Mở đầu
Huyết nhiễm (sepsis) là một bệnh lư khá
thường gặp ở hầu hết các chuyên khoa, với bệnh trạng thường là nặng và có thể
ảnh hưởng đến sinh mạng, nên bệnh nhân (BN) huyết nhiễm nặng hoặc có biến chứng
phải được theo dơi và điều trị tại các khoa săn sóc đặc biệt cho đến khi ổn
định. Các BN này vừa phải chịu các phương tiện chẩn đoán và điều trị xâm lấn đặc
biệt, ít nhiều gây tổn hại cho cơ thể đồng thời c̣n phải chịu thêm nguy cơ nhiễm
trùng mắc phải trong bệnh viện cao hơn nhiều so với các BN nằm tại các khoa điều
trị thông thường.(1)
Báo cáo này nêu lên một trường hợp nhập
khoa săn sóc đặc biệt v́ huyết nhiễm nặng mắc phải trong cộng đồng và khi chuyển
viện để điều trị theo chuyên khoa lại có thêm một huyết nhiễm mắc phải trong
bệnh viện.
Bệnh án
Bệnh nhân nữ, 45 tuổi, nội trợ, cư ngụ tại
thị trấn Thác Mơ, huyện Phước Long, tỉnh B́nh Phước nhập TTBNĐ ngày 28/5/1999 v́
sốt, mệt và nổi nhiều vết đỏ bầm ở tứ chi. Không có tiền căn bệnh lư nào đặc
biệt.
Bệnh sử: bệnh khởi phát nhanh trong
ṿng 3 ngày.
Ngày 1: sốt kèm lạnh run 2 lần/ ngày kèm
nhức đầu.
Ngày 2: buổi sáng c̣n lên cơn sốt lạnh run
nên có đi điều trị ở bác sĩ tư, và được chỉ định truyền dịch và thuốc uống không
rơ loại. Đến chiều tối, không sốt nhưng mệt mỏi nhiều, đau thượng vị, ói, tiểu
ít, kèm nổi các vết đỏ bầm bắt đầu từ các đầu ngón chân sau đó nhanh chóng lan
đến lưng bàn chân và cổ chân. Các vết này gây đau nhức nhiều làm hạn chế hoạt
động đi lại.
Ngày 3: không sốt, người mệt hơn, các vết
đỏ bầm tiếp tục nổi thêm rải rác ở cánh và cẳng tay, không đi tiểu trong suốt 20
giờ.
Khám lâm sàng: BN được người nhà đưa
thẳng đến TTBNĐ trong t́nh trạng c̣n tỉnh táo nhưng mệt đừ, thân nhiệt 37oC,
đầu chi lạnh tím.
Khám thấy mạch quay nhẹ, huyết áp kẹp
80/60 mmHg, thở 28 lần/phút, tim đều 96 lần/phút, đường huyết tại giường 50mg%
(BM stix), gan mấp mé hạ sườn phải, lách không sờ đụng, mắt không vàng, có nhiều
mảng xuất huyết ở hai bàn chân, cổ chân, đốm xuất huyết ở hai cánh tay rất đau
nhức, đầu chi tím và lạnh.
Dung tích hồng cầu 32%, số lượng bạch cầu
9500/mm3, neutrophil 88%, tiểu cầu 78.000/mm3, KSTSR âm
tính, X-quang phổi không phát hiện tổn thương.
Chẩn đoán ban đầu: Theo dơi xuất
huyết giảm tiểu cầu kèm hạ đường huyết.
Chẩn đoán phân biệt: (1) Sốt xuất
huyết độ III (ở người lớn), (2) Choáng nhiễm trùng.???????
Xử trí ban đầu: Thở Oxy ẩm, truyền
Glucose ưu trương, Lactate-Ringer chống choáng.
Diễn tiến: Huyết áp hồi phục nhanh
chóng sau khi truyền Glucose ưu trương và 1000 ml Lactate Ringer trong 2 giờ,
CVP đo được 16,5 cm nước.
Sau 6 giờ theo dơi, BN vẫn chưa có nước
tiểu (vô niệu trên 24 giờ), creatinin máu tăng 10,2 mg% nên chẩn đoán thay đổi
là suy thận cấp do nhiễm Leptospira và có chỉ định thẩm phân phúc mạc.
16 giờ sau lúc nhập viện, hệ thống theo
dơi mẫu cấy máu tự động (Bactec) báo hiệu dương tính, các khảo sát vi sinh kế
tiếp xác định vi trùng gây bệnh là Klebsiella pneumoniae đa nhạy với
nhiều loại kháng sinh, ngoại trừ ampicillin giúp khẳng định chẩn đoán huyết
nhiễm nặng.
Tổng phân tích nước tiểu có bạch cầu 3+
(500/ml), cấy nước tiểu phân lập
được Proteus mirabilis với số lượng > 100.000 khúm/ml. BN được điều trị
ceftriaxon 2g/ngày tiêm mạch trong 16 ngày phối hợp với ofloxacin 200mg/ngày
tiêm mạch trong 10 ngày (h́nh 1).
H́nh 1:
Diễn tiến quá tŕnh theo dơi và điều trị BN

Sau 6 ngày thẩm phân phúc mạc và điều trị kháng sinh (N8 của bệnh), tổng trạng
BN hồi phục khá tốt, không sốt, lượng nước tiểu tăng dần từ vô niệu lên được
135ml/24 giờ, creatinin máu giảm c̣n 4mg% (h́nh 1). Tuy nhiên, các ngón của hai
bàn chân tiếp tục bị hoại tử khô, siêu âm mạch máu cho thấy có thuyên tắc động
mạch ngọn hai chi dưới. Đồng thời siêu âm bụng lại phát hiện hai thận đều bị ứ
nước độ 3, không thấy sỏi. Khi hội chẩn với chuyên khoa chấn thương chỉnh h́nh
về hoại tử các ngón và bàn chân hai bên, đề nghị sẽ xử lư đoạn chi khi suy thận
đă ổn định và t́nh trạng hoại tử khô không cải thiện thêm.
Đến N9, BN bắt đầu có cơn sốt cao
trong ngày mặc dù vẫn đang được điều trị với 2 loại kháng sinh phối hợp.
Từ N10 đến N20, tổng trạng vẫn ổn
định, BN có thể tự đi lại, ăn uống được, tiểu nhiều (từ 135 lên đến 2800 rồi
giảm c̣n 1350ml/24 giờ), nhưng creatinin máu tăng trở lại (9mg%) đồng thời sốt
vẫn tiếp tục gia tăng với đỉnh cao 41oC kèm lạnh run vào N19 của
bệnh. BN được chỉ định siêu âm bụng và cấy máu kiểm tra. Siêu âm cho thấy hai
thận vẫn c̣n ứ nước độ 3, giăn niệu quản hai bên, có sỏi niệu quản trái và sỏi
thận bên phải.
Cấy máu phân lập đượcAcinetobacter
baumannii
(định danh với API20NE) đa kháng với nhiều loại kháng sinh.
Hội chẩn với chuyên khoa ngoại, BN
được chọc hút dịch từ thận phải để làm xét nghiệm. Khảo sát vi sinh dịch hút từ
thận lại soi thấy và phân lập được cùng một loại tác nhân Acinetobacter
baumannii như trong cấy máu. BN sau đó được chuyển về chuyên khoa ngoại BV
B́nh Dân để giải quyết vấn đề tắc nghẽn đường tiết niệu trong khi vẫn được tiếp
tục điều trị huyết nhiễm do Acinetobacter baumannii.

H́nh 2: Tiêu bản từ bệnh phẩm dịch hút thận phải cho thấy
có nhiều vi trùng Gram âm đa dạng, định danh xác định là Acinetobacter
baumannii (API 20NE)
Chẩn đoán bệnh theo diễn tiến:
Huyết nhiễm nặng do Klebsiella
pneumoniae
biến chứng thuyên tắc mạch ngọn chi hai chân. Suy thận cấp trên BN tắc nghẽn
đường tiết niệu do sỏi thận và sỏi niệu quản. Huyết nhiễm mắc phải trong bệnh
viện do Acinetobacter baumannii .
Bàn luận
1/ Chẩn đoán nguyên nhân và điều trị ban đầu kém chính xác:
Trong chẩn đoán sơ bộ khi nhận bệnh, nghĩ nhiều đến bệnh lư xuất huyết giảm tiểu
cầu (kèm hạ đường huyết) hoặc sốt xuất huyết hơn là choáng nhiễm trùng mặc dù
bệnh cảnh này cũng có thể giúp giải thích đầy đủ tất cả các triệu chứng của BN.
Hậu quả là BN chỉ được dùng kháng sinh (ceftriaxon) 14 giờ sau khi nhập viện,
chủ yếu là để điều trị dự pḥng trên BN có nhiều yếu tố nguy cơ bị nhiễm trùng
(đặt thông tiểu, đặt catheter đo CVP, thẩm phân phúc mạc.). Mặt khác, huyết
nhiễm trùng chỉ được ghi nhận là chẩn đoán hàng đầu trong bệnh án sau 3 ngày nằm
viện, khi kết quả khảo sát vi sinh xác định có Klebsiella pneumoniae từ
cấy máu. Tại thời điểm đó, do tổng trạng BN không cải thiện nhiều nên được chỉ
định thêm kháng sinh ofloxacin. Vấn đề chậm trễ này có thể được hạn chế nếu có
các phương tiện tầm soát nhanh huyết nhiễm như bán định lượng CRP hoặc khảo sát
các biến đổi h́nh thái bạch cầu đa nhân trung tính trên phết máu ngoại biên.(2,3)
Tuy nhiên, huyết áp BN phục hồi nhanh
chóng sau khi truyền Glucose ưu trương và 1000 ml Lactate-Ringer nên t́nh trạng
BN chưa được xem là choáng nhiễm trùng thực sự (theo tiêu chuẩn của Hội Hồi sức
và Hội Thầy Thuốc Bệnh Lồng Ngực của Mỹ)(4) mà chỉ là huyết nhiễm mức
độ nặng có hạ huyết áp.
2/ Chậm xác định nguyên nhân gây suy thận:
Do BN nhập viện trong bệnh cảnh huyết áp
thấp và kẹp, suy thận cấp phải thẩm phân phúc mạc nên ngoài các xét nghiệm máu,
X-quang phổi và ECG làm tại giường, BN không di chuyển được để làm thêm các xét
nghiệm cần thiết để tầm soát nguyên nhân tại thận gây ra suy thận. Chính v́ t́nh
trạng vô niệu diễn tiến quá nhanh, ít? phù hợp với bệnh cảnh huyết nhiễm, đồng
thời lại không khảo sát được t́nh trạng tại chỗ của hai thận nên khi xác định
được t́nh trạng suy thận cấp, BN được thay đổi chẩn đoán là nhiễm Leptospira mặc
dù bệnh cảnh lâm sàng không phù hợp hoàn toàn với chẩn đoán này. Trong các ngày
kế tiếp (N5-N10), BN dần dần ổn định, t́nh trạng suy thận diễn tiến khá tốt. Sau
6 ngày thẩm phân phúc mạc, creatinin máu giảm nhanh, lượng nước tiểu tăng nhanh,
có ngày lên đến 2800ml/24 giờ, kết quả này lại góp phần làm cho bác sĩ lâm sàng
ít nghĩ đến t́nh trạng suy thận cấp có nguyên nhân tắc nghẽn tại đường tiết
niệu. Ngay cả khi đă tiến hành khảo sát siêu âm vào ngày thứ 7 sau nhập viện
(N10 của bệnh) và phát hiện có t́nh trạng ứ nước độ 3 ở cả hai bên thận, dấu
hiệu gợi ư này cũng không được chú ư đúng mức.
3/ Chậm xác định ngơ vào của bệnh cảnh huyết nhiễm:
Trong chẩn đoán và điều trị t́nh trạng huyết nhiễm, việc xác định vị trí nhiễm
khuẩn nguyên phát có vai tṛ quan trọng v́ một mặt sẽ giúp thầy thuốc lâm sàng
dự đoán được phổ tác nhân gây bệnh và có chỉ định kháng sinh phù hợp.(5)
Mặt khác, việc điều trị và loại bỏ các ổ nhiễm khuẩn nguyên phát có vai tṛ
quyết định cho kết quả điều trị huyết nhiễm,(6) các ổ nhiễm khuẩn có
nguyên nhân và vị trí khác nhau sẽ phải xử lư bằng các biện pháp khác nhau. Do
đó trong một số trường hợp, t́nh trạng huyết nhiễm có thể đáp ứng kém với điều
trị hoặc tái phát khi ngưng kháng sinh nếu việc xác định ổ nhiễm nguyên phát bị
chậm trễ hoặc không thực hiện được. Trong t́nh huống hiện tại, có rất nhiều khả
năng là t́nh trạng tắc nghẽn? tại đường tiết niệu cùng lúc cả hai bên vừa là
nguyên nhân chính gây ra t́nh trạng suy thận cấp đồng thời cũng tạo nên ổ nhiễm
khuẩn nguyên phát, từ đó gây ra huyết nhiễm nặng và du khuẩn huyết (do
Klebsiella pneumoniae). Điểm yếu của giả thuyết này là trong tiền căn của BN
không có triệu chứng nào của bệnh lư đường tiết niệu trước đó, đồng thời kết quả
cấy nước tiểu ban đầu lại phân lập được Proteus mirabilis nên không phù
hợp với kết quả cấy máu. Tuy nhiên, khi BN bị sốt cao liên tục trong nhiều ngày
trong lúc đang được điều trị với hai loại kháng sinh phối hợp (ceftriaxon và
ofloxacin), kết quả cấy máu và cấy dịch hút thận phải vào thời điểm đó đều phân
lập được Acinetobacter baumannii đa kháng, th́ đài bể thận ứ nước rơ ràng
đă trở thành ổ nhiễm khuẩn với bằng chứng cụ thể, chỉ có điểm khác là nhiễm
khuẩn lần này mắc trong bệnh viện. Điều này một lần nữa lại giúp nhấn mạnh tầm
quan trọng của việc xác định vị trí nhiễm khuẩn và trong thực tế nên thực hiện
càng sớm càng tốt.
5/ Huyết nhiễm mắc phải trong bệnh viện:
Khi các triệu chứng huyết nhiễm xuất hiện trở lại (thường gặp nhất là sốt) trên
BN đă được điều trị ổn định một thời gian và hiện vẫn c̣n đang dùng kháng sinh
đặc trị th́ thường là do một hay nhiều nguyên nhân như sau (1) Điều trị không
hiệu quả: kháng sinh chưa hợp lư, hoặc chưa t́m ra và giải quyết ổ nguyên phát,
(2) Sốt do thuốc (kháng sinh), và (3) Nhiễm khuẩn (bệnh viện) mới phát sinh.
Trong đó, nguyên nhân sốt do thuốc được nghĩ đến khi đă kiểm tra và loại trừ hai
nguyên nhân c̣n lại.
Trong t́nh huống này, ngoài sốt tái phát,
tổng trạng BN khá ổn định, nên được xử lư theo tŕnh tự khá hợp lư: (1) hội chẩn
khoa và bệnh viện đánh giá t́nh trạng BN, (2) ngưng kháng sinh ceftriaxon và
ofloxacin sau khi đă dùng đủ thời gian (10-16 ngày), (3) làm lại các khảo sát
tầm soát về vi sinh, (4) tầm soát lại vị trí ổ nhiễm nguyên phát? và (5) hội
chẩn chuyên khoa thích hợp để giải quyết các biến chứng và ổ nhiễm nguyên phát.
Kết quả khảo sát đă ủng hộ giả thuyết có nhiễm khuẩn bệnh viện mới phát sinh (Acinetobacter
baumannii đa kháng) và có ổ nhiễm khuẩn chưa giải quyết (ứ nước thận và niệu
quản hai bên do sỏi).
Acinetobacter baumannii là một
trong những tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện mới xuất hiện ở các khoa săn sóc
đặc biệt tại Trung Tâm Bệnh Nhiệt Đới (TTBNĐ). Mặc dù tác nhân này đă từng được
phân lập trong một số ít trường hợp nhiễm khuẩn mắc phải từ cộng đồng trong các
năm 1991-1997, nhưng Acinetobacter baumannii chỉ gây nhiều chú ư cho thầy
thuốc lâm sàng cũng như vi sinh tại TTBNĐ trong 3 năm gần đây,(7) do
có sự gia tăng đáng kể nhiễm khuẩn bởi các chủng Acinetobacter spp đa
kháng với kháng sinh.
Kết luận
Huyết nhiễm (sepsis) tuy là bệnh lư thường
gặp, nhưng bệnh cảnh thường đa dạng nên có không ít trường hợp chẩn đoán bị chậm
trễ hoặc bị bỏ sót nhất là khi BN nhập viện với bệnh cảnh ít điển h́nh, ổ nhiễm
trùng nguyên phát không rơ hoặc không nhận diện được. Trong một số trường hợp
khác, các triệu chứng quá nổi bật của một bệnh lư nội hoặc ngoại khoa đi kèm -
đặc biệt? là khi bệnh nền và huyết nhiễm có mối liên hệ nhân quả - cũng có thể
làm lệch hướng sự chú ư của bác sĩ lâm sàng dẫn tới việc bỏ sót các triệu chứng
quan trọng của t́nh trạng huyết nhiễm. Do vậy, việc sử dụng thêm một vài phương
tiện tầm soát nhanh như CRP hoặc phết máu ngoại biên sẽ giúp thêm thông tin để
có hướng xử lư thích hợp.
Ngoài các trường hợp huyết nhiễm mắc phải
từ cộng đồng, huyết nhiễm mắc phải từ bệnh viện tuy là một vấn đề mới xuất hiện
trong các năm gần đây tại các bệnh viện tuyến sau hoặc trung ương, nhưng đă mau
chóng phát triển đến mức báo động, nhất là ở các khoa săn sóc đặc biệt. Nhiễm
trùng bệnh viện ngoài việc làm kéo dài thời gian nằm viện, tăng chi phí điều
trị, tổn hại thêm sức khoẻ cho BN c̣n là một trong những nguyên nhân gây ra t́nh
trạng tái xuất hiện các triệu chứng huyết nhiễm cần đưa vào chẩn đoán phân biệt
trong lúc bệnh nhiễm trùng nguyên phát đang được điều trị ổn định.
Tài Liệu Tham Khảo
1.
Donowitz-LG; Wenzel-RP; Hoyt-JW. High risk of hospital-acquired infection
in the ICU patient. Crit-Care-Med, 1982 Jun; 10(6): 355-7. (Abstract)
2.
Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Thị Tuyết Hoa, Trần Tịnh Hiền. Tiếp cận chẩn
đoán bệnh nhiễm trùng: So sánh phết máu ngoại biên và bán định lượng C-reactive
protein. Tài liệu Hội Thảo Khoa Học về Kháng Thuốc Ở Các Tỉnh Phía Nam. Tổ chức
tại Trung Tâm Bệnh Nhiệt Đới 16-17 tháng 10, 1997; trang 67 (Tóm tắt).
3.
Nguyễn Minh Đường, Hà Vinh,? Nguyễn Thị Tuyết Hoa, Tô Song Diệp, Trần
Tịnh Hiền : Các Biến Đổi H́nh Thái Bạch Cầu Đa Nhân Trung Tính Trong T́nh Trạng
Nhiễm Trùng. Thời sự Y Dược học, Hội Y Dược Học TP HCM, 2/1995, trang 19-26, và
tháng 4/1995, trang 28-33,37.
4.
Bone RC et al. The ACCP/SCCM Consensus Conference Committee: Definitions
for Sepsis and Organ Failure and Guidelines for the Use of Innovative Therapies
in Sepsis. Chest, 1992; 101:1644-1655.
5.
Hughes NE, Alcid DV. Sepsis of Unknown Etiology. In "A Practical Approach
to Infectious Diseases",chapter 2: Bacteremia and Sepsis. Edited by Reese RE and
Betts RF, MSD Handbook 4th edition, 1996; 28-32.
6.
Young LS. Antimicrobial therapy for the sepsis syndrome. In " Mandell,
Douglas and Bennett?s Principles and Practice of Infectious Diseases. Edited by
Mandell GL, Bennett JE, Dolin R. Churchill Livingstone, 4ih edition, 1995.
Section E, Chapter 56:? Sepsis syndrome, pp 691-705.
7.
Nguyễn Minh Đường và cộng sự. Cấy đàm và Dịch Rửa Phế Quản. Báo cáo Sinh
Hoạt Khoa Học, TTBNĐ, 8/1999.