Đột quỵ (stroke) đứng hàng thứ ba trong
các nguyên nhân tử vong tại Hoa Kỳ. Hiện nay người ta ước tính có hơn 700.000
trường hợp đột quỵ (ĐQ) mới mỗi năm và 4,4 triệu người sống sót sau sự cố. Hiệp
hội Tim Hoa kỳ ước tính trong năm 1999 gánh nặng kinh tế do ĐQ là 51 tỷ đô la
(chi phí trực tiếp lẫn gián tiếp). Mặc dù với sự ra đời của trị liệu với chất
hoạt hóa plasminogen mô và sự hứa hẹn của các trị liệu thực nghiệm khác trên một
số bệnh nhân (BN) chọn lọc bị ĐQ cấp do thiếu máu, cách tiếp cận tốt nhất để
giảm gánh nặng của ĐQ vẫn là pḥng ngừa. Các BN có nguy cơ cao hoặc có khuynh
hướng dễ bị tai biến có thể được nhận diện và đặt mục tiêu cho các can thiệp đặc
hiệu. Điều này quan trọng bởi lẽ các dữ liệu dịch tễ học cho thấy tử vong do ĐQ
giảm đáng kể so với trước, trong khi tần suất của ĐQ lại gia tăng.
Tiểu Ban Đột quỵ của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ
thành lập một nhóm soạn thảo đặc biệt? để đưa ra một tổng quan rơ ràng và cụ thể
về chứng cớ liên quan đến các nguy cơ đă xác định và có thể của ĐQ. Nhóm soạn
thảo tham khảo các hướng dẫn đă công bố trước đây, ư kiến chuyên gia hàng đầu,
để tóm lược bằng chứng hiện có và đưa ra các khuyến cáo (Bảng 1).
Bảng 1. Mức độ chứng cớ và phân độ các khuyến cáo?
Mức độ
chứng cớ
Mức độ I. Dữ liệu từ các nghiên cứu ngẫu nhiên
với các sai lầm dương tính giả và âm tính giả thấp.
Mức độ II: Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng
với các sai lầm dương tính giả và âm tính giả cao.
Mức độ III: Dữ liệu từ các nghiên cứu thuần tập
đồng thời, không ngẫu nhiên.
Mức độ IV: Dữ liệu từ các nghiên cứu thuần tập,
không ngẫu nhiên dùng các đối chứng lịch sử.
Mức độ V: Dữ liệu từ các loạt trường hợp có tính
chất giai thoại
Độ
mạnh khuyến cáo
Độ A được hỗ trợ bởi chứng cớ mức độ I
Độ B đưuợc hỗ trợ bởi chứng cớ mức độ II
Độ C được hỗ trợ bởi chứng cớ mức độ III
YẾU TỐ NGUY CƠ KHÔNG THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC
Mặc dù các yếu tố nguy cơ này không thể
thay đổi được, nhưng chúng giúp nhận diện những người có nguy cơ cao nhất bị ĐQ
và những người có thể được hưởng lợi từ một dự pḥng nghiêm ngặt hoặc từ trị
liệu các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được. (Bảng 2)
Tuổi: Các tác dụng do tuổi tác trên
hệ tim mạch và bản chất tiến triển của các yếu tố nguy cơ của ĐQ trong một thời
gian dài làm tăng đáng kể nguy cơ ĐQ. Nguy cơ ĐQ tăng gấp đôi theo mỗi thập niên
kế tiếp sau tuổi 55. (Brown RD, et al. 1996; Whisnant JP. et al. 1997)
Chủng tộc/ Sắc tộc: Da đen và một số
người Mỹ gốc Tây Ban Nha có tần suất và tỉ lệ ĐQ cao hơn so với da trắng. Ví dụ,
trong nghiên cứu Atherosclerosis Risk In Communities (ARIC), da đen có tần suất
ĐQ cao hơn da trắng 38%. Các lư do có thể của tần suất và tử suất cao hơn này ở
da đen gồm có: tỉ lệ bệnh cao huyết áp (HA), béo ph́, và tiểu đường cao hơn
trong dân số da đen. Tuy nhiên, tần suất cao hơn của các yếu tố nguy cơ khác này
không giải thích tất cả nguy cơ vượt trội. Các nghiên cứu dịch tễ học cũng cho
thấy tần suất ĐQ gia tăng trong dân số người gốc Tây Ban Nha. Dân tộc Trung Hoa
và Nhật Bản cũng thường có một tần suất ĐQ cao (He J, et al. Stroke.
1995).
Bảng 2. Các yếu tố nguy cơ không thay đổi được
|
Yếu tố
|
Tần suất
|
Nguy cơ tương đối
|
|
Tuổi
|
Tăng gấp đôi tỉ lệ ĐQ mỗi 10 năm sau 55 tuổi
|
|
|
Chủng tộc
|
Da đen: 233/100.000
Da trắng: 93/100.000
Gốc Tây ban nha: 196/100.000
|
|
|
Phái tính
|
Nam: 174/10.000
Nữ: 122/100.000
Tổng cộng:145/100.000
|
|
|
Tiền căn đột quỵ/cơn thiếu máu năo thoáng qua
|
|
Nguy cơ tương đối tiền căn bệnh ở cha: 2,4 (KTC 95%:
0.96-6.03)
Nguy cơ tương đối tiền căn bệnh ở? mẹ: 1,4 (KTC 95%:
0.60-3.25)
|
|
|
|
|
Phái tính: ĐQ xảy ra ở nam nhiều hơn
nữ. Nh́n chung, tỉ lệ tần suất ĐQ chuyên biệt theo tuổi ở nam cũng cao hơn nữ
(Wolf PA, et al. 1992). Ngoại trừ ở lứa tuổi từ 35 -44 và ở những người trên 85
tuổi, nữ chiếm một tần suất chuyên biệt theo tuổi cao hơn nam một chút. Tuy
nhiên, tỉ lệ tử vong liên quan đến tai biến ở nữ cao hơn nam. Nh́n chung, 1/6 nữ
sẽ tử vong do ĐQ so với 1/25 tử vong v́ ung thư vú. Các t́nh huống như uống
thuốc ngừa thai và mang thai góp phần vào nguy cơ ĐQ ở phụ nữ.
Tiền căn gia đ́nh: Tiền căn ĐQ ở cả
mẹ lẫn cha có thể tương quan với gia tăng nguy cơ ĐQ (Welin L, et al.
1987;317:521-526.&
Kiely DK, et al. 1993). Nguy cơ gia tăng này có thể qua trung gian bởi một số cơ
chế bao gồm: tính di truyền của các yếu tố nguy cơ bị ĐQ, sự thừa kế đặc tính dễ
bị tác dụng của các yếu tố nguy cơ, cùng chia sẻ trong gia đ́nh các yếu tố văn
hóa/ môi trường và lối sống, và sự tương tác giữa các yếu tố di truyền và môi
trường. Nghiên cứu trên các cặp song sinh cho thấy những dữ liệu mạnh mẽ gợi ư
có tính chất kế thừa gia đ́nh của ĐQ (Liao D, et al. 1997). Các tỉ lệ tương ứng
đối với ĐQ ở các căp song sinh đồng hợp tử cao hơn đáng kể so với dị hợp tử. Tỉ
lệ ĐQ cao gấp 5 lần hơn ở cặp song sinh đồng hợp tử so với dị hợp tử (Brass LM,
et al. 1992).
Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được và có bằng chứng rơ (bảng 3)
Cao huyết áp (HA)
Cao HA là yếu tố nguy cơ chính đối với cả
nhồi máu năo lẫn xuất huyết năo (Wolf PA. 1999). Tần suất ĐQ tăng theo tỉ lệ đối
với cả HA tâm thu lẫn tâm trương. Mối tương quan này "trực tiếp, liên tục, và rơ
ràng độc lập" (MacMahon S, et al.1990). Cao HA tâm thu, có hoặc không cao HA tâm
trương, làm tăng nguy cơ ĐQ. Cao HA tâm thu đơn thuần là yếu tố nguy cơ quan
trọng của ĐQ ở người cao tuổi (HA tâm thu >160mm Hg và HA tâm trương <90mm Hg).
Trong hơn 30 năm qua đă có chứng cớ thuyết
phục là việc kiểm soát cao HA góp phần vào việc ngăn ngừa ĐQ cũng như ngăn ngừa
và làm giảm tổn thương cơ quan đích, bao gồm suy tim ứ huyết và suy thận. Một
tổng phân tích 18 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên dài hạn cho thấy cả hai trị
liệu bằng chẹn
b
(nguy cơ tương đối 0,71; KTC 95% 0,59-0,86) và lợi tiểu liều cao (nguy cơ tương
đối 0,49; KTC 95% 0,39-0,62) có hiệu quả trong ngăn ngừa ĐQ. Việc kiểm soát cao
HA tâm thu đơn thuần để ngăn ngừa tai biến ở người cao tuổi đă được nhấn mạnh
qua nhiều thử nghiệm lâm sàng. Ví dụ trong Syst-Eur Trial (1997), 4695 BN cao HA
tâm thu đơn thuần được chọn ngẫu nhiên để điều trị tích cực bằng thuốc
(nitrendipin và nếu có thể enalapril hoặc hydrochlorothiazid để hạ HA tâm thu 20
mmHg) hoặc với giả dược. Thử nghiệm đă ngưng khi ĐQ giảm 42% ở nhóm được trị
liệu tích cực. Thử nghiệm Systolic In The Elderly Program (SHEP-1991) cho thấy
tần suất của tất cả ĐQ giảm với trị liệu cao HA (chlorthalidon hoặc atenolol.
Khuyến
cáo:
Tầm soát đều đặn cao HA (ít nhất mỗi 2 năm ở người lớn) và xử trí thích hợp, như
tóm tắt trong? báo cáo lần thứ 6 của ủy Ban Quốc Gia Phối Hợp Về Pḥng Ngừa,
Phát Hiện Đánh Giá và Trị Liệu Cao HA được khuyến cáo. (Bảng 5) (Mức độ chứng cớ
I, độ A)
Hút thuốc lá
Hút thuốc lá chủ động (vẫn c̣n đang hút)
đă được biết từ lâu là yếu tố nguy cơ chính của ĐQ. Hút thuốc lá gây ra giảm
giăn nở và đàn hồi mạch máu, khiến cho mạch máu thêm cứng. Hút thuốc lá cũng làm
tăng nồng độ fibrinogen, tăng kết tập tiểu cầu, giảm nồng độ cholesterol
lipoprotein tỉ trọng cao (HDL), và làm tăng hematocrit (Cruickshank JM, 1989).
Tổng phân tích 22 thử nghiệm lâm sàng cho
thấy nguy cơ tương đối nhồi máu năo tăng khoảng 2 lần ở người hút thuốc lá so
với người không hút (Shinton R, et al. 1989). Thử nghiệm tiền cứu Framingham
Heart Study (1991) ước tính tăng nguy cơ ĐQ khoảng 1,8 lần do hút thuốc lá. Hiện
có 25% người lớn là hút thuốc lá chủ động. Như vậy, có 18% các ĐQ được quy thuộc
là do hút thuốc lá chủ động (gọi là nguy cơ quy thuộc trong dân số - population
attributable risk).
Những người đă từng hút thuốc lá cũng tăng
nguy cơ bị ĐQ, việc ngăn ngừa bắt đầu hút thuốc là điều quan trọng trong pḥng
ngừa tiên phát ĐQ. Nguy cơ tương đối bị ĐQ của nguời đă từng hút thuốc lá (so
với người không hút thuốc lá) là 1,34 trong Nurses Health Study (1993) và 1,26
trong Physician Health Study (1994). Gần đây, CDC ước lượng có 23% người lớn đă
từng hút thuốc lá, suy ra nguy cơ quy thuộc trong dân số đối với việc hút thuốc
lá trước kia là 6%. Tuy nhiên, nguy cơ ĐQ giảm đáng kể với thời gian ngưng thuốc
càng lâu. Nghiên cứu Framingham Heart Study cho thấy nguy cơ ĐQ bằng với mức độ
của người không hút thuốc lá sau 5 năm bỏ thuốc (1988). Một nghiên cứu thứ hai
cho thấy các nguy cơ ĐQ biến mất từ 2 - 4 năm sau khi ngưng thuốc và lợi ích của
việc ngưng thuốc không tùy thuộc vào tuổi lúc bắt đầu ngưng thuốc và số điếu hút
mỗi ngày. Wannamethee và CS (1995) kết luận rằng ngưng hút thuốc lá gắn với một
lợi ích lớn lao và nhanh chóng trong việc làm giảm nguy cơ ĐQ, đặc biệt ở người
hút ít (<20 điếu/ngày). Việc chuyển sang hút ống điếu hoặc xi gà cũng không đem
lại lợi ích, điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ngưng hoàn toàn thuốc lá
(Wannamethee SG, 1995).
Tránh tiếp xúc với môi trường khói thuốc
cũng có thể pḥng ngừa tiên phát ĐQ. Gần 90% những người không hút thuốc lá được
phát hiện có nicotin trong huyết tương, là do tiếp xúc với môi trường khói
thuốc. V́ tỉ lệ tiếp xúc cao trong dân số, cho nên dù gia tăng nhỏ của nguy cơ
tương đối ĐQ do tiếp xúc với khói thuốc của môi trường cũng có thể tạo nên nguy
cơ quy thuộc trong dân số đáng kể. Tuy nhiên, sự gia tăng nguy cơ tương đối có
thể không nhỏ. Người ta đă nhận thấy là tiếp xúc với khói thuốc trong môi
trường, làm tăng nguy cơ các biến cố mạch vành từ 20% - 70%. Ước lượng có khoảng
62.000 tử vong do bệnh mạch vành trong năm 1985 được quy thuộc là do tiếp xúc
với khói thuốc môi trường (Wells AJ. 1994).
V́ xơ mỡ động mạch sẽ dẫn đến ĐQ lẫn bệnh
mạch vành, nên việc nghi ngờ khói thuốc môi trường là nguyên nhân của một số ĐQ
là điều hợp lư. Sau khi đă hiệu chỉnh đối với một số yếu tố có khả năng gây
nhiễu (tuổi, phái tính, tiền căn cao HA, bệnh tim, và tiểu đường), Bonita và CS
(1999) nhận thấy nguy cơ tương đối ĐQ tăng 1,82 lần (KTC 95% 1,34-2,49) ở những
người không hút thuốc lá và những người đă lâu ngưng hút có tiếp xúc với khói
thuốc môi trường. Nguy cơ đáng kể 1,82 ở cả nam lẫn nữ là cao đáng ngạc nhiên;
v́ ở mức nguy cơ tương đối vừa phải hơn như 1,20, th́ đă thấy nguy cơ quy thuộc
trong dân số ước lượng là 12%, dựa trên dân số tiếp xúc là 67,5% (được tính là
tỉ lệ tiếp xúc 90% trong 75% dân số không hút thuốc lá).
Tóm lại, các dữ liệu này cho thấy nguy cơ
quy thuộc của mọi h́nh thức tiếp xúc với khói thuốc là đáng kể, tiếp tục hút
thuốc góp gần một nửa các biến cố ĐQ (nguy cơ quy thuộc trong dân số đối với
việc vẫn tiếp tục hút là 18%, là 6% đối với người đă bỏ thuốc và 12% đối với
tiếp xúc khói thuốc môi trường).
Khuyến
cáo ngưng thuốc lá đối với tất cả những người
hiện đang hút. (Bảng 5) (Mức độ chứng cớ III, độ C; chú ư là mức độ bằng chứng ở
đây phản ảnh sự thiếu các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, tiền cứu, so sánh
người hút với không hút. Tuy nhiên, dữ liệu từ các nghiên cứu thuần tập và dịch
tễ là nhất quán và không thể phủ nhận được).
Tiểu đường, tăng insulin máu và đề kháng insulin.
Tiểu đường phụ thuộc insulin làm tăng khả
năng xơ vữa động mạch cũng như? làm tăng tỉ lệ các yếu tố nguy cơ sinh xơ vữa,
đáng kể là cao HA, béo ph́, và các bất thường lipid máu. Tập hợp các yếu tố nguy
cơ chuyển hóa gọi là hội chứng X cũng đă được nhận biết ở một số người tiểu
đường tưp 2. Đặc điểm chính của hội chứng X là tăng insulin máu và đề kháng
insulin. Hệ quả là biểu hiện các đặc trưng thứ phát của hội chứng gồm có tăng
đường huyết, tăng VLDL-Cholesterol, giảm HDL-C và cao HA.
Các nghiên cứu bệnh - đối chứng
trên người bị ĐQ và các nghiên cứu tiền cứu dịch tễ đă xác nhận hiệu ứng độc lập
của tiểu đường trên ĐQ thiếu máu, với nguy cơ tương đối ở người bị bệnh tiểu
đường từ 1,8 tăng gần gấp 6 lần. Tại Hoa kỳ, từ 1976 đến 1980, tiền căn ĐQ
thường gặp ở người bị tiểu đường từ 2,5 - 4 lần nhiều hơn người có dung nạp
đường b́nh thường. Trong nghiên cứu Honolulu Heart Program trên những người đàn
ông Hạ Uy Di gốc Nhật,? người bị tiểu đường có nguy cơ bị ĐQ do huyết khối lấp
mạch cao hơn 2 lần người không bị tiểu đường, sự gia tăng nguy cơ này độc lập
với các yếu tố khác (Burchfiel CM, et al. 1994).
Đối với nhồi máu năo, tác động của bất
dung nạp glucose ở nữ cao hơn so với nam, đạt mức có ư nghĩa như là một yếu tố
góp phần độc lập, và chỉ ở nữ cao tuổi. Nh́n chung, ở người có bất dung nạp
glucose, nguy cơ nhồi máu năo cao gấp 2 lần người không bị tiểu đường (Kannel
WB, et al. 1979).
Cao HA thường gặp ở người bị tiểu đường
tưp 2 với tỉ lệ bệnh từ 40% đến 50% ở người lớn. Kết hợp tăng đường huyết với
cao HA từ lâu được biết là làm tăng tần suất các biến chứng của tiểu đường, kể
cả ĐQ. Nhiều thử nghiệm lâm sàng gần đây khảo sát ĐQ và các kết cục tim mạch
khác, so sánh lợi ích của việc kiểm soát chặt chẽ đường huyết và HA ở người bị
tiểu đường loại 2 với việc xử trí kém nghiêm ngặt hơn. Đối với ĐQ tử vong và
không tử vong, kiểm soát chặt chẽ HA (HA trung b́nh đạt 144/82 mmHg) làm giảm
44% nguy cơ tương đối so với việc kiểm soát ít chặt chẽ hơn (HA trung b́nh đạt
154/87 mmHg). Lợi ích 44% này cao hơn mức giảm 20% nguy cơ với trị liệu cao HA ở
người tiểu đường thấy trong nghiên cứu SHEP (1996). Tuy nhiên, cải thiện kiểm
soát đường huyết không làm giảm đáng kể tần suất ĐQ trong 9 năm theo dơi.
Kết luận rút ra từ các nghiên cứu này là
kiểm soát chặt chẽ HA ở người tiểu đường làm giảm đáng kể tần suất ĐQ (Lancet.
1998;352:854-865). Các biện pháp hiện nay để kiểm soát đường huyết như trị liệu
tích cực để kiểm soát chặt chẽ đường huyết với 3 liều insulin mỗi ngày ở BN tiểu
đường tưp I mới mắc cho thấy làm giảm các biến chứng mạch máu nhỏ, bệnh thận, và
bệnh vơng mạc, cũng như bệnh thần kinh ngoại biên (Neurol.
1995;38:869-80).
Trong nghiên cứu HOPE (Lancet.
2000;355: 253-259) thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng với giả
dược, việc thêm ức chế men chuyển (ƯCMC) ramipril được so sánh với phác đồ thuốc
hiện đang dùng hiện nay trên BN có nguy cơ cao. Nghiên cứu trên nhóm phụ 3.577
BN tiểu đường (trong 9.541 người tham gia vào nghiên cứu HOPE), cho thấy giảm
đến 25% (KTC 95% 12% đến 36%, P=0,0004) kết cục kết hợp chủ yếu của nhồi máu cơ
tim, ĐQ và tử vong do tim mạch. ĐQ giảm 33% (KTC 95% 10% đến 50%, p<0,0074). Lợi
ích này vẫn c̣n sau khi đă hiệu chỉnh đối với việc giảm nhẹ HA trong nhóm
ramipril. Ngoài ra, c̣n thấy giảm các biến chứng của tiểu đường (bệnh thận lâm
sàng, chạy thận nhân tạo, hoặc sự cần thiết trị liệu bằng laser). Các nghiên cứu
mới này cho những bằng chứng về pḥng ngừa ĐQ ở người tiểu đường. Kiểm soát HA ở
người tiểu đường và trị liệu BN tiểu đường có nguy cơ cao bằng ƯCMC ngăn ngừa
được ĐQ.
Khuyến
cáo: Kiểm soát thận trọng HA ở BN tiểu đường
tưp 1 lẫn 2 (Bằng chứng I, Độ A). Kiểm soát đường huyết để giảm các biến chứng
mạch máu nhỏ (Bảng 5).
Hẹp động mạch cảnh không triệu chứng?
Trong nghiên cứu Cardiovascular Health
Study (Fine-Edelstein JS, et al. 1994), hẹp động mạch cảnh >50% được phát hiện ở
7% nam và 5% ở nữ 65 tuổi. Tương tự, hẹp 50% được phát hiện ở 7% nữ và ở 9% nam
tuổi từ 66 đến 93 trong thuần tập Framingham. Như thế, dường như từ 7% - 10% ở
nam và 5% - 7% ở nữ trên 65 tuổi có hẹp động mạch cảnh? >50%.
Nhiều nghiên cứu đă cố gắng nhận dạng các
nhóm phụ BN có hẹp động mạch cảnh không triệu chứng là những người có thể có
nguy cơ cao bị ĐQ. Nghiên cứu Toronto Asymptomatic Cervical Bruit Study theo dơi
một thuần tập 500 người bệnh trong thời gian trung b́nh 23 tháng (Chambers BR,
et al. 1986). Nh́n chung, các biến cố thiếu máu năo (cơn thiếu máu năo thoáng
qua hoặc ĐQ) thường xảy ra hơn ở BN hẹp động mạch cảnh nặng (>75%), hẹp động
mạch cảnh tiến triển, hoặc bệnh tim và ở nam giới. Tổng cộng có 8 BN (1,6%) bị
một ĐQ không báo trước; tuy nhiên, chỉ có (0,4%) là cùng bên với hẹp động mạch
cảnh ngoài sọ cao độ chứng minh qua siêu âm Doppler.
Trong một nghiên cứu khác, 38 BN không có
triệu chứng với hẹp động mạch cảnh trên >90% được theo dơi trong thời gian 48
tháng (Bogousslavsky J, et al. 1986). Mỗi năm, 1,7% số BN này có một ĐQ cùng bên
không báo trước. Thử nghiệm lâm sàng NASCET (North American Symptomatic Carotid
Endarterectomy Trial. 2000) đă hồi cứu lại các dữ liệu về nguy cơ ĐQ trong vùng
tưới máu của động mạch cảnh bị hẹp không triệu chứng đối bên với động mạch có
triệu chứng. Nguy cơ ĐQ mỗi năm là 3,2% (trên 5 năm theo dơi) ở BN bị hẹp từ 60%
đến 90%). Nguy cơ trung b́nh hằng năm của ĐQ cùng bên tăng từ 3,7% đối với người
bị hẹp từ 60% đến 74% và 3,7% đối với những người bị hẹp từ 75% đến 94% và giảm
đến 2,9% đối với người bị hẹp từ 95% đến 99%, với một tỉ lệ là 1,9% đối với
những người bị hẹp hoàn toàn. Nói chung, 45% các ĐQ cùng bên trên BN hẹp không
triệu chứng đối bên với bên hẹp có triệu chứng có thể qui cho các lỗ khuyết hoặc
thuyên tắc từ tim, điều này nhấn mạnh sự cần thiết đánh giá đầy đủ các BN này về
các nguyên nhân khác của ĐQ có thể điều trị được.
Gộp chung lại các nghiên cứu này và các
nghiên cứu quan sát khác cho thấy tỉ lệ ĐQ không báo trước cùng bên với hẹp động
mạch cảnh ngoài sọ có ư nghĩa về mặt huyết động học là 1% đến 2% mỗi năm. Điều
này là một yếu tố đáng kể trên cơ sở dân số. Một số nghiên cứu gợi ư rằng tỉ lệ
ĐQ có thể cao hơn ở người bệnh có hẹp động mạch cảnh tiến triển so với những
người có bệnh ổn định và cao hơn ở những người hẹp nặng hơn. Cũng như đối với âm
thổi động mạch cảnh không triệu chứng, một hẹp động mạch cảnh không triệu chứng
là một chỉ điểm quan trọng của bệnh tim thiếu máu đồng thời (Autret A, et al.
1987).
Nghiên cứu Veterans Affairs Cooperative
Study (Mayo Clin Proc. 1992;67:513-518) về phẫu thật cắt bỏ nội mạc động
mạch cảnh trên BN bị hẹp động mạch cảnh không triệu chứng bao gồm 444? nam được
theo dơi trung b́nh 48 tháng. 211 BN được điều trị nội khoa tối ưu cộng phẫu
thật cắt bỏ lớp nội mạc động mạch cảnh, và 233 được điều trị nội khoa đơn thuần
(bao gồm 650mg aspirin, 2 lần/ngày). Hẹp động mạch cảnh ngoài sọ >50% được chứng
minh bằng chụp mạch máu. Nguy cơ kết hợp của quanh phẫu thuật và do chụp mạch
máu là 4,7%. Nguy cơ kết hợp của thiếu máu năo thoáng qua cùng bên, mù một mắt
thoáng qua, và ĐQ trong 2 năm giảm (P<0,001). Mặc dù tỉ lệ ĐQ ở nhóm phẫu thuật
là 4,7% so với 9,4%, hoặc 1,2%/năm so với 2,4%/năm, nhưng sự khác biệt không có
ư nghĩa thống kê (p=0,08).
Nghiên cứu ACAS (The Asymptomatic Carotid
Athe-rosclerosis Study) là một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên thăm ḍ hiệu quả
của phẫu thật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh trên BN hẹp động mạch cảnh không
triệu chứng cao độ (giảm >60% khẩu kính). 1662 BN được chọn ngẫu nhiên để phẫu
thuật cùng với trị liệu nội khoa (n=828) hoặc trị liệu nội khoa mà không phẫu
thuật cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh (n=834). Nguy cơ biến chứng liên quan đến
chụp mạch máu là 1,2% trong số 424 BN được chụp sau khi đă chọn ngẫu nhiên và
nguy cơ tập hợp ĐQ quanh phẫu thuật là 2,3%. Nghiên cứu chấm dứt sau một thời
gian trung vị theo dơi 2,7 năm (4465 BN/năm) v́ đă thấy được lợi ích có ư nghĩa
của phẫu thuật. Tỉ lệ tập hợp của ĐQ cùng bên, bất kỳ ĐQ quanh phẫu thuật, hoặc
tử vong ở BN được phẫu thuật được ước lượng khoảng 5% trong ṿng 5 năm;
ở
BN được điều trị nội khoa, tỉ lệ tương ứng là 11% (giảm nguy cơ 53%, tỉ lệ xảy
ra biến cố/năm là 2% giảm xuống c̣n 1%/năm; P=0,004). Không thấy sự tương quan
giữa lợi ích và độ nặng của hẹp động mạch cảnh. Lợi ích không thấy có ở nữ (giảm
nguy cơ không có ư nghĩa 17% ở phụ nữ [KTC 95% 0,96 đến 0,65} so với giảm nguy
cơ 66% ở nam [95% KTC 0,36 đến 0,82]}, sự khác biệt được qui là do tỉ lệ biến
chứng quanh phẫu thuật cao hơn ở nữ (3,6% so với 1,7%).
Cần lưu ư rằng lợi ích của phẫu thuật cắt
bỏ nội mạc động mạch cảnh trong bối cảnh hẹp không triệu chứng tùy thuộc rất
nhiều vào nguy cơ phẫu thuật. Tuy thế, đa số thầy thuốc không biết được tỉ lệ
các biến chứng của nhà phẫu thuật mà ḿnh gởi BN đến phẫu thuật.
Khuyến
cáo: Có thể chỉ định phẫu thuật cắt bỏ nội mạc
động mạch cảnh cho BN hẹp động mạch cảnh không triệu chứng, thực hiện bởi nhà
phẫu thuật có tần suất biến chứng / tử suất <5%. (Mức độ bằng chứng I, độ A).
Cần lựa chọn kỹ BN theo các tiêu chí như bệnh trạng đi kèm, tuổi thọ mong đợi,
và sự lựa chọn của người bệnh, cũng như các yếu tố cá nhân khác bao gồm phái
tính, và tiếp theo là một thảo luận toàn diện về nguy cơ và lợi ích của thủ
thuật. Điều quan trọng là đánh giá đầy đủ về các nguyên nhân khác của ĐQ có thể
trị liệu được trên BN bị hẹp động mạch cảnh không triệu chứng (xem bảng 5).
Rung nhĩ
Rung nhĩ là một loạn nhịp thường gặp và là
một yếu tố nguy cơ quan trọng của ĐQ đă có nhiều bằng chứng cho thấy nếu trị
liệu hữu hiệu có thể ngăn ngừa ĐQ. Nguy cơ ĐQ hàng năm trên BN bị rung nhĩ không
do bệnh van tim là 3% đến 5%, và là nguyên nhân của 50% các ĐQ do huyết khối lấp
mạch (Wolf PA, et al. 1991). Vào khoảng 2/3 các ĐQ xảy ra trên BN rung nhĩ là do
thuyên tắc từ tim. Trung vị của tuổi BN bị rung nhĩ là 75 tuổi. Nghiên cứu
Framingham Heart Study ghi nhận có gia tăng nguy cơ ĐQ theo tuổi BN rung nhĩ: từ
1,5% đối với người từ 50 - 59 tuổi, đến 23,5% đối với người từ 80 - 89 tuổi.
Ngoài ra, BN rung nhĩ có tỉ suất nguy cơ (OR) tử vong ở đàn ông là 1,5% (KTC
95%: 1,5-1,8) và ở phụ nữ là 1,9 (KTC 95%: 1,5-2,2) sau khi đă hiệu chỉnh đối
với các yếu tố nguy cơ khác.
Có 5 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với
giả dược thăm ḍ hiệu quả của warfarin trong pḥng ngừa tiên phát ĐQ huyết khối
lấp mạch, bao gồm: Copenhagen Atrial Fibrillation Aspirin And Anticoa-gulation
(AFASAK- 1989), Boston Area Anticoagulation Trial For Atrial Fibrillation
(BAATAF-1990), Stroke Prevention In Atrial Fibri-llation I (SPAFI-1991),
Vete-rans Affairs Stroke Prevention In Atrial Fibrillation (SPINAF- 1992), và
Canadian Atrial Fibrillation Anticoagulation (1991).
Hiệu quả của aspirin được nghiên cứu ở 2
trong số các nghiên cứu này (AFASAK và SPAFI). Phân tích tổng hợp 5 thử nghiệm
lâm sàng này cho thấy nguy cơ tương đối của ĐQ huyết khối lấp mạch đối với BN
được điều trị bằng warfarin giảm 68%.
Một nhận xét quan trọng từ các thử nghiệm
lâm sàng ngẫu nhiên là yếu tố tiên liệu nguy cơ cao ĐQ trong dân số những người
bị rung nhĩ c̣n hạn chế. Các yếu tố tiên liệu nguy cơ cao gồm có: tuổi cao, tiền
căn cơn thoáng thiếu máu năo thoáng qua hoặc ĐQ, cao HA tâm thu >160mm Hg), tiền
căn cao HA, suy chức năng thất trái, tiểu đường, và nữ trên 75 tuổi. Kháng đông
uống lâu dài ở người bệnh có các đặc điểm nguy cơ cao này làm giảm 68% nguy cơ
ĐQ dựa trên các kết quả phân tích theo dự tính của các thử nghiệm lâm sàng ngẫu
nhiên và giảm đến 80% khi trị liệu có tác dụng.
Khuyến
cáo: Trị liệu chống huyết khối (warfarin hoặc
aspirin) nên được đặt ra đối với BN bị rung nhĩ không do bệnh van tim dựa trên
đánh giá nguy cơ? thuyên tắc và nguy cơ các biến chứng xuất huyết (Bảng 4 và 5)
(Mức độ bằng chứng I, độ A)
Các bệnh tim khác
Các loại bệnh tim khác góp phần vào nguy
cơ tuy nhỏ nhưng chắc chắn của ĐQ huyết khối lấp mạch bao gồm: bệnh cơ tim giăn
nở, bệnh van tim (bệnh sa van hai lá, viêm nội tâm mạc, và van tim nhân tạo),
các khiếm khuyết bẩm sinh tại tim (ví dụ c̣n lỗ bầu dục), thông liên nhĩ, và
ph́nh vách nhĩ). Nh́n chung, ước lượng khoảng 20% ĐQ thiếu máu là do thuyên tắc
từ tim. Nguyên nhân của 40% các ĐQ vô căn có khả năng bắt nguồn từ tim trong một
số trường hợp xảy ra ở những người trẻ.
Sự hiện diện của bệnh mạch máu năo liên
quan mạnh đến sự hiện diện của bệnh tim có và không có triệu chứng. Ngược lại,
dựa trên nghiên cứu Framingham Heart Study, 8% nam và 11% nữ sẽ bị ĐQ trong ṿng
6 năm sau khi bị nhồi máu cơ tim. Ngoài ra, nhồi máu cơ tim có tương quan với sự
h́nh thành rung nhĩ và là nguồn gốc thường thấy của thuyên tắc do tim. Tuy
nhiên, nhồi máu cơ tim cấp thường không đi kèm với ĐQ, xảy ra trong 0,8% BN. Đa
số các ĐQ này (trong 0,6% BN) là ĐQ thiếu máu (Mahaffey KW, et al. 1999).
ĐQ quanh phẫu thuật xảy ra trong 1% - 7%
BN được phẫu thuật tim (chủ yếu thủ thuật mổ bắc cầu động mạch vành và mổ tim
hở). Tiền căn các biến cố thần kinh, tuổi càng cao, tiểu đường, và rung nhĩ là
các yếu tố nguy cơ xảy ra ĐQ sớm và muộn sau mổ tim. Các yếu tố khác liên quan
đến ĐQ bao gồm thời gian của tuần hoàn ngoài cơ thể và sự hiện diện của xơ vữa
động mạch chủ.
Bệnh hồng cầu h́nh liềm
Bệnh hồng cầu h́nh liềm là một rối loạn di
truyền thể trội trong đó gen bất thường sản xuất ra một chuỗi
b bị biến đổi trong cấu trúc
của hemoglobin. Mặc dù các biểu hiện lâm sàng rất thay đổi, bệnh hồng cầu h́nh
liềm thể hiện điển h́nh sớm lúc mới sinh như là một thiếu máu tán huyết nặng,
ngắt quăng bởi những đợt đau ở tứ chi và xương ("các cơn tắt mạch"), nhiễm
trùng, và nhồi máu các phủ tạng, kể cả ĐQ. Ngoài ra, c̣n có các ảnh hưởng toàn
thân bao gồm chậm tăng trưởng và chậm phát triển nhận thức (Adams RJ. 1994).
Pḥng ngừa ĐQ là điều quan trọng nhất đối
với BN bị bệnh hồng cầu h́nh liềm đồng hợp tử. Tỉ lệ ĐQ ở các BN này ở lứa tuổi
20 ít nhất là 11% và một số đáng kể BN này có các ĐQ "thầm lặng" qua h́nh ảnh
chụp? cộng hưởng từ. Tỉ lệ ĐQ xảy ra cao nhất ở lứa tuổi rất trẻ. Các tiến bộ
gần đây trong phát hiện nguy cơ bằng Doppler xuyên sọ đă đặt ưu tiên pḥng ngừa
tiên phát ĐQ cho trẻ bị bệnh hồng cầu h́nh liềm. Nguy cơ ĐQ ở lứa tuổi trẻ là
1%/năm, nhưng ở BN có bằng chứng tỉ lệ cao của vận tốc lưu lượng máu năo trên
Doppler xuyên sọ (vận tốc trung b́nh ước tính theo thời gian bằng 200cm/giây) có
tỉ lệ ĐQ vượt trội là 10%/ năm (Adams RJ, et al. 1997).
Nghiên cứu ngẫu nhiên STOP (Stroke
Prevention Trial In Sickle Cell Anemia- 1998) vừa mới hoàn tất, so sánh việc
truyền máu định kỳ với chăm sóc chuẩn ở 130 trẻ bị bệnh hồng cầu h́nh liềm, tuổi
từ 2 đến 16, trung b́nh 8 tuổi). Truyền máu được thực hiện trung b́nh 14 đợt mỗi
năm trong >2 năm ở nhóm trị liệu, với mục tiêu là làm giảm Hb S mức đầu từ 90%
đến 95% của Hb toàn phần xuống c̣n <30%. Thử nghiệm chấm dứt sớm 16 tháng vào
thời điểm xảy ra 11 ĐQ trong nhóm được chăm sóc chuẩn so với một ĐQ trong nhóm
được truyền máu. Nguy cơ ĐQ giảm 10% cho đến <1%/năm. Do các kết quả này, khuyến
cáo tầm soát tất cả trẻ em bị bệnh hồng cầu h́nh liềm không có tiền căn ĐQ, và
xét đến việc truyền máu cho những trẻ có hai khảo sát bất thường qua Doppler
xuyên sọ.
Đến nay, khoảng thời gian cần thiết để
truyền máu chưa được xác định. Truyền máu lâu dài luôn đi kèm với độc tính sắt
cần phải được giải độc. Trong nghiên cứu STOP, không thấy có bằng chứng của
nhiễm trùng liên quan với truyền máu, nhưng điều này và vấn đề miễn dịch cùng
loài vẫn là một nguy cơ của truyền máu. Vai tṛ của kháng đông và các thuốc
chống kết dính tiểu cầu chưa được đánh giá. Ngoài Doppler xuyên sọ, việc dùng
các phương pháp như MRI hoặc MRI mạch máu, để dự đoán ĐQ đủ để khởi sự truyền
máu pḥng ngừa chưa được chứng minh rơ. Chưa có dữ liệu hệ thống về pḥng ngừa
ĐQ ở người lớn bị bệnh hồng cầu h́nh liềm. Các trị liệu pḥng ngừa ngoài truyền
máu và việc xây dựng một chiến lược pḥng ngừa ở người lớn nên được thăm ḍ.
Khuyến
cáo: Trẻ em bị bệnh hồng cầu h́nh liềm cần
được tầm soát bằng siêu âm Doppler xuyên sọ mỗi 6 tháng để xác định mức độ nguy
cơ ĐQ. Những người có nguy cơ cao cần được xem xét để được trị liệu truyền máu.
(Mức độ bằng chứng I, Độ A)
Tăng lipid máu
Các bất thường lipid huyết tương
(triglycerid, choles-terol, LDL, và HDL) kinh điển được xem như là yếu tố nguy
cơ của bệnh mạch vành nhưng không có ư nghĩa đối với bệnh mạch máu năo. Tuy
nhiên, các nghiên cứu gần đây đă giúp sáng tỏ mối tương quan giữa lipid và ĐQ,
đồng thời cho thấy các thuốc làm hạ cholesterol có thể làm giảm nguy cơ của tai
biến và lượng xơ vữa của động mạch cảnh.
Trong một tổng phân tích lớn (Qizilbash N,
et al. 1995) gồm 45 thuần tập quan sát tiền cứu trên 450.000 cá nhân, không thấy
có sự liên quan nào giữa cholesterol và tỉ lệ ĐQ. Tuy nhiên, trong tổng phân
tích này, mối tương quan giữa cholesterol toàn phần và ĐQ bị nhiễu bởi các báo
cáo về mối tương quan nghịch giữa cholesterol toàn phần và xuất huyết năo trong
số các người có nồng độ cholesterol huyết tương <160 mg/dL. Trong các nghiên cứu
của tổng phân tích, đa số ĐQ đều tử vong, và không phân biệt rơ giữa ĐQ thiếu
máu và xuất huyết.
Đối với ĐQ thiếu máu năo, một vài nghiên
cứu cho thấy có một tương quan yếu giữa cholesterol trong huyết tương và nguy cơ
gia tăng nhồi máu năo. Ví dụ, nghiên cứu The Multiple Risk Factor Intervention
Trial (Iso H, et al. 1989) chứng minh tử vong gia tăng ở nam với nồng độ
cholesterol cao. Tỉ số nguy cơ đă hiệu chỉnh là 1,8 đối với người có nồng độ
cholesterol trong huyết tương từ 240 - 279mg/dl và 2,6 đối với người có nồng độ
cholesterol bằng 280mg/dL. Trong Honolulu Heart Program, có sự gia tăng liên tục
và không ngừng của cả tỉ lệ bệnh mạch vành và tai biến huyết khối lấp mạch với
nồng độ cholesterol càng tăng. Mối tương quan nghịch giữa HDL và nguy cơ ĐQ được
chứng minh ở cả trong nghiên cứu Oxfordshire Community Study lẫn nghiên cứu
Northern Manhattan Stroke Study (Neuroepidemiology. 1996;15: 20S.). Các
nghiên cứu gần đây dùng kỹ thuật siêu âm đă nhận biết mối liên quan giữa các
nồng độ lipid và xơ vữa mạch cảnh ngoài sọ và độ dày của mảng nội-trung mạc.
Các thử nghiệm trước đây không xác nhận
việc dùng các thuốc hạ lipd máu làm giảm nguy cơ ĐQ (Atkins D, et al. 1993). Tuy
nhiên, một thử nghiệm mới đây dùng kỹ thuật đo lường siêu âm hàng loạt lại thấy
việc hạ LDL bằng thuốc statin có thể làm chậm sự tiến triển của xơ vữa động mạch
cảnh không triệu chứng (Crouse JR III, 1995 & Hodis HN, 1996).
Các
thử nghiệm lâm sàng đă chứng minh lợi ích hằng định của các thuốc statin trong
việc giảm nguy cơ tai biến ở những người bệnh mạch vành và có nồng độ
cholesterol cao, cũng như đối với số người chỉ có tăng cholesterol từ nhẹ cho
đến mức giới hạn. Ví dụ, nghiên cứu Simvastatin Survival Study (Lancet.
1994; 344:1383-1389) đánh giá tác dụng giảm cholesterol trên 4444 BN có nồng độ
cholesterol cao và bệnh mạch vành. Nhóm được điều trị bằng simvastatin có giảm
ĐQ thiếu máu không do lấp mạch và cơn thiếu máu năo thoáng qua, tuần tự là 51%
và 35%. Năm 1998, FDA chấp thuận dùng simvastatin để giảm nguy cơ của ĐQ lần đầu
hoặc cơn thiếu máu năo thoáng qua ở người có cholesterol toàn phần cao và bệnh
mạch vành. Thử nghiệm lâm sàng The West Of Scotland Primary Prevention (WOSCOPS-
N Engl J Med. 1995; 333:1301-1307) thấy giảm 11% ĐQ, không có ư nghĩa, ở nam
giới có bệnh mạch vành và tăng cholesterol máu được điều trị bằng pravastatin.
Nghiên cứu the Cholesterol And Recurrent Events (CARE- Circulation.
1999;99:216-223) thăm ḍ hiệu quả của việc giảm cholestrol với pravasatin trên
4159 người đă bị một cơn đau tim trong ṿng 2 năm trước đó và cho thấy nguy cơ
ĐQ hoặc cơn thiếu máu năo thoáng qua giảm 32%. Năm 1998 việc dùng Pravastatin
cũng được FDA chấp thuận để giảm nguy cơ ĐQ ở BN đă từng bị cơn đau tim? và có
mức độ cholesterol b́nh thường (cholesterol toàn phần <240 mg/dL)
Lợi ích của các thuốc statin trong pḥng
ngừa ĐQ ở BN có bệnh mạch vành đă được nhiều tổng phân tích hỗ trợ. Chính xác
statin bảo vệ chống lại ĐQ như thế nào th́ c̣n là điều chưa rơ. Mặc dù giảm mức
nào đó của ĐQ có thể do các biến đổi của lipoprotein, statin cũng có thể tác
động thông qua các cơ chế không liên quan ǵ đến đặc tính làm hạ lipid của
chúng, như cải thiện chức năng nội mạc, làm vững bền mảng xơ vữa, và chống thành
lập huyết khối, kháng viêm và bảo vệ thần kinh.
Khuyến
cáo: Khuyến cáo xử trí BN có nồng độ
cholesterol cao theo hướng dẫn của Chương tŕnh Giáo Dục vể Cholesterol (Bảng
5). BN có bệnh mạch vành và LDL cholesterol cao có thể xét để dùng statin (Mức
độ bằng chứng I, độ A). Cần có thêm dữ liệu để làm sáng tỏ vai tṛ của Lp (a)
như là một yếu tố độc lập của ĐQ.
Các yếu tố nguy cơ kém được minh chứng hoặc có khả năng biến đổi được
Các yếu tố nguy cơ ít được hiểu biết hơn
hoặc có khả năng biến đổi được, được tŕnh bày trong Bảng 4.