WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

B́nh luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

PH̉NG NGỪA TIÊN PHÁT đột quỵ THIẾU MÁU

 


Đột quỵ (stroke) đứng hàng thứ ba trong các nguyên nhân tử vong tại Hoa Kỳ. Hiện nay người ta ước tính có hơn 700.000 trường hợp đột quỵ (ĐQ) mới mỗi năm và 4,4 triệu người sống sót sau sự cố. Hiệp hội Tim Hoa kỳ ước tính trong năm 1999 gánh nặng kinh tế do ĐQ là 51 tỷ đô la (chi phí trực tiếp lẫn gián tiếp). Mặc dù với sự ra đời của trị liệu với chất hoạt hóa plasminogen mô và sự hứa hẹn của các trị liệu thực nghiệm khác trên một số bệnh nhân (BN) chọn lọc bị ĐQ cấp do thiếu máu, cách tiếp cận tốt nhất để giảm gánh nặng của ĐQ vẫn là pḥng ngừa. Các BN có nguy cơ cao hoặc có khuynh hướng dễ bị tai biến có thể được nhận diện và đặt mục tiêu cho các can thiệp đặc hiệu. Điều này quan trọng bởi lẽ các dữ liệu dịch tễ học cho thấy tử vong do ĐQ giảm đáng kể so với trước, trong khi tần suất của ĐQ lại gia tăng.

Tiểu Ban Đột quỵ của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ thành lập một nhóm soạn thảo đặc biệt? để đưa ra một tổng quan rơ ràng và cụ thể về chứng cớ liên quan đến các nguy cơ đă xác định và có thể của ĐQ. Nhóm soạn thảo tham khảo các hướng dẫn đă công bố trước đây, ư kiến chuyên gia hàng đầu, để tóm lược bằng chứng hiện có và đưa ra các khuyến cáo (Bảng 1).

Bảng 1. Mức độ chứng cớ và phân độ các khuyến cáo?

Mức độ chứng cớ

Mức độ I. Dữ liệu từ các nghiên cứu ngẫu nhiên với các sai lầm dương tính giả và âm tính giả thấp.

Mức độ II: Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng với các sai lầm dương tính giả và âm tính giả cao.

Mức độ III: Dữ liệu từ các nghiên cứu thuần tập đồng thời, không ngẫu nhiên.

Mức độ IV: Dữ liệu từ các nghiên cứu thuần tập, không ngẫu nhiên dùng các đối chứng lịch sử.

Mức độ V: Dữ liệu từ các loạt trường hợp có tính chất giai thoại

Độ mạnh khuyến cáo

Độ A được hỗ trợ bởi chứng cớ mức độ I

Độ B đưuợc hỗ trợ bởi chứng cớ mức độ II

Độ C được hỗ trợ bởi chứng cớ mức độ III

YẾU TỐ NGUY CƠ KHÔNG THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC

Mặc dù các yếu tố nguy cơ này không thể thay đổi được, nhưng chúng giúp nhận diện những người có nguy cơ cao nhất bị ĐQ và những người có thể được hưởng lợi từ một dự pḥng nghiêm ngặt hoặc từ trị liệu các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được. (Bảng 2)

Tuổi: Các tác dụng do tuổi tác trên hệ tim mạch và bản chất tiến triển của các yếu tố nguy cơ của ĐQ trong một thời gian dài làm tăng đáng kể nguy cơ ĐQ. Nguy cơ ĐQ tăng gấp đôi theo mỗi thập niên kế tiếp sau tuổi 55. (Brown RD, et al. 1996; Whisnant JP. et al. 1997)

Chủng tộc/ Sắc tộc: Da đen và một số người Mỹ gốc Tây Ban Nha có tần suất và tỉ lệ ĐQ cao hơn so với da trắng. Ví dụ, trong nghiên cứu Atherosclerosis Risk In Communities (ARIC), da đen có tần suất ĐQ cao hơn da trắng 38%. Các lư do có thể của tần suất và tử suất cao hơn này ở da đen gồm có: tỉ lệ bệnh cao huyết áp (HA), béo ph́, và tiểu đường cao hơn trong dân số da đen. Tuy nhiên, tần suất cao hơn của các yếu tố nguy cơ khác này không giải thích tất cả nguy cơ vượt trội. Các nghiên cứu dịch tễ học cũng cho thấy tần suất ĐQ gia tăng trong dân số người gốc Tây Ban Nha. Dân tộc Trung Hoa và Nhật Bản cũng thường có một tần suất ĐQ cao (He J, et al. Stroke. 1995).

Bảng 2. Các yếu tố nguy cơ không thay đổi được

Yếu tố

Tần suất

Nguy cơ tương đối

Tuổi

Tăng gấp đôi tỉ lệ ĐQ mỗi 10 năm sau 55 tuổi

 

Chủng tộc

Da đen: 233/100.000

Da trắng: 93/100.000

Gốc Tây ban nha: 196/100.000

 

Phái tính

Nam: 174/10.000

Nữ: 122/100.000

Tổng cộng:145/100.000

 

Tiền căn đột quỵ/cơn thiếu máu năo thoáng qua

 

Nguy cơ tương đối tiền căn bệnh ở cha: 2,4 (KTC 95%: 0.96-6.03)

Nguy cơ tương đối tiền căn bệnh ở? mẹ: 1,4 (KTC 95%: 0.60-3.25)

 

Phái tính: ĐQ xảy ra ở nam nhiều hơn nữ. Nh́n chung, tỉ lệ tần suất ĐQ chuyên biệt theo tuổi ở nam cũng cao hơn nữ (Wolf PA, et al. 1992). Ngoại trừ ở lứa tuổi từ 35 -44 và ở những người trên 85 tuổi, nữ chiếm một tần suất chuyên biệt theo tuổi cao hơn nam một chút. Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong liên quan đến tai biến ở nữ cao hơn nam. Nh́n chung, 1/6 nữ sẽ tử vong do ĐQ so với 1/25 tử vong v́ ung thư vú. Các t́nh huống như uống thuốc ngừa thai và mang thai góp phần vào nguy cơ ĐQ ở phụ nữ.

Tiền căn gia đ́nh: Tiền căn ĐQ ở cả mẹ lẫn cha có thể tương quan với gia tăng nguy cơ ĐQ (Welin L, et al. 1987;317:521-526.& Kiely DK, et al. 1993). Nguy cơ gia tăng này có thể qua trung gian bởi một số cơ chế bao gồm: tính di truyền của các yếu tố nguy cơ bị ĐQ, sự thừa kế đặc tính dễ bị tác dụng của các yếu tố nguy cơ, cùng chia sẻ trong gia đ́nh các yếu tố văn hóa/ môi trường và lối sống, và sự tương tác giữa các yếu tố di truyền và môi trường. Nghiên cứu trên các cặp song sinh cho thấy những dữ liệu mạnh mẽ gợi ư có tính chất kế thừa gia đ́nh của ĐQ (Liao D, et al. 1997). Các tỉ lệ tương ứng đối với ĐQ ở các căp song sinh đồng hợp tử cao hơn đáng kể so với dị hợp tử. Tỉ lệ ĐQ cao gấp 5 lần hơn ở cặp song sinh đồng hợp tử so với dị hợp tử (Brass LM, et al. 1992).

Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được và có bằng chứng rơ (bảng 3)

Cao huyết áp (HA)

Cao HA là yếu tố nguy cơ chính đối với cả nhồi máu năo lẫn xuất huyết năo (Wolf PA. 1999). Tần suất ĐQ tăng theo tỉ lệ đối với cả HA tâm thu lẫn tâm trương. Mối tương quan này "trực tiếp, liên tục, và rơ ràng độc lập" (MacMahon S, et al.1990). Cao HA tâm thu, có hoặc không cao HA tâm trương, làm tăng nguy cơ ĐQ. Cao HA tâm thu đơn thuần là yếu tố nguy cơ quan trọng của ĐQ ở người cao tuổi (HA tâm thu >160mm Hg và HA tâm trương <90mm Hg).

Trong hơn 30 năm qua đă có chứng cớ thuyết phục là việc kiểm soát cao HA góp phần vào việc ngăn ngừa ĐQ cũng như ngăn ngừa và làm giảm tổn thương cơ quan đích, bao gồm suy tim ứ huyết và suy thận. Một tổng phân tích 18 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên dài hạn cho thấy cả hai trị liệu bằng chẹn b (nguy cơ tương đối 0,71; KTC 95% 0,59-0,86) và lợi tiểu liều cao (nguy cơ tương đối 0,49; KTC 95% 0,39-0,62) có hiệu quả trong ngăn ngừa ĐQ. Việc kiểm soát cao HA tâm thu đơn thuần để ngăn ngừa tai biến ở người cao tuổi đă được nhấn mạnh qua nhiều thử nghiệm lâm sàng. Ví dụ trong Syst-Eur Trial (1997), 4695 BN cao HA tâm thu đơn thuần được chọn ngẫu nhiên để điều trị tích cực bằng thuốc (nitrendipin và nếu có thể enalapril hoặc hydrochlorothiazid để hạ HA tâm thu 20 mmHg) hoặc với giả dược. Thử nghiệm đă ngưng khi ĐQ giảm 42% ở nhóm được trị liệu tích cực. Thử nghiệm Systolic In The Elderly Program (SHEP-1991) cho thấy tần suất của tất cả ĐQ giảm với trị liệu cao HA (chlorthalidon hoặc atenolol.

Khuyến cáo: Tầm soát đều đặn cao HA (ít nhất mỗi 2 năm ở người lớn) và xử trí thích hợp, như tóm tắt trong? báo cáo lần thứ 6 của y Ban Quốc Gia Phối Hợp Về Pḥng Ngừa, Phát Hiện Đánh Giá và Trị Liệu Cao HA được khuyến cáo. (Bảng 5) (Mức độ chứng cớ I, độ A)

Hút thuốc lá

Hút thuốc lá chủ động (vẫn c̣n đang hút) đă được biết từ lâu là yếu tố nguy cơ chính của ĐQ. Hút thuốc lá gây ra giảm giăn nở và đàn hồi mạch máu, khiến cho mạch máu thêm cứng. Hút thuốc lá cũng làm tăng nồng độ fibrinogen, tăng kết tập tiểu cầu, giảm nồng độ cholesterol lipoprotein tỉ trọng cao (HDL), và làm tăng hematocrit (Cruickshank JM, 1989).

Tổng phân tích 22 thử nghiệm lâm sàng cho thấy nguy cơ tương đối nhồi máu năo tăng khoảng 2 lần ở người hút thuốc lá so với người không hút (Shinton R, et al. 1989). Thử nghiệm tiền cứu Framingham Heart Study (1991) ước tính tăng nguy cơ ĐQ khoảng 1,8 lần do hút thuốc lá. Hiện có 25% người lớn là hút thuốc lá chủ động. Như vậy, có 18% các ĐQ được quy thuộc là do hút thuốc lá chủ động (gọi là nguy cơ quy thuộc trong dân số - population attributable risk).

Những người đă từng hút thuốc lá cũng tăng nguy cơ bị ĐQ, việc ngăn ngừa bắt đầu hút thuốc là điều quan trọng trong pḥng ngừa tiên phát ĐQ. Nguy cơ tương đối bị ĐQ của nguời đă từng hút thuốc lá (so với người không hút thuốc lá) là 1,34 trong Nurses Health Study (1993) và 1,26 trong Physician Health Study (1994). Gần đây, CDC ước lượng có 23% người lớn đă từng hút thuốc lá, suy ra nguy cơ quy thuộc trong dân số đối với việc hút thuốc lá trước kia là 6%. Tuy nhiên, nguy cơ ĐQ giảm đáng kể với thời gian ngưng thuốc càng lâu. Nghiên cứu Framingham Heart Study cho thấy nguy cơ ĐQ bằng với mức độ của người không hút thuốc lá sau 5 năm bỏ thuốc (1988). Một nghiên cứu thứ hai cho thấy các nguy cơ ĐQ biến mất từ 2 - 4 năm sau khi ngưng thuốc và lợi ích của việc ngưng thuốc không tùy thuộc vào tuổi lúc bắt đầu ngưng thuốc và số điếu hút mỗi ngày. Wannamethee và CS (1995) kết luận rằng ngưng hút thuốc lá gắn với một lợi ích lớn lao và nhanh chóng trong việc làm giảm nguy cơ ĐQ, đặc biệt ở người hút ít (<20 điếu/ngày). Việc chuyển sang hút ống điếu hoặc xi gà cũng không đem lại lợi ích, điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ngưng hoàn toàn thuốc lá (Wannamethee SG, 1995).

Tránh tiếp xúc với môi trường khói thuốc cũng có thể pḥng ngừa tiên phát ĐQ. Gần 90% những người không hút thuốc lá được phát hiện có nicotin trong huyết tương, là do tiếp xúc với môi trường khói thuốc. V́ tỉ lệ tiếp xúc cao trong dân số, cho nên dù gia tăng nhỏ của nguy cơ tương đối ĐQ do tiếp xúc với khói thuốc của môi trường cũng có thể tạo nên nguy cơ quy thuộc trong dân số đáng kể. Tuy nhiên, sự gia tăng nguy cơ tương đối có thể không nhỏ. Người ta đă nhận thấy là tiếp xúc với khói thuốc trong môi trường, làm tăng nguy cơ các biến cố mạch vành từ 20% - 70%. Ước lượng có khoảng 62.000 tử vong do bệnh mạch vành trong năm 1985 được quy thuộc là do tiếp xúc với khói thuốc môi trường (Wells AJ. 1994).

V́ xơ mỡ động mạch sẽ dẫn đến ĐQ lẫn bệnh mạch vành, nên việc nghi ngờ khói thuốc môi trường là nguyên nhân của một số ĐQ là điều hợp lư. Sau khi đă hiệu chỉnh đối với một số yếu tố có khả năng gây nhiễu (tuổi, phái tính, tiền căn cao HA, bệnh tim, và tiểu đường), Bonita và CS (1999) nhận thấy nguy cơ tương đối ĐQ tăng 1,82 lần (KTC 95% 1,34-2,49) ở những người không hút thuốc lá và những người đă lâu ngưng hút có tiếp xúc với khói thuốc môi trường. Nguy cơ đáng kể 1,82 ở cả nam lẫn nữ là cao đáng ngạc nhiên; v́ ở mức nguy cơ tương đối vừa phải hơn như 1,20, th́ đă thấy nguy cơ quy thuộc trong dân số ước lượng là 12%, dựa trên dân số tiếp xúc là 67,5% (được tính là tỉ lệ tiếp xúc 90% trong 75% dân số không hút thuốc lá).


 

Bảng 3. Các yếu tố nguy cơ biết rơ là thay đổi được

Yếu tố

Tỉ lệ bệnh lưu hành

Nguy cơ quy thuộc trong dân số

Nguy cơ tương đối

Giảm nguy cơ với điều trị

Cao HA (theo nhóm tuổi)

 

 

 

38%

50 tuổi

20%

40%

4,0

 

60 tuổi

30%

35%

3,0

 

70 tuổi

40%

30%

2,0

 

80 tuổi

55%

20%

1,4

 

90 tuổi

60%

O

1,0

 

Hút thuốc lá

25%

12-18%

1,8

50% trong ṿng 1 năm. Mức ban đầu sau 5 năm (Wolf PA, 1988)

Tiểu đường

20%

14-58%

1,8-6

Giảm nguy cơ ĐQ ở người tiểu đường bị cao HA với HA được kiểm soát. Không có lợi ích được chứng minh trong giảm nguy cơ khi kiểm soát đường huyết chặt chẽ; tuy nhiên giảm được các biến chứng khác

Hẹp động mạch cảnh không triệu chứng

2-8%

2-7%(4)

2,0

50%

Bệnh hồng cầu h́nh liềm

0,25% ở người da đen

 

200-400(2)

91%(3)

Tăng lipid máu

8-9% ở người lớn <35 tuổi

25% nam 55t

40% nữ 65?

25%

1,8 đối với TC 240-279 mg/dL

2,6 đối với TC >220mg/dL

20%-30% với statin ở BN có bệnh mạch vành


Rung nhĩ (không do bệnh van tim), nói chung theo nhóm tuổi, yếu tố nguy cơ đă hiệu chỉnh(1)

 

 

50-90 tuổi

0,5%

1,5%

4,0

68% (warfarin)

60-69 tuổi

1,8%

2,8%

2,6

21% (aspirin)

70-79 tuổi

4,8%

9,9%

3,3

 

80-89 tuổi

8,8%

23,5%

4,5

 

Loại nguy cơ

 

Tỉ lệ biến cố/năm

 

<65 tuổi, không có yếu tố nguy cơ

<65 tuổi, với yếu tố nguy cơ

65-75 tuổi, không có yếu tố nguy cơ

65-75 tuổi, có yếu tố nguy cơ

>75 tuổi, không có yếu tố nguy cơ

?? >75 tuổi, có yếu tố nguy cơ

1,0%

 

 

4,9%

 

 

4,3%

 

 

5,7%

 

 

3,5%

 

 

8,1%

 

 

Chú thích: TC=cholesterol toàn phần


(1) Các yếu tố nguy cơ của rung nhĩ: cao HA, tiểu đường, tiền căn đă bị cơn thiếu máu năo thoáng qua/ĐQ, van tim nhân tạo (có thể cần phải đạt International Normalized Ratio cao hơn)

(2) So sánh với nguy cơ ĐQ ở trẻ em không bị bệnh hồng cầu h́nh liềm

(3) Đối với những người bệnh có nguy cơ cao được điều trị bằng truyền máu.

(4) Được tính dựa trên dữ liệu tham khảo được cung cấp trong bảng hoặc bài


Tóm lại, các dữ liệu này cho thấy nguy cơ quy thuộc của mọi h́nh thức tiếp xúc với khói thuốc là đáng kể, tiếp tục hút thuốc góp gần một nửa các biến cố ĐQ (nguy cơ quy thuộc trong dân số đối với việc vẫn tiếp tục hút là 18%, là 6% đối với người đă bỏ thuốc và 12% đối với tiếp xúc khói thuốc môi trường).

Khuyến cáo ngưng thuốc lá đối với tất cả những người hiện đang hút. (Bảng 5) (Mức độ chứng cớ III, độ C; chú ư là mức độ bằng chứng ở đây phản ảnh sự thiếu các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, tiền cứu, so sánh người hút với không hút. Tuy nhiên, dữ liệu từ các nghiên cứu thuần tập và dịch tễ là nhất quán và không thể phủ nhận được).

Tiểu đường, tăng insulin máu và đề kháng insulin.

Tiểu đường phụ thuộc insulin làm tăng khả năng xơ vữa động mạch cũng như? làm tăng tỉ lệ các yếu tố nguy cơ sinh xơ vữa, đáng kể là cao HA, béo ph́, và các bất thường lipid máu. Tập hợp các yếu tố nguy cơ chuyển hóa gọi là hội chứng X cũng đă được nhận biết ở một số người tiểu đường tưp 2. Đặc điểm chính của hội chứng X là tăng insulin máu và đề kháng insulin. Hệ quả là biểu hiện các đặc trưng thứ phát của hội chứng gồm có tăng đường huyết, tăng VLDL-Cholesterol, giảm HDL-C và cao HA.

Các nghiên cứu bệnh - đối chứng trên người bị ĐQ và các nghiên cứu tiền cứu dịch tễ đă xác nhận hiệu ứng độc lập của tiểu đường trên ĐQ thiếu máu, với nguy cơ tương đối ở người bị bệnh tiểu đường từ 1,8 tăng gần gấp 6 lần. Tại Hoa kỳ, từ 1976 đến 1980, tiền căn ĐQ thường gặp ở người bị tiểu đường từ 2,5 - 4 lần nhiều hơn người có dung nạp đường b́nh thường. Trong nghiên cứu Honolulu Heart Program trên những người đàn ông Hạ Uy Di gốc Nhật,? người bị tiểu đường có nguy cơ bị ĐQ do huyết khối lấp mạch cao hơn 2 lần người không bị tiểu đường, sự gia tăng nguy cơ này độc lập với các yếu tố khác (Burchfiel CM, et al. 1994).

Đối với nhồi máu năo, tác động của bất dung nạp glucose ở nữ cao hơn so với nam, đạt mức có ư nghĩa như là một yếu tố góp phần độc lập, và chỉ ở nữ cao tuổi. Nh́n chung, ở người có bất dung nạp glucose, nguy cơ nhồi máu năo cao gấp 2 lần người không bị tiểu đường (Kannel WB, et al. 1979).

Cao HA thường gặp ở người bị tiểu đường tưp 2 với tỉ lệ bệnh từ 40% đến 50% ở người lớn. Kết hợp tăng đường huyết với cao HA từ lâu được biết là làm tăng tần suất các biến chứng của tiểu đường, kể cả ĐQ. Nhiều thử nghiệm lâm sàng gần đây khảo sát ĐQ và các kết cục tim mạch khác, so sánh lợi ích của việc kiểm soát chặt chẽ đường huyết và HA ở người bị tiểu đường loại 2 với việc xử trí kém nghiêm ngặt hơn. Đối với ĐQ tử vong và không tử vong, kiểm soát chặt chẽ HA (HA trung b́nh đạt 144/82 mmHg) làm giảm 44% nguy cơ tương đối so với việc kiểm soát ít chặt chẽ hơn (HA trung b́nh đạt 154/87 mmHg). Lợi ích 44% này cao hơn mức giảm 20% nguy cơ với trị liệu cao HA ở người tiểu đường thấy trong nghiên cứu SHEP (1996). Tuy nhiên, cải thiện kiểm soát đường huyết không làm giảm đáng kể tần suất ĐQ trong 9 năm theo dơi.

Kết luận rút ra từ các nghiên cứu này là kiểm soát chặt chẽ HA ở người tiểu đường làm giảm đáng kể tần suất ĐQ (Lancet. 1998;352:854-865). Các biện pháp hiện nay để kiểm soát đường huyết như trị liệu tích cực để kiểm soát chặt chẽ đường huyết với 3 liều insulin mỗi ngày ở BN tiểu đường tưp I mới mắc cho thấy làm giảm các biến chứng mạch máu nhỏ, bệnh thận, và bệnh vơng mạc, cũng như bệnh thần kinh ngoại biên (Neurol. 1995;38:869-80).

Trong nghiên cứu HOPE (Lancet. 2000;355: 253-259) thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng với giả dược, việc thêm ức chế men chuyển (ƯCMC) ramipril được so sánh với phác đồ thuốc hiện đang dùng hiện nay trên BN có nguy cơ cao. Nghiên cứu trên nhóm phụ 3.577 BN tiểu đường (trong 9.541 người tham gia vào nghiên cứu HOPE), cho thấy giảm đến 25% (KTC 95% 12% đến 36%, P=0,0004) kết cục kết hợp chủ yếu của nhồi máu cơ tim, ĐQ và tử vong do tim mạch. ĐQ giảm 33% (KTC 95% 10% đến 50%, p<0,0074). Lợi ích này vẫn c̣n sau khi đă hiệu chỉnh đối với việc giảm nhẹ HA trong nhóm ramipril. Ngoài ra, c̣n thấy giảm các biến chứng của tiểu đường (bệnh thận lâm sàng, chạy thận nhân tạo, hoặc sự cần thiết trị liệu bằng laser). Các nghiên cứu mới này cho những bằng chứng về pḥng ngừa ĐQ ở người tiểu đường. Kiểm soát HA ở người tiểu đường và trị liệu BN tiểu đường có nguy cơ cao bằng ƯCMC ngăn ngừa được ĐQ.

Khuyến cáo: Kiểm soát thận trọng HA ở BN tiểu đường tưp 1 lẫn 2 (Bằng chứng I, Độ A). Kiểm soát đường huyết để giảm các biến chứng mạch máu nhỏ (Bảng 5).

Hẹp động mạch cảnh không triệu chứng?

Trong nghiên cứu Cardiovascular Health Study (Fine-Edelstein JS, et al. 1994), hẹp động mạch cảnh >50% được phát hiện ở 7% nam và 5% ở nữ 65 tuổi. Tương tự, hẹp 50% được phát hiện ở 7% nữ và ở 9% nam tuổi từ 66 đến 93 trong thuần tập Framingham. Như thế, dường như từ 7% - 10% ở nam và 5% - 7% ở nữ trên 65 tuổi có hẹp động mạch cảnh? >50%.

Nhiều nghiên cứu đă cố gắng nhận dạng các nhóm phụ BN có hẹp động mạch cảnh không triệu chứng là những người có thể có nguy cơ cao bị ĐQ. Nghiên cứu Toronto Asymptomatic Cervical Bruit Study theo dơi một thuần tập 500 người bệnh trong thời gian trung b́nh 23 tháng (Chambers BR, et al. 1986). Nh́n chung, các biến cố thiếu máu năo (cơn thiếu máu năo thoáng qua hoặc ĐQ) thường xảy ra hơn ở BN hẹp động mạch cảnh nặng (>75%), hẹp động mạch cảnh tiến triển, hoặc bệnh tim và ở nam giới. Tổng cộng có 8 BN (1,6%) bị một ĐQ không báo trước; tuy nhiên, chỉ có (0,4%) là cùng bên với hẹp động mạch cảnh ngoài sọ cao độ chứng minh qua siêu âm Doppler.

Trong một nghiên cứu khác, 38 BN không có triệu chứng với hẹp động mạch cảnh trên >90% được theo dơi trong thời gian 48 tháng (Bogousslavsky J, et al. 1986). Mỗi năm, 1,7% số BN này có một ĐQ cùng bên không báo trước. Thử nghiệm lâm sàng NASCET (North American Symptomatic Carotid Endarterectomy Trial. 2000) đă hồi cứu lại các dữ liệu về nguy cơ ĐQ trong vùng tưới máu của động mạch cảnh bị hẹp không triệu chứng đối bên với động mạch có triệu chứng. Nguy cơ ĐQ mỗi năm là 3,2% (trên 5 năm theo dơi) ở BN bị hẹp từ 60% đến 90%). Nguy cơ trung b́nh hằng năm của ĐQ cùng bên tăng từ 3,7% đối với người bị hẹp từ 60% đến 74% và 3,7% đối với những người bị hẹp từ 75% đến 94% và giảm đến 2,9% đối với người bị hẹp từ 95% đến 99%, với một tỉ lệ là 1,9% đối với những người bị hẹp hoàn toàn. Nói chung, 45% các ĐQ cùng bên trên BN hẹp không triệu chứng đối bên với bên hẹp có triệu chứng có thể qui cho các lỗ khuyết hoặc thuyên tắc từ tim, điều này nhấn mạnh sự cần thiết đánh giá đầy đủ các BN này về các nguyên nhân khác của ĐQ có thể điều trị được.

Gộp chung lại các nghiên cứu này và các nghiên cứu quan sát khác cho thấy tỉ lệ ĐQ không báo trước cùng bên với hẹp động mạch cảnh ngoài sọ có ư nghĩa về mặt huyết động học là 1% đến 2% mỗi năm. Điều này là một yếu tố đáng kể trên cơ sở dân số. Một số nghiên cứu gợi ư rằng tỉ lệ ĐQ có thể cao hơn ở người bệnh có hẹp động mạch cảnh tiến triển so với những người có bệnh ổn định và cao hơn ở những người hẹp nặng hơn. Cũng như đối với âm thổi động mạch cảnh không triệu chứng, một hẹp động mạch cảnh không triệu chứng là một chỉ điểm quan trọng của bệnh tim thiếu máu đồng thời (Autret A, et al. 1987).

Nghiên cứu Veterans Affairs Cooperative Study (Mayo Clin Proc. 1992;67:513-518) về phẫu thật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh trên BN bị hẹp động mạch cảnh không triệu chứng bao gồm 444? nam được theo dơi trung b́nh 48 tháng. 211 BN được điều trị nội khoa tối ưu cộng phẫu thật cắt bỏ lớp nội mạc động mạch cảnh, và 233 được điều trị nội khoa đơn thuần (bao gồm 650mg aspirin, 2 lần/ngày). Hẹp động mạch cảnh ngoài sọ >50% được chứng minh bằng chụp mạch máu. Nguy cơ kết hợp của quanh phẫu thuật và do chụp mạch máu là 4,7%. Nguy cơ kết hợp của thiếu máu năo thoáng qua cùng bên, mù một mắt thoáng qua, và ĐQ trong 2 năm giảm (P<0,001). Mặc dù tỉ lệ ĐQ ở nhóm phẫu thuật là 4,7% so với 9,4%, hoặc 1,2%/năm so với 2,4%/năm, nhưng sự khác biệt không có ư nghĩa thống kê (p=0,08).

Nghiên cứu ACAS (The Asymptomatic Carotid Athe-rosclerosis Study) là một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên thăm ḍ hiệu quả của phẫu thật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh trên BN hẹp động mạch cảnh không triệu chứng cao độ (giảm >60% khẩu kính). 1662 BN được chọn ngẫu nhiên để phẫu thuật cùng với trị liệu nội khoa (n=828) hoặc trị liệu nội khoa mà không phẫu thuật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh (n=834). Nguy cơ biến chứng liên quan đến chụp mạch máu là 1,2% trong số 424 BN được chụp sau khi đă chọn ngẫu nhiên và nguy cơ tập hợp ĐQ quanh phẫu thuật là 2,3%. Nghiên cứu chấm dứt sau một thời gian trung vị theo dơi 2,7 năm (4465 BN/năm) v́ đă thấy được lợi ích có ư nghĩa của phẫu thuật. Tỉ lệ tập hợp của ĐQ cùng bên, bất kỳ ĐQ quanh phẫu thuật, hoặc tử vong ở BN được phẫu thuật được ước lượng khoảng 5% trong ṿng 5 năm; BN được điều trị nội khoa, tỉ lệ tương ứng là 11% (giảm nguy cơ 53%, tỉ lệ xảy ra biến cố/năm là 2% giảm xuống c̣n 1%/năm; P=0,004). Không thấy sự tương quan giữa lợi ích và độ nặng của hẹp động mạch cảnh. Lợi ích không thấy có ở nữ (giảm nguy cơ không có ư nghĩa 17% ở phụ nữ [KTC 95% 0,96 đến 0,65} so với giảm nguy cơ 66% ở nam [95% KTC 0,36 đến 0,82]}, sự khác biệt được qui là do tỉ lệ biến chứng quanh phẫu thuật cao hơn ở nữ (3,6% so với 1,7%).

Cần lưu ư rằng lợi ích của phẫu thuật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh trong bối cảnh hẹp không triệu chứng tùy thuộc rất nhiều vào nguy cơ phẫu thuật. Tuy thế, đa số thầy thuốc không biết được tỉ lệ các biến chứng của nhà phẫu thuật mà ḿnh gởi BN đến phẫu thuật.

Khuyến cáo: Có thể chỉ định phẫu thuật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh cho BN hẹp động mạch cảnh không triệu chứng, thực hiện bởi nhà phẫu thuật có tần suất biến chứng / tử suất <5%. (Mức độ bằng chứng I, độ A). Cần lựa chọn kỹ BN theo các tiêu chí như bệnh trạng đi kèm, tuổi thọ mong đợi, và sự lựa chọn của người bệnh, cũng như các yếu tố cá nhân khác bao gồm phái tính, và tiếp theo là một thảo luận toàn diện về nguy cơ và lợi ích của thủ thuật. Điều quan trọng là đánh giá đầy đủ về các nguyên nhân khác của ĐQ có thể trị liệu được trên BN bị hẹp động mạch cảnh không triệu chứng (xem bảng 5).

Rung nhĩ

Rung nhĩ là một loạn nhịp thường gặp và là một yếu tố nguy cơ quan trọng của ĐQ đă có nhiều bằng chứng cho thấy nếu trị liệu hữu hiệu có thể ngăn ngừa ĐQ. Nguy cơ ĐQ hàng năm trên BN bị rung nhĩ không do bệnh van tim là 3% đến 5%, và là nguyên nhân của 50% các ĐQ do huyết khối lấp mạch (Wolf PA, et al. 1991). Vào khoảng 2/3 các ĐQ xảy ra trên BN rung nhĩ là do thuyên tắc từ tim. Trung vị của tuổi BN bị rung nhĩ là 75 tuổi. Nghiên cứu Framingham Heart Study ghi nhận có gia tăng nguy cơ ĐQ theo tuổi BN rung nhĩ: từ 1,5% đối với người từ 50 - 59 tuổi, đến 23,5% đối với người từ 80 - 89 tuổi. Ngoài ra, BN rung nhĩ có tỉ suất nguy cơ (OR) tử vong ở đàn ông là 1,5% (KTC 95%: 1,5-1,8) và ở phụ nữ là 1,9 (KTC 95%: 1,5-2,2) sau khi đă hiệu chỉnh đối với các yếu tố nguy cơ khác.

Có 5 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với giả dược thăm ḍ hiệu quả của warfarin trong pḥng ngừa tiên phát ĐQ huyết khối lấp mạch, bao gồm: Copenhagen Atrial Fibrillation Aspirin And Anticoa-gulation (AFASAK- 1989), Boston Area Anticoagulation Trial For Atrial Fibrillation (BAATAF-1990), Stroke Prevention In Atrial Fibri-llation I (SPAFI-1991), Vete-rans Affairs Stroke Prevention In Atrial Fibrillation (SPINAF- 1992), và Canadian Atrial Fibrillation Anticoagulation (1991).

Hiệu quả của aspirin được nghiên cứu ở 2 trong số các nghiên cứu này (AFASAK và SPAFI). Phân tích tổng hợp 5 thử nghiệm lâm sàng này cho thấy nguy cơ tương đối của ĐQ huyết khối lấp mạch đối với BN được điều trị bằng warfarin giảm 68%.

Một nhận xét quan trọng từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên là yếu tố tiên liệu nguy cơ cao ĐQ trong dân số những người bị rung nhĩ c̣n hạn chế. Các yếu tố tiên liệu nguy cơ cao gồm có: tuổi cao, tiền căn cơn thoáng thiếu máu năo thoáng qua hoặc ĐQ, cao HA tâm thu >160mm Hg), tiền căn cao HA, suy chức năng thất trái, tiểu đường, và nữ trên 75 tuổi. Kháng đông uống lâu dài ở người bệnh có các đặc điểm nguy cơ cao này làm giảm 68% nguy cơ ĐQ dựa trên các kết quả phân tích theo dự tính của các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên và giảm đến 80% khi trị liệu có tác dụng.

Khuyến cáo: Trị liệu chống huyết khối (warfarin hoặc aspirin) nên được đặt ra đối với BN bị rung nhĩ không do bệnh van tim dựa trên đánh giá nguy cơ? thuyên tắc và nguy cơ các biến chứng xuất huyết (Bảng 4 và 5) (Mức độ bằng chứng I, độ A)

Các bệnh tim khác

Các loại bệnh tim khác góp phần vào nguy cơ tuy nhỏ nhưng chắc chắn của ĐQ huyết khối lấp mạch bao gồm: bệnh cơ tim giăn nở, bệnh van tim (bệnh sa van hai lá, viêm nội tâm mạc, và van tim nhân tạo), các khiếm khuyết bẩm sinh tại tim (ví dụ c̣n lỗ bầu dục), thông liên nhĩ, và ph́nh vách nhĩ). Nh́n chung, ước lượng khoảng 20% ĐQ thiếu máu là do thuyên tắc từ tim. Nguyên nhân của 40% các ĐQ vô căn có khả năng bắt nguồn từ tim trong một số trường hợp xảy ra ở những người trẻ.

Sự hiện diện của bệnh mạch máu năo liên quan mạnh đến sự hiện diện của bệnh tim có và không có triệu chứng. Ngược lại, dựa trên nghiên cứu Framingham Heart Study, 8% nam và 11% nữ sẽ bị ĐQ trong ṿng 6 năm sau khi bị nhồi máu cơ tim. Ngoài ra, nhồi máu cơ tim có tương quan với sự h́nh thành rung nhĩ và là nguồn gốc thường thấy của thuyên tắc do tim. Tuy nhiên, nhồi máu cơ tim cấp thường không đi kèm với ĐQ, xảy ra trong 0,8% BN. Đa số các ĐQ này (trong 0,6% BN) là ĐQ thiếu máu (Mahaffey KW, et al. 1999).

ĐQ quanh phẫu thuật xảy ra trong 1% - 7% BN được phẫu thuật tim (chủ yếu thủ thuật mổ bắc cầu động mạch vành và mổ tim hở). Tiền căn các biến cố thần kinh, tuổi càng cao, tiểu đường, và rung nhĩ là các yếu tố nguy cơ xảy ra ĐQ sớm và muộn sau mổ tim. Các yếu tố khác liên quan đến ĐQ bao gồm thời gian của tuần hoàn ngoài cơ thể và sự hiện diện của xơ vữa động mạch chủ.

Bệnh hồng cầu h́nh liềm

Bệnh hồng cầu h́nh liềm là một rối loạn di truyền thể trội trong đó gen bất thường sản xuất ra một chuỗi b bị biến đổi trong cấu trúc của hemoglobin. Mặc dù các biểu hiện lâm sàng rất thay đổi, bệnh hồng cầu h́nh liềm thể hiện điển h́nh sớm lúc mới sinh như là một thiếu máu tán huyết nặng, ngắt quăng bởi những đợt đau ở tứ chi và xương ("các cơn tắt mạch"), nhiễm trùng, và nhồi máu các phủ tạng, kể cả ĐQ. Ngoài ra, c̣n có các ảnh hưởng toàn thân bao gồm chậm tăng trưởng và chậm phát triển nhận thức (Adams RJ. 1994).

Pḥng ngừa ĐQ là điều quan trọng nhất đối với BN bị bệnh hồng cầu h́nh liềm đồng hợp tử. Tỉ lệ ĐQ ở các BN này ở lứa tuổi 20 ít nhất là 11% và một số đáng kể BN này có các ĐQ "thầm lặng" qua h́nh ảnh chụp? cộng hưởng từ. Tỉ lệ ĐQ xảy ra cao nhất ở lứa tuổi rất trẻ. Các tiến bộ gần đây trong phát hiện nguy cơ bằng Doppler xuyên sọ đă đặt ưu tiên pḥng ngừa tiên phát ĐQ cho trẻ bị bệnh hồng cầu h́nh liềm. Nguy cơ ĐQ ở lứa tuổi trẻ là 1%/năm, nhưng ở BN có bằng chứng tỉ lệ cao của vận tốc lưu lượng máu năo trên Doppler xuyên sọ (vận tốc trung b́nh ước tính theo thời gian bằng 200cm/giây) có tỉ lệ ĐQ vượt trội là 10%/ năm (Adams RJ, et al. 1997).

Nghiên cứu ngẫu nhiên STOP (Stroke Prevention Trial In Sickle Cell Anemia- 1998) vừa mới hoàn tất, so sánh việc truyền máu định kỳ với chăm sóc chuẩn ở 130 trẻ bị bệnh hồng cầu h́nh liềm, tuổi từ 2 đến 16, trung b́nh 8 tuổi). Truyền máu được thực hiện trung b́nh 14 đợt mỗi năm trong >2 năm ở nhóm trị liệu, với mục tiêu là làm giảm Hb S mức đầu từ 90% đến 95% của Hb toàn phần xuống c̣n <30%. Thử nghiệm chấm dứt sớm 16 tháng vào thời điểm xảy ra 11 ĐQ trong nhóm được chăm sóc chuẩn so với một ĐQ trong nhóm được truyền máu. Nguy cơ ĐQ giảm 10% cho đến <1%/năm. Do các kết quả này, khuyến cáo tầm soát tất cả trẻ em bị bệnh hồng cầu h́nh liềm không có tiền căn ĐQ, và xét đến việc truyền máu cho những trẻ có hai khảo sát bất thường qua Doppler xuyên sọ.

Đến nay, khoảng thời gian cần thiết để truyền máu chưa được xác định. Truyền máu lâu dài luôn đi kèm với độc tính sắt cần phải được giải độc. Trong nghiên cứu STOP, không thấy có bằng chứng của nhiễm trùng liên quan với truyền máu, nhưng điều này và vấn đề miễn dịch cùng loài vẫn là một nguy cơ của truyền máu. Vai tṛ của kháng đông và các thuốc chống kết dính tiểu cầu chưa được đánh giá. Ngoài Doppler xuyên sọ, việc dùng các phương pháp như MRI hoặc MRI mạch máu, để dự đoán ĐQ đủ để khởi sự truyền máu pḥng ngừa chưa được chứng minh rơ. Chưa có dữ liệu hệ thống về pḥng ngừa ĐQ ở người lớn bị bệnh hồng cầu h́nh liềm. Các trị liệu pḥng ngừa ngoài truyền máu và việc xây dựng một chiến lược pḥng ngừa ở người lớn nên được thăm ḍ.

Khuyến cáo: Trẻ em bị bệnh hồng cầu h́nh liềm cần được tầm soát bằng siêu âm Doppler xuyên sọ mỗi 6 tháng để xác định mức độ nguy cơ ĐQ. Những người có nguy cơ cao cần được xem xét để được trị liệu truyền máu. (Mức độ bằng chứng I, Độ A)

Tăng lipid máu

Các bất thường lipid huyết tương (triglycerid, choles-terol, LDL, và HDL) kinh điển được xem như là yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành nhưng không có ư nghĩa đối với bệnh mạch máu năo. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đă giúp sáng tỏ mối tương quan giữa lipid và ĐQ, đồng thời cho thấy các thuốc làm hạ cholesterol có thể làm giảm nguy cơ của tai biến và lượng xơ vữa của động mạch cảnh.

Trong một tổng phân tích lớn (Qizilbash N, et al. 1995) gồm 45 thuần tập quan sát tiền cứu trên 450.000 cá nhân, không thấy có sự liên quan nào giữa cholesterol và tỉ lệ ĐQ. Tuy nhiên, trong tổng phân tích này, mối tương quan giữa cholesterol toàn phần và ĐQ bị nhiễu bởi các báo cáo về mối tương quan nghịch giữa cholesterol toàn phần và xuất huyết năo trong số các người có nồng độ cholesterol huyết tương <160 mg/dL. Trong các nghiên cứu của tổng phân tích, đa số ĐQ đều tử vong, và không phân biệt rơ giữa ĐQ thiếu máu và xuất huyết.

Đối với ĐQ thiếu máu năo, một vài nghiên cứu cho thấy có một tương quan yếu giữa cholesterol trong huyết tương và nguy cơ gia tăng nhồi máu năo. Ví dụ, nghiên cứu The Multiple Risk Factor Intervention Trial (Iso H, et al. 1989) chứng minh tử vong gia tăng ở nam với nồng độ cholesterol cao. Tỉ số nguy cơ đă hiệu chỉnh là 1,8 đối với người có nồng độ cholesterol trong huyết tương từ 240 - 279mg/dl và 2,6 đối với người có nồng độ cholesterol bằng 280mg/dL. Trong Honolulu Heart Program, có sự gia tăng liên tục và không ngừng của cả tỉ lệ bệnh mạch vành và tai biến huyết khối lấp mạch với nồng độ cholesterol càng tăng. Mối tương quan nghịch giữa HDL và nguy cơ ĐQ được chứng minh ở cả trong nghiên cứu Oxfordshire Community Study lẫn nghiên cứu Northern Manhattan Stroke Study (Neuroepidemiology. 1996;15: 20S.). Các nghiên cứu gần đây dùng kỹ thuật siêu âm đă nhận biết mối liên quan giữa các nồng độ lipid và xơ vữa mạch cảnh ngoài sọ và độ dày của mảng nội-trung mạc.

Các thử nghiệm trước đây không xác nhận việc dùng các thuốc hạ lipd máu làm giảm nguy cơ ĐQ (Atkins D, et al. 1993). Tuy nhiên, một thử nghiệm mới đây dùng kỹ thuật đo lường siêu âm hàng loạt lại thấy việc hạ LDL bằng thuốc statin có thể làm chậm sự tiến triển của xơ vữa động mạch cảnh không triệu chứng (Crouse JR III, 1995 & Hodis HN, 1996).

Text Box: Bảng 4.Các yếu tố nguy cơ kém được minh chứng hoặc có khả năng thay đổi được
YẾU TỐ	TỈ LỆ BỆNH LƯU HÀNH	NGUY CƠ QUY THUỘC TRONG DÂN SỐ	NGUY CƠ TƯƠNG ÐỐI HOẶC TỈ SUẤT NGUY CƠ OR	GIẢM NGUY CƠ VỚI TRỊ LIỆU
Béo phì	17,,9%	12-20%(1)	1,75-2,37	?
Thiếu hoạt động thể lực	2-5%	30%	2,7 (1)	?
Nghiện rượu >5 cốc/ngày	2-5%	1,2-3%	1,6(1)	?
     Hơn mức vừa phải	60%	32%	1,8(1)	?
Tăng homocysteine máu 
tuổi 40-59, nam	
29%	
26%	1,3-2,3	?
tuổi 40-59, nữ	21%,	37%,		
tuổi ?60, nam	43%,	35%		
tuổi ?60, nữ	47%,	37%		
Nghiện ma túy 	3-14%	?	?	?
Tăng khả năng  đông máu (hypercoagulability)		
Kháng thể kháng phospholipid	0-24%	0-65%(1)	0,8-8,83	?
Yếu tố V Leiden	0-12%	0-17%(1)	1,0-2,75	?
Prothrombin 20210 đột biến	0,4-4%	0-11%(1)	1,1-3,8	?
Thiếu hụt protein C	0,003-0,007%	?	KYN	?
Thiếu hụt antithrombin III	0,02-0,17%	?	KYN	
Trị liệu bằng nội tiết tố thay thế			0,23-1,46	?
Thuốc ngừa thai uống		0,06%(2)	0,6-7,09(3)	
Quá trình viêm	.	.	.	.
(1) Tính toán dựa trên dữ liệu tham khảo được cung cấp trong bảng hoặc bài
(2) Tính giả định một nguy cơ tương đối là 1,93 trên tổng số 425 ÐQ thiếu máu/mỗi năm quy do việc dùng thuốc ngừa thai uống 
(#) Nghiên cứu công bố từ năm 1985
Các thử nghiệm lâm sàng đă chứng minh lợi ích hằng định của các thuốc statin trong việc giảm nguy cơ tai biến ở những người bệnh mạch vành và có nồng độ cholesterol cao, cũng như đối với số người chỉ có tăng cholesterol từ nhẹ cho đến mức giới hạn. Ví dụ, nghiên cứu Simvastatin Survival Study (Lancet. 1994; 344:1383-1389) đánh giá tác dụng giảm cholesterol trên 4444 BN có nồng độ cholesterol cao và bệnh mạch vành. Nhóm được điều trị bằng simvastatin có giảm ĐQ thiếu máu không do lấp mạch và cơn thiếu máu năo thoáng qua, tuần tự là 51% và 35%. Năm 1998, FDA chấp thuận dùng simvastatin để giảm nguy cơ của ĐQ lần đầu hoặc cơn thiếu máu năo thoáng qua ở người có cholesterol toàn phần cao và bệnh mạch vành. Thử nghiệm lâm sàng The West Of Scotland Primary Prevention (WOSCOPS- N Engl J Med. 1995; 333:1301-1307) thấy giảm 11% ĐQ, không có ư nghĩa, ở nam giới có bệnh mạch vành và tăng cholesterol máu được điều trị bằng pravastatin. Nghiên cứu the Cholesterol And Recurrent Events (CARE- Circulation. 1999;99:216-223) thăm ḍ hiệu quả của việc giảm cholestrol với pravasatin trên 4159 người đă bị một cơn đau tim trong ṿng 2 năm trước đó và cho thấy nguy cơ ĐQ hoặc cơn thiếu máu năo thoáng qua giảm 32%. Năm 1998 việc dùng Pravastatin cũng được FDA chấp thuận để giảm nguy cơ ĐQ ở BN đă từng bị cơn đau tim? và có mức độ cholesterol b́nh thường (cholesterol toàn phần <240 mg/dL)

Lợi ích của các thuốc statin trong pḥng ngừa ĐQ ở BN có bệnh mạch vành đă được nhiều tổng phân tích hỗ trợ. Chính xác statin bảo vệ chống lại ĐQ như thế nào th́ c̣n là điều chưa rơ. Mặc dù giảm mức nào đó của ĐQ có thể do các biến đổi của lipoprotein, statin cũng có thể tác động thông qua các cơ chế không liên quan ǵ đến đặc tính làm hạ lipid của chúng, như cải thiện chức năng nội mạc, làm vững bền mảng xơ vữa, và chống thành lập huyết khối, kháng viêm và bảo vệ thần kinh.

Khuyến cáo: Khuyến cáo xử trí BN có nồng độ cholesterol cao theo hướng dẫn của Chương tŕnh Giáo Dục vể Cholesterol (Bảng 5). BN có bệnh mạch vành và LDL cholesterol cao có thể xét để dùng statin (Mức độ bằng chứng I, độ A). Cần có thêm dữ liệu để làm sáng tỏ vai tṛ của Lp (a) như là một yếu tố độc lập của ĐQ.

Các yếu tố nguy cơ kém được minh chứng hoặc có khả năng biến đổi được

Các yếu tố nguy cơ ít được hiểu biết hơn hoặc có khả năng biến đổi được, được tŕnh bày trong Bảng 4.


Chiến lược xử trí

Bảng 5 tóm tắt các chiến lược xử trí yếu tố nguy cơ dựa trên các hướng dẫn đă công bố và/hoặc tuyên bố thống nhất.

Bảng 5. Hướng dẫn hoặc tuyên bố thống nhất khuyến cáo xử trí

Yếu tố

Mục tiêu

Khuyến cáo

Cao HA

HATH <140 mmHg

HATR <90 mmHg

Đo HA ở người lớn ít nhất mỗi 2 năm.

Khuyến khích thay đổi lối sống; kiểm soát cân nặng, hoạt động thể lực, uống rượu vừa phải. Nếu HA>140/90mmHg sau 3 tháng thay đổi lối sống hoặc nếu HA ban đầu>180/100mmHg; dùng thêm thuốc trị cao HA; trị liệu thích ứng tùy yêu cầu và đặc điểm của người bệnh

Hút thuốc lá

Ngưng hút

Khuyến khích mạnh mẽ BN và gia đ́nh ngưng hút thuốc. Cung cấp tham vấn, sử dụng thay thế nicotin và các chương tŕnh chính khóa thích đáng.

Tiểu đường

Cải thiện việc kiểm soát đường huyết; điều trị cao HA

Chế độ ăn, thuốc hạ đường huyết uống, insulin. Xem hướng dẫn và các tuyên bố về chiến lược

Hẹp động mạch cảnh không triệu chứng

 

Có thể cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh trên một số BN chọn lọc với độ hẹp >60% và <100%, nên được thực hiện bởi phẫu thuật viên có <3% biến chứng/tử vong. Việc chọn lựa thận trọng BN theo hướng dẫn từ các bệnh lư đi kèm, tuổi thọ mong đợi, sự lựa chọn người bệnh, và các yếu tố cá nhân khác. BN bị hẹp không triệu chứng cần được đánh giá đầy đủ về các nguyên nhân khác của ĐQ có thể điều trị được

Rung nhĩ

 

 

Tuổi <65, không có yếu tố nguy cơ (2)

 

Aspirin

Tuổi <65, có yếu tố nguy cơ(2)

 

Warfarin (INR mục tiêu 2,5; giới hạn 2,3-3,0)

Tuổi 65-75, không có yếu tố nguy cơ(2)

 

Aspirin hoặc warfarin

Tuổi 65-75, có yếu tố nguy cơ(2)

 

Warfarin (NIR mục tiêu 2,5; giới hạn: 2,0-3,0)

Tuổi >75, có hay không yếu tố nguy cơ(2)

 

Warfarin (NIR mục tiêu 2,5; giới hạn: 2,0-3,0)

Lipid lượng giá ban đầu (không có bệnh mạch vành)

 

TC <200 mg/dL và HDL?35 mg/dL

Giáo dục chung

Lập lại TC và HDL trong ṿng 5 năm hoặc khi? thăm khám bệnh

TC <200 mg/dL và HDL<35mg/dL

 

Phân tích lipoprotein

TC 200-239 mg/dL và HDL?35mg/dL và <2 yếu tố nguy cơ BMV(1)

 

Thay đổi chế độ ăn, đánh giá sau 1-2 năm

TC 200-239 mg/dL và HDL<35 mg/dL hoặc <2 yếu tố nguy cơ BMV(1)

 

Phân tích Lipoprotein

TC?240 mg/dL

 

Phân tích Lipoprotein

Lượng giá LDL

 

 

Không BMV và < 2 yếu tố nguy cơ BMV(1)

LDL<160mg/dL

Thử thay đổi chế độ ăn trong 6 tháng. Dùng thuốc nếu LDL vẫn ?190 mg/dL

Không BMV nhưng có ?2 yếu tố nguy cơ BMV(1)