. In this respect,
topical corticosteroids have long been the drugs of choice to reduce the size of
polyps, to prevent recurrence after surgery, and are often the main treatment
for the disease in many patients. Fluticasone propionate has now been shown to
be effective as a medical tool in the management of polyposis. Short-term
treatment with systemic corticosteroids is an alternative method of inducing
remission and controlling nasal polyps. However, in most patients with nasal
polyps, treatment consists of both medical and surgical management.
Tài liệu tham khảo
1.
Bernstein JM.? Nasal polyps: finding the cause, determining treament. J
Respir Dis 1997; 18(9): 847-586.
2.
Bernstein JM., Yankaskas J., Increase ion transport in cultured nasal
polyp epithelial cells. Arch Otolaryngol Head Neck Surg. 1994; 120:993-996.
3.
Peynègre R, Coste A., Polypose naso-sinusienne. Encyclopedie
Médico-Chirugicale (Paris) 20-395-A-10.? 1994
4.
Howland WC . Fluticasone propionate: topical or systemic effect. Clin.
Exp. Allergy May, 1996; 26 Suppl 3, 18-22.
5.
Johnson M. The anti-inflammatory profile of fluticasone propionate.
Allergy 1995: 50: 11-14. Munksgaard 1995.
6.
Homberg K., Juliusson S., Fluticasone propionate aqeous nasal spray in
the treatment of nasal polype. Ann. Allergy. Asthma. Immunol 1997 Mar; 78(3):
270-6
7.
Johansen LV., Illum P., Kristensen S., Synnerstad B., The effect of
Budesonide (Rhinocort) in the treatment of small and medium sized nasal polyps.
Clin. Otolaryngol. 1993; 18: 524-527.
8.
FriedmanWH., Katsantonis GP., Salvin RG., et all?? Sphenoidethmodectomy:
Its role in the asthmatic patient. Otolaryngol. Head Neck Surg1982, 90:171- 177.
9.
Burger J., Macek M., Stuhrmann M.,?? Genetic influence in the formation
of nasal polyps.? Lancet?? 1991; 337: 974.
10.
Coste A., Wang Qiu-Ping; Roudot-Thoraval F; Chapelin C.; Bedbeder P.; Peynègre
R,; Escudier E..??? Epithelial Cell Proliferation in Nasal Polyps Regulated By
Platelet-Derived Growth Factor. Laryngoscope. 1996; 106: 23-45
11.
Denburg J., Dolovich J., Ohtoshi T., The microenviron-mental differentiation
hypothesis of airway inflammation.? Am J Rhinol. 1990; 4: 29-32
12.
Elders MJ., Wingfield BS., McNatts ML., Hughes ER.,??? Glucocorticoid Treatment
in Children. Effect on Somato-medin Secretion.? Am J Dis Child? 1975; 129:
1393-1396.
13.
Moneret-Vautrin DA., Wayoff M., Wirte. Le rhinite non allergique à éosinophile.
Du diagnostic clinique aux interrogations pathogeniques. Ann Otolaryngol 1988;
14.
Norlander Tomas, Westrin Karl Magnus, MD, PhD; Fukami Masaya, MD; Stierna
Pontus, MD, PhD; Experimentally Induced Polyps in the Sinus Mucosa: A Structural
Analysis of the Initial Stages.LARYNGOSCOPE, 106:196-203, 1996
15.
Petruson B., Hansson HA., Petruson K. Insuline like growth factor I is a
possible pathogenic mechanism in nasal polyps. Acta Otolaryngol 1988; 106:
156-160.
16.
Serrano E., Percodani J.,Corticotherapie et Polypose naso-sinusienne.? J F ORL
1995; 44: 141-145.
17.
Settipane GA, Chafee SH. Nasal polyp in asthma and rhinitis. A review of 6037
patients. J Allergy Clin Immunol 1977; 46:17-21.
18.
Settipane GA.,? Nasal polyps: Epidemiology, Pathogenesis and Treatment,?
Providence, RI; Oceanside Publications, Inc; 1997: 85-95
19.
Tomas Norlander, MD; Karl Magnus Westrin, MD, PhD; Masaya Fukami, MD; Pontus
Stierna, MD, PhD; Bengt Carlsưư, MD, PhD