|
chỉ số apgar trong thế kỷ 21
Năm 1952, BS Virginia Apgar đă phát triển
một hệ thống cho điểm đánh giá t́nh trạng trẻ sơ sinh ra đời tại Bệnh viện Phụ
nữ Sloane (New York City, Hoa Kỳ). BS Apgar, một bác sĩ gây mê sản khoa, đă sử
dụng hệ thống cho điểm này để đánh giá tác dụng của việc đỡ đẻ đối với trẻ sơ
sinh ngay sau khi lọt ḷng. Hệ thống đơn giản của bà dựa vào tổng số điểm của
năm yếu tố (nhịp tim, khóc chào đời, đáp ứng phản xạ, trương lực cơ, và màu sắc)
được ghi nhận sau khi sinh được 1 phút. Đó là những dấu hiệu khách quan thường
được bác sĩ gây mê quan sát khi theo dơi t́nh trạng bệnh nhân trong khi phẫu
thuật. Mỗi dấu hiệu được cho điểm từ 0 (không có) đến 1 và 2. Một trẻ sơ sinh có
tổng số điểm (chỉ số) là 10 có nghĩa là t́nh trạng của bé ở điều kiện tốt nhất
có thể có được. Hệ thống cho điểm này nhanh chóng được nhiều người chấp nhận, và
ngày nay chỉ số Apgar hầu như được sử dụng cho mọi trẻ sơ sinh tại cơ sở y tế.
Thoạt đầu, hệ thống tính điểm được BS
Apgar sử dụng để xác định xem ngôi thế, cách sinh, và kiểu gây mê được áp dụng
ảnh hưởng như thế nào trên trẻ sơ sinh, và để so sánh kết quả đỡ đẻ của các bệnh
viện khác nhau. Bà cũng chứng minh giá trị của chỉ số này trong việc trong việc
ước tính xác suất sống của trẻ, và sau đó bà c̣n chủ trương dùng chỉ số này để
đánh giá nhu cầu cần hồi sức sơ sinh hay không. Năm 1964? một chỉ số bổ sung
đánh giá t́nh trạng trẻ sơ sinh sau khi sinh được 5 phút cũng được mọi người
chấp nhận sau khi có kết quả báo cáo của "Nghiên cứu hợp tác về Bại năo", cho
thấy chỉ số lúc 5 phút có liên quan chặt chẽ với tỉ lệ tử vong sơ sinh nhiều hơn
là chỉ số 1 phút.
Hơn 25 năm qua, đă có nhiều ư kiến phê
phán chỉ số Apgar v́ cho rằng nó không phát hiện đúng những trường hợp ngạt chu
sinh hoặc tiên đoán được những khiếm khuyết trong phát triển thần kinh sau này.
Sự liên quan lỏng lẻo giữa chỉ số Apgar thấp với một số chỉ điểm của tiềm năng
ngạt chu sinh - bao gồm những bất thường về nhịp tim thai, nước ối tẩm phân su,
và nhiễm toan khi sinh - không có ǵ đáng ngạc nhiên, v́ chỉ số Apgar không có ư
định đo lường t́nh trạng ngạt chu sinh. Hơn nữa, nhận xét thấy đại đa số trẻ bại
năo không có chỉ số Apgar thấp không có ǵ lạ. Nên lưu ư rằng hiện nay không có
một phép đo đơn độc nào về t́nh trạng thai nhi hoặc trẻ sơ sinh cho phép tiên
đoán chính xác được sự khiếm khuyết phát triển thần kinh sau này. Các trường
phái nhi khoa và sản phụ khoa Hoa Kỳ đều nhấn mạnh rằng chẩn đoán ngạt chu sinh
gây bệnh năo, ngoài chỉ số Apgar thấp sau 5 phút và nhiễm toan sơ sinh, cần có
bằng chứng của những bất thường thần kinh sơ sinh và rối loạn chức năng nhiều cơ
quan.
Gần đây, ngày càng có nhiều mối bận tâm về
sự hữu ích của chỉ số Apgar trong việc đánh giá trước mắt đối với trẻ sơ sinh.
Có gợi ư cho rằng chỉ số này không c̣n hợp thời và giá trị tiên đoán của nó
không c̣n như trước v́ có nhiều phương tiện chăm sóc sơ sinh hữu hiệu và nhanh
chóng. Sản khoa hiện đại bao gồm cả việc đánh giá thai nhi trước khi sinh. Và sự
có mặt của các bác sĩ hồi sức sơ sinh để can thiệp ngay khi cần thiết đă trở
thành thường qui trong các pḥng sinh, ngoại trừ những trường hợp hết sức thông
thường. Giá trị của chỉ số Apgar đối với trẻ sinh non cũng được đặt vấn đề, v́
những yếu tố như trương lực cơ, phản xạ đáp ứng kích thích, và tiếng khóc chào
đời bị ảnh hưởng bởi t́nh trạng thiếu tháng của trẻ. Rơ ràng trẻ sinh non chắc
chắc có chỉ số Apgar thấp hơn trẻ sinh đủ tháng.???
Thời gian trẻ cất tiếng khóc tự nhiên (hơi
thở đầu tiên) được gợi ư như là một chỉ điểm về t́nh trạng trước mắt của trẻ hữu
ích hơn chỉ số Apgar. Tuy vậy, chỉ điểm này không toàn diện v́ chỉ đo lường một
đặc trưng và có thể bị ảnh hưởng bởi việc dùng thuốc trên người mẹ. Đo khí máu
động mạch cuống rốn là cách đánh giá chính xác nhất về t́nh trạng trước mắt của
trẻ, nhưng tính hữu dụng của xét nghiệm này c̣n hạn chế v́ kết quả thường chậm
trễ sau khi đă quyết định điều trị cho trẻ.??
Thế th́ chỉ số Apgar có vị trí như thế nào
trong thế kỷ 21? Một nghiên cứu của Casey và cộng sự được đăng tải trên tạp chí
New England Journal of Medicine số ra ngày 15/2/2001, đă báo cáo kết quả
phân tích hồi cứu trên 151.891 trẻ sơ sinh, ra đời từ năm 1988 đến 1998. Các tác
giả nhận thấy những trẻ có chỉ số Apgar
?3 sau 5 phút có nguy cơ tử
vong sơ sinh cao nhất. Chỉ số Apgar tiên đoán tử vong chính xác hơn trị số pH
máu động mạch cuống rốn. Nguy cơ tử vong sơ sinh ở trẻ đủ tháng có chỉ số Apgar
?3 cao gấp tám lần trẻ đủ tháng có pH máu động mạch
cuống rốn
?7.
Kết quả của Casey và cộng sự về sự kết hợp
giữa chỉ số Apgar thấp sau 5 phút và tăng nguy cơ tử vong sơ sinh phù hợp với
Nghiên cứu hợp tác về Bại năo cách đây gần 40 năm. Tuy nhiên, có sự khác biệt
đáng lưu ư giữa hai nghiên cứu này. Trong nghiên cứu trước đây (1964), chỉ số
Apgar sau 5 phút
?3 phản ánh t́nh trạng tự nhiên của trẻ; trong
khi theo báo cáo của Casey và cộng sự, chỉ số
?3 chỉ ra t́nh
trạng trầm trọng của trẻ không thể đáp ứng với các nổ lực hồi sức cấp cứu của
nhóm chuyên viên hồi sức sơ sinh.
Mặc dù chỉ số Apgar bị nhiều người coi là
một số đo lỗi thời về t́nh trạng của trẻ sơ sinh, nhưng ít ai phủ nhận việc áp
dụng chỉ số 1 phút trong mục đích mà ban đầu BS Apgar đă đề ra là tập trung chú
ư đến t́nh trạng của trẻ ngay khi mới sinh ra. Hơn nữa, cho đến khi phát triển
được một công cụ đánh giá sơ sinh hữu ích hơn, th́ chỉ số Apgar 5 phút vẫn có
giá trị, như Casey và cộng sự đă chứng minh, như là một phương pháp đánh giá
nhanh chóng tính hiệu quả của các nỗ lực hồi sức cấp cứu và khả năng sống sót
của trẻ.
Theo Papile L-A., và Casey et al., N. Eng J Med. Vol. 344, No
7, 2001.
????? ?những tiến bộ mới trong điều trị bệnh hen phế
quản?
Trong điều trị hen phế quản,
corticosteroid dạng hít (CDH) được xem thuốc hiệu quả nhất để khống chế viêm
trong hen phế quản (PQ). CDH làm giảm sự tăng đáp ứng đường dẫn khí và kiểm soát
bệnh tiềm ẩn nhằm giảm triệu chứng và cơn hen, đồng thời nâng cao chất lượng
cuộc sống BN.
Cách tiếp cận dùng trong xử trí BN hen PQ
là "khởi đầu cao và đi từ từ " nghĩa là khởi đầu dùng liều cao CDH (ví dụ 800
mg/ngày) và khi kiểm soát
được triệu chứng, liều dùng được giảm xuống tối thiểu cần thiết để duy tŕ.
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu hiện nay cho
thấy ở BN mà các triệu chứng chưa được khống chế bằng CDH, việc thêm vào một
thuốc khác (chủ vận
b2,
theophyllin liều thấp hoặc thuốc kháng leukotrien) có hiệu quả hơn là tăng liều
CDH. Bởi v́ đường cong đáp ứng theo liều của CDH thuộc dạng cao nguyên, cho nên
tăng liều cao hơn nhưng đáp ứng tăng không đáng kể. Hơn nữa với liều cao hơn,
phản ứng ngoại ư toàn thân trở thành vấn đề phải quan tâm. Chất chủ vận
b2
tác dụng kéo dài là một trong những chất thêm vào có hiệu quả nhất do làm giăn
phế quản
? 12 giờ. Nhiều nghiên
cứu chứng tỏ phối hợp chủ vận
b2 tác dụng kéo dài
salmeterol với liều cao hay liều thấp CDH đều có tác dụng kiểm soát hen tốt hơn
là tăng liều gấp đôi CDH.
Nghiên cứu của Jenkins C, và CS
(2000) trên 353 BN hen trung b́nh vẫn c̣n triệu chứng dù được điều trị bằng
800-1200
mg budesonid. BN được phân
chia ngẫu nhiên dùng phối hợp salmeterol 50
mg và fluticason
propionat 250 mg
(Seretide, Advair, 50/250 microg) 2 lần /ngày hoặc dùng budesonid 800
mg/ngày trong 24 tuần lễ.
Các chỉ số đánh giá bao gồm: lưu lượng khí thở ra tối đa (PEF) sáng và tối;
thang điểm triệu chứng ngày và đêm; và việc phải dùng salbutamol khẩn vào ban
đêm.
Kết quả cho thấy qua 24 tuần, PEF
trung b́nh buổi sáng ở nhóm salmeterol/fluticason propionat tăng 25 L/phút nhiều
hơn nhóm budesonid (p<0,001). Tương tự, số ngày trung vị không triệu chứng ở
nhóm salmeterol/ fluticason propionat là 60% so với 34% ở nhóm budesonid
(p<0,001). Số ngày trung vị không sử dụng salbutamol khẩn vào ban đêm là 67% ở
nhóm salmeterol/fluticason propionat so với 36% ở nhóm budesonid (p<0,001).
Nghiên cứu của Mats J và CS (2000) về tỷ
lệ và đặc điểm của cơn hen trở nặng ở BN được điều trị bằng phối hợp salmeterol
và fluticason liều thấp so với fluticason liều cao. Đây là phân tích trên 104 BN
có cơn hen trở nặng dựa trên những dữ liệu từ 2 nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên,
dài 6 tháng nhằm so sánh việc sử dụng phối hợp salmeterol (42
mg?2 lần/ngày) + fluticason
liều thấp (FP 88 mg?2
lần/ngày) so với fluticason liều cao gấp 2,5 lần (FP 220
mg
?
2 lần/ngày) trên BN hen PQ dai dẳng. Cơn hen trở nặng được định nghĩa bệnh hen
xấu đi phải dùng thuốc corticosteroid uống. Các chỉ số đánh giá bao gồm PEF buổi
sáng, sử dụng salbutamol khẩn và thang điểm triệu chứng trước, trong và sau khi
xảy ra cơn hen trở nặng.
Phân tích về thời gian để có cơn hen trở
nặng đầu tiên thấy trong nhóm phối hợp SF được bảo vệ tốt hơn nhóm tăng liều
fluticason (p=0,049). Trong số BN hen từ nhẹ đến trung b́nh (FEV1=
60-85% trị số dự kiến) có 18 (7%) trong nhóm S+F88 bị trở nặng so với 27 (11%)
BN trong nhóm FP220. Trong số BN hen nặng (FEV1= 40-60% trị số dự
kiến) có 23 (11%) của nhóm SF88 và 36 (17%) của nhóm FP220 bị trở nặng. Cả hai
nhóm đều có những thay đổi tương đương về PEF buổi sáng, sử dụng khẩn
salbutamol, thang điểm triệu chứng 14 ngày trước và sau cơn hen trở nặng. Tuy
nhiên, sử dụng khẩn salbutamol và thang điểm triệu chứng của nhóm PF220 nhiều
hơn nhóm SP88 ngay cơn hen trở nặng và 1-5 ngày sau cơn hen, cho thấy độ nặng
của nhóm SF88 có giảm. Kết quả chung như bảng sau:
|
|
S+FP88
(n=467)
|
FP220
(n=456)
|
P
|
|
Số BN với 1 cơn trở nặng
|
41 (8,8%)
|
63 (13,8%)
|
0,017
|
|
Tổng số cơn trở nặng
|
47
|
75
|
|
|
Tỷ lệ cơn trở nặng
|
Ô,29
|
0,48
|
0,001
|
|
Thời gian trung b́nh của cơn trở nặng
|
8,4?0,9
ngày
|
10,5?1,2 ngày
|
0,173
|
Phân tích chứng tỏ trên BN hen dai dẳng,
sử dụng phối hợp salmeterol + fluticason liều thấp (88
mg?2
lần/ngày) cho tỷ lệ bị cơn hen trở nặng thấp hơn dùng đơn độc fluticason liều
cao (220
mg?2
lần/ngày). Hơn nữa, những dữ liệu trên c̣n chứng tỏ salmeterol (42
mg?
2 lần/ngày) không che lấp các chỉ điểm sinh lư và lâm sàng của bệnh hen trở nặng
và gợi ư rằng độ nặng của bệnh sẽ được giảm khi dùng phối hợp với corticosteroid
dạng hít.
Nghiên cứu của Woolcock và CS (1996) đánh
giá lợi ích của việc thêm chất chủ vận
b2
tác dụng kéo dài ở 2 liều khác nhau so với tăng gấp đôi liều CDH. Đây là nghiên
cứu ngẫu nhiên, mù đôi tại 72 trung tâm, kéo dài 24 tuần, trên BN hen c̣n triệu
chứng sau khi sử dụng CDH. BN được phân chia thành 3 nhóm điều trị: Nhóm 1 có
243 BN dùng salmeterol 50
mg?2
lần/ngày và beclomethason 500
mg? 2 lần/ngày. Nhóm 2 có 244
BN dùng 100
mg?2
lần/ngày và beclomethason 500
mg?2 lần/ngày. Nhóm 3 có 251
BN dùng đơn độc beclo-methason 1000 mg?2 lần/ngày.
Kết quả cho thấy các chỉ số đo lường chức
năng phổi như PEF và FEV1 trong 2 nhóm phối hợp được cải thiện hơn so
với nhóm dùng đơn độc corticosteroid tăng liều có ư nghĩa thống kê. Trong nhóm
phối hợp, chỉ số PEF được cải thiện ngay trong tuần đầu và duy tŕ trong suốt
thời gian nghiên cứu.
Về phía BN, nhóm phối hợp báo cáo triệu
chứng ban đêm lẫn ngày được cải thiện đáng kể hơn nhóm beclo-methason tăng liều.
Nhóm dùng salmeterol liều 100
mg?2 lần/ngày không thấy lợi
ích ǵ thêm so với salmeterol 50 mg?2 lần/ngày về mặt giảm
triệu chứng. Nghiên cứu c̣n nhận thấy cả hai liều salmeterol đều làm tăng tỷ lệ
ngày và đêm không triệu chứng và giảm nhu cầu sử dụng thuốc giăn phế quản khẩn
ban ngày lẫn đêm.
Cơn hen trở nặng ở cả 3 nhóm tương đương
nhau được phản ánh bởi số người cần uống corticosteroid giống nhau. Nhập viện
hiếm thấy ở cả 3 nhóm điều trị trong suốt thời gian nghiên cứu.
Về mặt an toàn, có ư kiến cho rằng sử dụng
chủ vận b2
dạng hít có thể che lấp các triệu chứng hen do tác dụng giăn phế quản và qua đó
viêm tiềm ẩn có khả năng diễn tiến đến mức nguy hại. Trong nghiên cứu này cho
thấy tần suất và tỷ lệ nhập viện của BN tương đương ở cả 3 nhóm đă không hỗ trợ
cho giả thuyết này.
Dựa vào những thử nghiệm trên đây, tháng
8/2000 FDA (Cơ quan quản lư thực và Dược phẩm Hoa Kỳ) chấp thuận cho sử dụng
Seretide trong điều trị hen PQ. Đây là thuốc đầu tiên có tác dụng kép trong điều
trị hen: vừa kháng viêm vừa chống co thắt phế quản.
Advances
in asthma therapy. Highlights of the 2000 Annual Meeting of the American Academy
of Allergy Asthma and Immunology???????????????
Chăm sóc bệnh hen phế quản tại Mỹ chưa đạt được mục tiêu
của xử trí bệnh hen phế quản
Mặc dù hiện nay có nhiều chọn lựa trong
điều trị bệnh hen phế quản và nhiều hướng dẫn nhằm cung cấp chẩn đoán và xử trí,
nhưng tần suất biến chứng và tử suất của bệnh này vẫn c̣n cao. Một cuộc khảo sát
lớn Bệnh hen ở Mỹ (Asthma in America) thực hiện vào năm 1998, qua phỏng vấn
2.509 bệnh nhân hen phế quản, 512 thầy thuốc và 1000 nhân nhân viên y tế công
cộng về nhiều khía cạnh của bệnh hen. Kết quả cho thấy việc chăm sóc bệnh hen ở
Mỹ chưa đạt được những mục tiêu đề ra của Viện quốc gia về Tim, Phổi và Máu
thuộc Viện Sức khoẻ Quốc gia. So sánh từng điểm sau đây chứng tỏ bệnh hen chưa
được kiểm soát tốt như kỳ vọng:
?
Mục tiêu quốc gia là không có nghỉ việc hoặc nghỉ học v́ bệnh hen. Khảo sát cho
thấy có 48% trẻ bệnh hen nghỉ học và 25% người lớn phải nghỉ làm v́ bệnh hen
trong năm qua.
?
Mục tiêu quốc gia là kiểm soát tốt bệnh hen để không gây cản trở giấc ngủ. Khảo
sát cho thấy có 30% bệnh nhân hen phải thức giấc v́ khó thở ít nhất một lần một
tuần.
?
Mục tiêu quốc gia là duy tŕ được những hoạt động b́nh thường hàng ngày ở bệnh
nhân hen. Khảo sát cho thấy 48% bệnh nhân hen nói hen đă làm giới hạn khả năng
tham gia các hoạt động thể thao và giải trí; 36% cho biết phải giới hạn các hoạt
động gắng sức thể lực b́nh thường, và 25% bệnh nhân cho rằng bệnh hen gây trở
ngại các hoạt động xă hội của họ.
Những phát hiện trên đây chứng tỏ đây là
vấn đề nghiêm trọng của y tế nước này và đồng thời cho thấy bệnh hen đă không
được xử trí tốt.
Một nguyên nhân khiến cho bệnh hen không
được xử trí tốt theo khảo sát này là lỗ hổng trong truyền thông giữa thầy thuốc
và bệnh nhân. Mặc dù đa số bệnh nhân báo cho thầy thuốc biết những dấu hiệu của
bệnh và dù thầy thuốc đă khuyên bảo bệnh nhân theo hướng đẫn xử trí quốc gia,
nhưng thực tế cho thấy có sự khác biệt giữa thầy thuốc và bệnh nhân nói về các
test chức năng phổi, điều trị và kế hoạch điều trị.
Khảo sát cũng cho thấy nguyên nhân của lỗ
hổng truyền thông là do thiếu hiểu biết của bệnh nhân. Ví dụ như có 9% bệnh nhân
có thể hiểu được cơ chế viêm của hen. Một nửa bệnh nhân cho rằng chỉ điều trị
triệu chứng và cơn hen chứ không điều trị nguyên nhân tiềm ẩn. Trên thực tế, qua
khảo sát cho thấy bệnh nhân chỉ dùng thuốc khi họ có triệu chứng: 61% BN sử dụng
thuốc hít tác dụng nhanh, dùng 3 lần một tuần hoặc hơn, trong khi đó theo hướng
dẫn của Viện quốc gia về Tim, Phổi và Máu th́ cần phải sử dụng thuốc kiểm soát
dài hạn. Trái lại, khảo sát này cho thấy có 19% BN bị hen dai dẳng sử dụng
corticoid hít, trong khi theo hướng dẫn đó là thuốc hiệu quả nhất trong kiểm
soát lâu dài bệnh hen ở BN >5 tuổi.
Theo BN hen, cần tăng cường hơn nữa vấn đề
giáo dục sức khoẻ. Có 71% BN tin rằng đó là nhu cầu cấp thiết nhất.
Hướng dẫn của Viện quốc gia về Tim, Phổi
và Máu, có 5 vấn đề mà BN hen cần thực hiện để cải thiện bệnh:
- Tránh tiếp xúc với dị ứng nguyên và các
yếu tố gây khởi phát hen PQ như khói thuốc lá, phấn hoa, nấm mốc, dị nguyên từ
lông thú.
- Nói chuyện với thầy thuốc về cách sử
dụng thuốc kiểm soát hen dài hạn như steroid dạng hít để giảm viêm đường dẫn
khí.
?- Theo dơi đều đặn triệu chứng của ḿnh,
và chỉ số PEF.
- Hoạch định chương tŕnh hành động khi
bệnh hen trở nặng và kịp thời.
- Thường xuyên đi khám bệnh để lượng giá
bệnh trạng và điều chỉnh trị liệu khi cần.
Theo Worstell M. Clin Exp Allergy
2000 Jun; Asthma: individual patient perspective and current unmet needs.
lamivudin trong điều trị viêm gan siêu vi B
Lamivudin là một chất đồng đẳng
deoxycytidin có hoạt tính chống siêu vi viêm gan B (HBV). Ở BN viêm gan siêu vi
B, lamivudin ức chế mạnh sự sao chép HBV.
Điều trị với lamivudin cho thấy sự cải
thiện đáng kể về mô học gan và các thông số sinh hóa trong các thử nghiệm ngẫu
nhiên, mù đôi trên BN viêm gan siêu vi B mạn tính và bệnh gan c̣n bù với HBeAg
(+). Sau 52 tuần điều trị, so với BN dùng giả dược (?25%), có hơn 56% BN người
Trung Hoa hoặc 52% người phương Tây điều trị bằng lamivudin giảm
?2 điểm của thang điểm Knodell về hoại tử -viêm
(có ư nghĩa thống kê).? Hơn nữa, ở người sử dụng lamivudin 100 mg/ngày thấy quá
tŕnh xơ hóa gan qua sinh thiết gan
?5% ít hơn có ư nghĩa
thống kê so với
?15% ở BN dùng
giả dược, và những người dùng lamivudin có diễn tiến xơ gan thấp hơn người không
dùng (1,8% so với 7,1%). BN dùng lamivudin 100 mg/ngày có đáp ứng kháng thể
kháng HBeAg nhiều hơn so với dùng giả dược: ở BN Trung Hoa là 16% so với 4%, BN
phương Tây là 17% so với 6%. Trong các thử nghiệm trên, những BN dùng lamivudin
có nồng độ ALT được b́nh thường hóa cao hơn có ư nghĩa thống kê so với người
dùng giả dược.
Trên BN HBeAg (-), HBV DNA (+) với bệnh
gan c̣n bù được nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi cho thấy nồng độ HBV DNA được
khống chế xuống dưới mức phát hiện (<2,5 pg/ml) và nồng độ ALT trở lại b́nh
thường ở 63% BN dùng lamivudin 100 mg/ngày và 6% BN dùng giả dược trong 24 tuần.
Cải thiện mô học gan thấy rơ qua sinh thiết gan ở 60% BN dùng lamivudin trong 52
tuần của nghiên cứu này.
Sử dụng lamivudin 100 mg/ngày trong 52
tuần cho kết quả tương đương hoặc cao hơn liệu pháp 24 tuần kết hợp lamivudin
với interferon-a
về cải thiện mô học gan và nồng độ ALT.
Trên BN chuẩn bị ghép gan v́ viêm gan siêu
vi B mạn tính và bệnh gan giai đoạn cuối, sử dụng lamivudin 100 mg/ngày đơn độc
hoặc kết hợp với globulin miễn dịch siêu vi viêm gan B cho thấy khống chế được
sao chép HBV và bảo vệ gan ghép không bị tái nhiễm. Lamivudin 100 mg/ngày ức chế
sự sao chép siêu vi và cải thiện mô học gan ở những người được ghép gan mới mắc
viêm gan siêu vi B hay tái phát. Lamivudin 300 mg/ngày hoặc 600 mg/ngày làm giảm
sự sao chép HBV trên BN nhiễm HIV.
Tần suất tác dụng phụ ở BN viêm gan siêu
vi B và bệnh gan c̣n bù được điều trị bằng lamivudin 100 mg/ngày từ 52 đến 68
tuần tương đương như dùng giả dược. Có 13% BN trong thời gian điều trị 52 tuần
với lamivudin 100 mg/ngày hoặc bằng giả dược tăng ALT gấp 3,1 - 10 lần chỉ số
ban đầu. ALT tăng sau điều trị lamivudin thường gặp hơn người dùng giả dược, tuy
nhiên nói chung những bất thường này tự khỏi. Có
?1,5% BN sử dụng lamivudin hoặc giả dược diễn tiến
bệnh gan mất bù.
Kết luận: Lamivudin có tác dụng ức chế sự
sao chép HBV, làm giảm hoại tử-viêm, và giảm diễn tiến xơ gan trên BN viêm gan
siêu vi B, đang có sao chép siêu vi và bệnh gan c̣n bù, kể cả BN với HBeAg (-).
Thuốc cũng khống chế sự sao chép siêu vi trên BN được ghép gan. Như vậy
lamivudin rất hữu ích trên đa số BN viêm gan siêu vi B đang có? sao chép siêu
vi.
Theo Blair Javis and Dianna Faulds.
Lamivudine: A Review of its Therapeutic Potential in Chronic Hepatitis B
Drugs
1999 Jul;58(1):101-141.
TỌA DƯỢC MỚI CHO VIÊM LOÉT HẬU MÔN
Cơ quan Quản lư Dược và
Thực phẩm (FDA) Hoa Kỳ đă chấp nhận viên tọa dược 500 mg mesalamin (Canasa(r),
Axcan) dùng điều trị viêm lóet hậu môn đang hoạt động. Cơ chế tác động của thuốc
kháng viêm này xem ra chỉ tác động tại chỗ chứ không tác động toàn thân. Thuốc
được công nhận dựa vào 2 nghiên cứu đa trung tâm, mù đôi, đối chứng với giả dược
được thực hiện tại Bắc Mỹ.
Sự khác biệt chủ yếu giữa
2 nghiên cứu là liều dùng: nghiên cứu 1 dùng 500 mg ngày 3 lần, nghiên cứu 2
dùng 500 mg ngày 2 lần. Hiệu quả tương tự như nhau. Trong tổng số 173 BN của cả
hai nghiên cứu, có 89 BN dùng tọa dược mesalamin và 84 BN dùng giả dược nhét hậu
môn. So với giả dược, mesalamin tỏ ra hơn hẳn (P<0,01) trong cả hai nghiên cứu
về sự cải thiện số lần đi tiêu, xuất huyết trực tràng, h́nh dạng niêm mạc, độ
nặng của bệnh và hoạt độ chung của bệnh sau 3 và 6 tuần điều trị. Hồ sơ ghi chép
hàng ngày cho thấy sự cải thiện có ư nghĩa của xuất huyết trực tràng trong tuần
đầu điều trị, trong khi triệu chứng mót rặn và tiêu chảy được cải thiện một cách
có ư nghĩa trong ṿng 2 tuần (P<0,001).?????
Tính hiệu quả của tọa dược
mesalamin có ư nghĩa thống kê bất luận đối với giới nào, mức độ lan rộng của
viêm hậu môn, thời gian bệnh hiện tại, và thời gian bị bệnh. Các tác dụng phụ
của tọa dược mesalamin là chóng mặt (5%), đau trực tràng (3%) và mụn trứng cá,
viêm đại tràng, sốt và nổi mẩn ngoài da (mỗi triệu chứng 2%). (Theo JAMA
7/3/2001)
một qui tắc tiên lượng bệnh nhân viêm phổi cộng đồng có
nguy cơ thấp
Viêm phổi mắc phải trong cộng đồng là một
bệnh phổ biến ở nhiều độ tuổi và tỉ lệ nhập viện điều trị thay đổi tùy nơi. Phần
lớn những trường hợp điều trị nội trú đều dựa trên quyết định chủ quan của thầy
thuốc sau khi xem xét t́nh trạng lâm sàng của bệnh nhân (BN). Bác sĩ thường có
khuynh hướng quá dè dặt về nguy cơ tử vong và biến chứng của BN viêm phổi nên
thường cho nhập viện những BN có nguy cơ thấp.
Do vậy, việc xây dựng một mô h́nh khách
quan, đúng đắn về tiên lượng của viêm phổi mắc phải trong cộng đồng sẽ giúp thầy
thuốc đánh giá nguy cơ của BN đúng hơn và quyết định cho nhập viện sẽ chính xác
hơn. Trước đây đă có những công tŕnh hồi cứu về tiên lượng này nhưng giá trị áp
dụng trên thực tế c̣n hạn chế (v́ chỉ nghiên cứu ở một trung tâm, không kiểm
chứng kết quả được trên những dân số BN độc lập, và hầu như chỉ nghiên cứu tập
trung trên BN nằm viện). V́ vậy, một nhóm tác giả ở Hoa Kỳ và Canada, đứng đầu
là Michael J. Fine (Trường Y tế Công cộng, Đại học Pittburgh, Hoa Kỳ) đă thực
hiện một nghiên cứu nhằm phát triển một qui tắc dự đoán tiên lượng có thể xác
định chính xác những BN viêm phổi cộng đồng có nguy cơ thấp về tử vong trong
ṿng 30 ngày và đánh giá độ tiên đoán đúng của qui tắc này đối với những kết cục
có ư nghĩa lâm sàng.????????
Các tác giả đă phân tích số liệu 14.199 BN
nội trú (của 78 bệnh viện) bị viêm phổi mắc phải trong cộng đồng để rút ra qui
tắc tiên đoán bằng cách phân lớp BN thành năm nhóm theo nguy cơ tử vong trong
ṿng 30 ngày. Sau đó, qui tắc này được kiểm chứng trên dữ liệu năm 1991 gồm
38.039 BN nội trú (Medis Group Validation Cohort) và trên 2.287 BN nội và ngoại
trú trong nghiên cứu thuần tập PORT (Pneumonia Patient Outcomes Research Team).
Qui tắc tiên đoán này được xây dựng qua hai bước:
- Bước 1: Những yếu tố được nhận thấy
là kết hợp một cách độc lập với tử vong là: Tuổi trên 50, có một trong năm bệnh
đi kèm (ung thư, suy tim ứ huyết, bệnh mạch máu năo, bệnh thận, và bệnh gan),
một trong năm dấu hiệu thực thể bất thường (thay đổi t́nh trạng tâm thần; mạch
?125 lần/phút; nhịp
thở
? 30 lần/phút; huyết
áp tâm thu <90 mmHg; và nhiệt độ
?40oC).
Nếu không có 11 yếu tố nguy cơ này th́ BN được xếp vào nhóm nguy cơ I, nếu có
một hay nhiều yếu tố nguy cơ th́ xếp vào các nhóm nguy cơ khác (H́nh 1).
- Bước 2: Xét thêm 2 yếu tố dân số
học (nam giới, BN điều dưỡng) và 7 yếu tố cận lâm sàng (BUN
?30 mg/dl [11 mol/l]; đường
huyết
?250 mg/dl [14 mmol/l]; Hct
<30%; Na+
<130 mmol/l; pH máu động mạch <7,35; và tràn dịch màng phổi) để cho điểm đánh
giá (Bảng 1). Tùy theo điểm số, BN được xếp vào các nhóm nguy cơ II, III. IV
hoặc V. Theo tính toán của các tác giả, qua mô h́nh hồi qui logistic đối với các
đặc trưng dân số học, lâm sàng và cận lâm sàng, điểm số để phân nhóm nguy cơ đối
với nhóm II?là
?70; nhóm III: 71-90; nhóm
IV: 91-130 và nhóm V: >130. (Bảng 2)
Trong ba thuần tập nghiên cứu, các tác giả
nhận thấy rằng tử suất ở mỗi nhóm cùng nguy cơ không khác biệt có ư nghĩa thống
kê. Tử suất thay đổi từ 0,1 đến 0,4% ở BN nhóm I (P = 0,22), từ 0,6 đến 0,7% ở
BN nhóm II (P = 0,67), từ 0,9 đến 2,8% đối với BN nhóm III (P = 0,12). Trong số
1575 BN ở ba nhóm nguy cơ thấp nhất trong thuần tập PORT, chỉ có 7 trường hợp tử
vong (nhưng chỉ có 4 trường hợp liên quan với viêm phổi). Trong thuần tập này,
cách phân tầng như trên cho thấy có một sự kết hợp có ư nghĩa với sự nhập viện
sau đó (đối với BN ngoại trú) và với việc sử dụng các biện pháp điều trị tích
cực và số ngày nằm viện (đối với BN điều trị nội trú).
|
BN viêm phổi cộng đồng
|
|
|
|
?
|
|
|
|
 BN trên 50 tuổi?
|
Có
|
|
|
???????????? Không
?
|
|
|
|
 Trong những loại bệnh dưới
đây, BN có bệnh nào kèm theo không?
- ung thư
- suy tim ứ huyết
- bệnh mạch máu năo
- bệnh thận
- bệnh gan
|
Có
|
Xếp BN vào các nhóm nguy cơ
II, III, IV hoặc V tùy điểm số đánh giá trong bước 2
|
|
???????????? Không?
|
|
|
|
BN
có dấu hiệu bất thường nào sau đây không?
- thay đổi t́nh trạng tâm thần
- mạch
?125 lần/phút
- nhịp thở
?30 lần/phút
- huyết áp tâm thu <90 mmHg
- thân nhiệt <35oC hoặc
?40oC
|
Có
|
|
|
???????????? Không
?
|
|
|
|
Xếp BN vào nhóm nguy cơ I
|
|
|
|
|
|
|
H́nh 1. Phát hiện bệnh nhân nhóm nguy cơ I
Đặc điểm lâm sàng của BN ở mỗi
nhóm nguy cơ hầu như đều giống nhau ở cả ba thuần tập. Tất cả BN nhóm I đều trẻ
(trung b́nh từ 35 đến 38 tuổi) và không có bệnh khác đi kèm hoặc dấu hiệu thực
thể bất thường. BN nhóm II là những người lớn tuổi hơn (trung b́nh 58-59 tuổi)
và phần lớn được phân vào nhóm này bởi yếu tố tuổi tác. BN nhóm III thường là
người cao tuổi (trung b́nh 72 tuổi) và đa số có ít nhất là một bệnh khác hoặc
một dấu hiệu lâm sàng (hoặc cận lâm sàng, X-quang) bất thường kèm theo. BN nhóm
IV và V c̣n cao tuổi hơn nữa (b́nh quân?
?75 tuổi) và đa số
được xếp vào nhóm này, ngoài yếu tố tuổi tác, c̣n có hai (nhóm IV) hoặc cả ba
(nhóm V) loại yếu tố nguy cơ khác nữa.
Bảng 1. Hệ thống cho điểm trong Bước 2 của qui tắc tiên đoán
đối với các nhóm nguy cơ II,III, IV và V
|
Đặc trưng
|
Điểm số*
|
|
Yếu tố dân số
Tuổi
Nam
Nữ
BN thường trú viện điều dưỡng
Bệnh kèm theo
Ung thư
Bệnh gan
Suy tim ứ huyết
Bệnh mạch máu năo
Bệnh thận
Dấu hiệu thực thể
Thay đổi t́nh trạng tâm
thần**
Nhịp thở
?30 lần/phú
HA tâm thu <90 mmHg
Nhiệt độ <35o
hoặc ?40oC
Mạch
?125 lần/phút
Cận lâm sàng và X-quang
pH động mạch <7,35
BUN
?30 mg/dl (11 mmol/l)
Natri-máu <130 mmol/l
Glucose
?250 mg/dl (14 mmol/l)
Hct <30%
Phân áp O2
động mạch <60 mmHg
Tràn dịch màng phổi
|
Tuổi (năm)
Tuổi (năm) - 10
+10
+30
+20
+10
+10
+10
+20
+20
+20
+15
+10
+30
+20
+20
+10
+10
+10
+10
|
*Tổng điểm số của một BN là tổng số điểm của tuổi
(-10 đối với phụ nữ) và điểm của mỗi đặc trưng hiện diện (những điểm số này được
tính từ các hệ số trong mô h́nh hồi qui logistic).
**Thay đổi t́nh trạng tâm thần là mất khả năng định
hướng về người, địa điểm và thời gian không do rối loạn mạn tính, hôn mê hoặc lú
lẫn.
Bảng 2: Phân tầng diểm số nguy cơ
|
Nhóm nguy cơ
|
Số điểm
|
Tử suất(%)
|
Khuyến cáo điều trị
|
|
I
|
Không có yếu tố tiên đoán
|
0,1
|
Ngoại trú
|
|
II
|
?
70
|
0,6
|
Ngoại trú
|
|
III
|
71 - 90
|
2,8
|
Nội trú (ngắn hạn)
|
|
IV
|
91 - 130
|
8,2
|
Nội trú
|
|
V
|
>130
|
29,2
|
Nội trú
|
Qua phân tích số liệu, so với những mô
h́nh tiên lượng trước đây, cách tiên đoán này có những ưu điểm sau:
- Các biến số tiên đoán được qui định rơ
ràng và có thể đánh giá được ngay khi khám BN;
- BN có thể được xếp vào nhóm nguy cơ thấp
nhất (nhóm 1) dựa vào những thông tin qua hỏi bệnh và khám thực thể lần đầu, cho
phép thầy thuốc tránh ra y lệnh xét nghiệm, giúp BN đỡ tốn kém, và đôi khi không
thể thực hiện được ngay trong điều kiện tại pḥng mạch;
- độ
chính xác và khả năng khái quát hóa của qui tắc tiến đoán này đă được kiểm chứng
trên hơn 50.000 BN nội trú tại 275 bệnh viện ở Mỹ và Canada;
- sau
cùng, kiểm chứng trên thuần tập PORT cho phép đánh giá trên BN ngoại trú, theo
dơi được tử vong đối với BN điều trị nội trú, và khảo sát thêm được kết cục lâm
sàng khác vốn cần thiết cho một tiên lượng đầy đủ đối với BN viêm phổi.
Qui tắc tiên đoán này phát hiện thấy ba
nhóm nguy cơ khác nhau (I, II và III) của BN có nguy cơ tử vong thấp và biến
chứng thấp nhất, có thể điều trị ngoại trú hoặc rút ngắn thời gian nằm viện. Tất
cả BN ?50 tuổi
không có bệnh khác kèm theo và không có dấu hiệu thực thể bất thường phát hiện
được trong bước 1 (nhóm I) đều có thể điều trị ngoại trú. Nhiều BN nhóm II và
III cũng có khả năng điều trị ngoại trú được, nếu họ được phân nhóm nguy cơ II
và III do các yếu tố tuổi tác và bệnh kèm theo hoặc dấu hiệu thực thể bất
thường. Số BN c̣n lại không tiện điều trị ngoại trú bằng kháng sinh đường uống.
Tuy vậy, để an toàn, cần bổ sung thêm rằng
tất cả những BN nhóm nguy cơ I, II hoặc III đều cần điều trị nội trú nếu có dấu
hiệu hạ ôxy-máu (độ băo ḥa oxygen dưới 90% hoặc PaO2
<60 mmHg ở không khí trong pḥng). Việc áp dụng qui tắc tiên đoán này có thể
giúp thầy thuốc đưa ra quyết định hợp lư có cần cho BN viêm phổi nhập viện hay
không. Tuy nhiên, khi áp dụng thực tế cần lưu ư đến một số khả năng sau:
- BN được xếp vào nhóm nguy cơ thấp có
thể có những chống chỉ định về y khoa hoặc tâm lư để điều trị ngoại trú. Ví dụ
BN nôn ói không cầm được; BN nghiện chích ma túy, nghiện rượu, không đáng tin
cậy, hoặc BN tâm thần; BN có những rối loạn nhận thức nặng, phải lệ thuộc người
khác trong sinh hoạt hàng ngày, phải được điều trị nội trú, bất kể bệnh nặng nhẹ
ra sao.
- Có những bệnh
hiếm không đề cập?trong qui tắc này như một yếu tố tiên đoán, ví dụ bệnh
cơ-xương, suy giảm miễn dịch, nhưng có khả năng tăng nguy cơ tiên lượng xấu. Lúc
đó, quyết định hoàn toàn dựa vào nhận định của thầy thuốc.
- V́ đa số yếu tố
tiên đoán là các biến nhị phân (ví dụ b́nh thường hoặc bất thường) để thầy thuốc
dễ sử dụng, do đó có thể sẽ có xu hướng đơn giản hóa quá mức trong việc lư giải
ư nghĩa. Chẳng hạn, bác sĩ lâm sàng ít khả năng cho xuất viện một BN 25 tuổi,
trước đây hoàn toàn khỏe mạnh, nhưng đang bị hạ áp và tim đập nhanh, tuy rằng
theo qui tắc đă nêu BN này được xếp vào nhóm nguy cơ II.
Dù sao, cách đánh
giá tiên đoán này cũng hứa hẹn giúp cho bác sĩ nhận biết một tỉ lệ lớn BN viêm
phổi cộng đồng có thể điều trị ngoại trú một cách an toàn, tuy rằng chỉ có thể
khuyến nghị chắc chắn sau khi đă có những nghiên cứu lâm sàng tiền cứu nhằm
khẳng định tính hiệu quả và độ an toàn của nó.
Theo Fine M. J. et al. A prediction rule to identify
low-risk patients with community-acquired pneumonia.
N Engl J Med 1997;336:243-50.
THUỐC CHỐNG LOẠN NHỊP CÓ THỂ GIÚP ĐIỀU TRỊ SUY TIM Ứ
HUYẾT?
Một nghiên cứu phân tích
phân nhóm tại Đan Mạch đă sơ bộ cho thấy một số bệnh nhân suy tim ứ huyết có thể
hưởng lợi từ việc điều trị bằng thuốc chống loạn nhịp nhóm III dofetilide. Bente
Brendorp (Bệnh viện Đại học Copenhagen, Đan Mạch), một trong những tác giả
nghiên cứu, đă giải thích phân tích của họ gợi ư rằng những bệnh nhân có khoảng
QTc ngắn nhất (một số đo hiện tượng tái phân cực của cơ tim) sẽ được hưởng lợi
nhiều nhất từ điều trị dofetilide. Bà nói: "Nếu có thể khẳng định được những kết
quả đó, điều trị bằng loại thuốc này có thể là một hướng mới trong điều trị nội
khoa đối với suy tim ứ huyết.'
Thuốc chống loạn nhịp nhóm
III kéo dài sự tái phân cực cơ tim nên có thể bảo vệ chống loạn nhịp hoặc tăng
tần suất khoảng QTc liên quan với loạn nhịp. Tuy không xác định được khoảng QTc
ban đầu ảnh hưởng như thế nào đến kết cục, nhưng đối với nhiều loại bệnh tim,
bản thân khoảng QTc dài đă là một dấu hiệu tiên lượng xấu. Tuy nhiên, đối với
bệnh nhân suy tim ứ huyết, người ta chưa biết nhiều về giá trị tiên lượng của
khoảng QTc. Để t́m hiểu rơ hơn, Brendorp và cộng sự đă phân tích một phân nhóm
gồm 703 bệnh nhân trong nghiên cứu DIAMOND-CHF (Danish Investigations of
Arrythmia and Mortality on Dofetilide-Congestive Heart Failure). Bệnh nhân được
đo khoảng QTc ban đầu rồi sau đó được phân ngẫu nhiên để dùng giả dược hoặc
dofetilide. Thời gian theo dơi tối thiểu là 1 năm; kết cục đánh giá chủ yếu là
tử vong do mọi nguyên nhân (Circulation 2001; 103:1422-27).?
Đối với bệnh nhân nhóm
chứng, khoảng QTc ban đầu không có ảnh hưởng ǵ đến tỉ lệ sống sót. Đối với
người được dùng dofetilide, khoảng QTc ngắn kết hợp với giảm nguy cơ tử vong do
mọi nguyên nhân một cách có ư nghĩa. Bệnh nhân có khoảng QTc thuộc tứ phân vị
thấp nhất (<429 ms) có nguy cơ tương đối là 0,4 (KTC 95%: 0,3-0,8) khi so với
bệnh nhân thuộc tứ phân vị thấp nhất ở nhóm dùng giả dược. Ngược lại, bệnh nhân
được điều trị với dofetilide ở tứ phân vị QTc cao nhất giảm nguy cơ tử vong
không có ư nghĩa (RR = 1.3 [0,8-1,9]).
Robert Wilcox (Bệnh viện
Đại học Nottingham, Vương quốc Anh) cho rằng: "Đây là một nhận xét đáng lưu ư,
nhưng chưa thể áp dụng ngay trên lâm sàng. Cần phải thiết kế những thử nghiệm
ngẫu nhiên để giải đáp xem các thuốc chống loạn nhịp nhóm III có làm giảm tử
vong trên bệnh nhân suy tim ứ huyết có khoảng QTc ngắn." Bendorp cũng nhất trí
với ư kiến đó và bà nói thêm rằng nếu kết quả những phân tích thêm từ nghiên cứu
DIAMOND-CHF ủng hộ cho nhân xét của ḿnh th́ bà hy vọng sẽ bắt đầu thực hiện
những thử nghiệm lâm sàng như vậy. (Theo Lancet 17/3/2001)
những tác dụng chính của vinpocetin
Cavinton là thuốc đă được sử dụng trên lâm
sàng hơn hai mươi năm nay nhằm điều trị các rối loạn về mạch máu năo và các
triệu chứng có liên quan. Từ khi ra đời đến nay, hoạt chất của thuốc,
vinpocetin, ngoài việc được sử dụng trong trị liệu c̣n là một hợp chất được dùng
làm chất đối chiếu trong các nghiên cứu dược lư học về các khiếm khuyết nhận
thức do nguyên nhân thiếu oxygen và thiếu máu cục bộ ở năo.
Trong một bài tổng quan gần đây, các nhà
nghiên cứu Hungary đă tập hợp các số liệu thực nghiệm của vinpocetin và nêu lên
những điểm chính trong cơ chế tác động của thuốc. Các thí nghiệm đầu tiên với
vinpocetin cho thấy có năm tác động dược lư và sinh hóa chủ yếu: (1) tăng cường
tuần hoàn năo bộ và sự sử dụng oxygen một cách chọn lọc mà không ảnh hưởng có ư
nghĩa đến các thông số tuần hoàn toàn thân, (2) tăng sức chịu đựng của năo đối
với t́nh trạng thiếu oxygen và thiếu máu cục bộ, (3) có hoạt tính chống co giật,
(4) có tác dụng ức chế enzym phosphodiesterase (PDE) và (5) cải thiện các tính
chất lưu biến học của máu và ức chế sự kết tập tiểu cầu.
Những nghiên cứu sau đó tại nhiều pḥng
thí nghiệm khác nhau đă khẳng định những tác dụng trên và chứng minh rơ ràng
rằng vinpocetin cung cấp một sự bảo vệ thần kinh trực tiếp và có ư nghĩa trong
điều kiện in vitro cũng như in vivo. Các bằng chứng thu thập được
về tác dụng bảo vệ thần kinh của vinpocetin đều liên quan với sự ức chế hoạt
động của các kênh Na+ lệ thuộc điện thế ở nơ-ron thần kinh, ức chế
gián tiếp một số phản ứng phân tử kiểu dây chuyền được khởi phát do tăng nồng độ
Ca++
nội bào, và trong một mức độ thấp hơn là ức chế sự tái thu giữ adenosin.
Vinpocetin được chứng minh là chất ức chế
chọn lọc đối với PDE-cGMP lệ thuộc Ca++-calmodulin. Sự ức chế này
được cho là sẽ làm tăng nồng độ GMP nội bào trong cơ trơn mạch máu, dẫn đến giảm
kháng lực của mạch máu năo và tăng lưu lượng máu qua năo. Tác động này có thể
c̣n góp phần hữu ích vào tác dụng bảo vệ thần kinh.
Theo Kiss B, Karpati E. Acta Pharm Hung. 1999.
NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ NHIỄM HIV
Hướng dẫn sử dụng thuốc
kháng-retrovirus trên người nhiễm HIV được cậ? nhật định kỳ phản ánh những dữ
liệu mới về sự nhận thức tiềm năng độc tính khi dùng lâu dài những thuốc chống
HIV hiện có. Cách đây 5 năm, với sự ra đời của liệu pháp kháng-retrovirus tác
dụng cao (HAART), nhiều chuyên gia về AIDS đă ôm ấp ư tưởng rằng điều trị bệnh
nhân bằng HAART càng sớm càng tốt là chiến thuật tốt nhất để kiểm soát được HIV
- và có lẽ thanh toán được chúng - Tuy vậy, hiện nay họ nhận ra rằng những thuốc
hiện có không chế ngự ngay được HIV nên cần phải điều trị dài hạn. Đồng thời,
những tác dụng độc nghiêm trọng đi kèm với việc sử dụng thuốc dài ngày, bao gồm
cả rối loạn chuyển hóa lipid, gây tăng nồng độ cholesterol và triglycerid đến
mức báo động. Dùng thuốc lâu ngày cũng làm tăng nguy cơ chủng siêu vi của bệnh
nhân sẽ kháng thuốc, khiến bệnh nhân c̣n ít hoặc không c̣n khả năng dùng thuốc
khác.
V́ vậy, hướng dẫn mới này
(tháng 2/2001) khuyến nghị nên khởi trị bằng phác đồ kháng-retrovirus khi số
lượng tế bào CD4+ của bệnh nhân giảm dưới 350 tế bào/mm3
trên người không có triệu chứng. Khuyến nghị trước đây đề nghị điều trị khi số
lượng CD4+
<500/mm3. khuyến nghị mới c̣n nêu vấn đề khởi trị cho người không có
triệu chứng dựa vào tải siêu vi của họ (RNA HIV trong huyết tương) lớn hơn
30.000 bản sao siêu vi/mL khi xét nghiệm bằng test DNA phân nhánh hoặc trên
55.000 bản sao/mL khi dùng test phản ứng khuếch đại chuỗi gen reverse
transcriptase (RT-PCR). Điểm này khác so với khuyến nghị cũ là khởi trị dựa vào
mức tải siêu vi >10.000 bản sao /mL hoặc >20.000 bản sao/mL, lần lượt đối với
hai test trên. Đối với bệnh nhân AIDS, vẫn tiếp tục dùng phác đồ HAART.
Tuy vậy, theo BS Bartlett,
trưởng Bộ môn Nhiễm Trung tâm Y khoa Đại học Hopkins và là đồng chủ tịch ban
soạn thảo khuyến nghị, cần nhấn mạnh rằng c̣n phải t́m hiểu nhiều điều trước khi
có thể đưa ra khuyến nghị chung cuộc về thời điểm tối ưu để khởi trị. Khuyến
nghị mới cũng lưu ư đến những nguy cơ có thể có khi điều trị chậm trễ, bao gồm
"khả năng một số suy giảm miễn dịch không thể đảo ngược được nữa khi mà điều trị
sớm c̣n có thể cứu văn; khả năng ức chế sự nhân đôi siêu vi sẽ khó hơn khi bệnh
tiến triển; và tăng nguy cơ lây nhiễm HIV cho người khác trong giai đoạn chưa
điều trị".
Các điểm mới khác trong
khuyến nghị bao gồm những thông tin được cập nhật về độc tính của thuốc
kháng-retrovirus; hai phác đồ điều trị nhiễm HIV được khuyến nghị mạnh mẽ là
ritonavir phối hợp với lopinavir hoặc indinavir; và nhấn mạnh tầm quan trọng của
việc tuân thủ chế độ điều trị. Ngoài ra, c̣n khuyến nghị điều trị cho những
người được chẩn đoán mới nhiễm HIV trong ṿng 6 tháng. Số liệu bước đầu gợi ư
rằng điều trị thật sớm khi mới nhiễm có thể giúp bảo toàn chức năng miễn dịch và
có thể kiểm soát được HIV trên một số bệnh nhân.? (Theo JAMA 14/3/200).
Tác dụng CỦA NUÔI DƯỠNG BẰNG ĐƯỜNG TĨNH MẠCH NGẮN HẠN
TRÊN CHUYỂN HÓA PROTEIN VÀ acid amin Ở GAN TRONG PHẪU THUẬT Ổ BỤNG
Nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch là biện
pháp cung cấp các chất dinh dưỡng và năng lượng cầ? thiết cho cơ thể thường được
áp dụng trong thực tiễn điều trị tại bệnh viện. Đặc biệt những bệnh nhân phẫu
thuật ổ bụng hầu như luôn luôn phải được nuôi dưỡng ngắn hạn bằng đường tĩnh
mạch trong thời gian hậu phẫu. Trong t́nh trạng liệt giường hoặc sau stress phẫu
thuật, không rơ việc cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng bằng cách này có tác
động ǵ đến sự tổng hợp protein và chuyển hóa acid amin trong cơ thể. Để t́m
hiểu vấn đề này, Barle H và cộng sự (Khoa Gây mê Hồi sức, Bệnh viện Đại học
Huddinge, Stockholm, Thụy Điển) đă thực hiện một nghiên cứu với ư định làm sáng
tỏ những tác dụng đặc hiệu của việc nuôi dưỡng nhân tạo ngắn hạn trên chuyển hóa
protein ở gan.
Đây là một nghiên cứu có thiết kế tiền cứu
gồm 30 bệnh nhân được mổ phiên để cắt bỏ túi mật qua đường mở ổ bụng, trong đó
nhóm chứng gồm 16 người và nhóm điều trị 14 người được nuôi dưỡng hoàn toàn bằng
đường tĩnh mạch. Dịch nuôi dưỡng là một dung dịch truyền tĩnh mạch cân bằng gồm
17,5 kcal phi-protein/kg cân nặng, 50% chất béo, 50% carbohydrate và 0,1 g
nitrogen/kg. Dung dịch được ngưng truyền khi kết thúc thời gian khảo sát, với
tổng thời gian truyền dịch trung b́nh là 8,6
? 1,0 giờ.? Sau khi bắt đầu mổ, lấy một mẫu sinh thiết
gan càng sớm càng tốt để xác định nồng độ acid amin tự do trong gan. Có 16 bệnh
nhân được cho truyền L[2H5]phenylalanine qua đường tĩnh mạch để định lượng tốc
độ tổng hợp từng phần của tổng lượng protein ở gan khi lấy mẫu sinh thiết gan
thứ hai sau đó 30 phút.
Kết quả cho thấy tốc độ tổng hợp
từng phần của tổng protein trong gan là 15,2%
?
4,7%/ngày ở nhóm được nuôi hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch (n=7), không khác biệt
với tốc độ được ghi nhận ở nhóm chứng (17,7%
? 3,8%/ngày; n=9). Tuy
nhiên, nồng độ alanine tự do trong gan (p<0,05) và acid amin thiết yếu gia tăng
(p<0,01) ở nhóm nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch; trong khi đó nồng độ acid amin
tự do ở gan giữa hai nhóm đều tương đương như nhau. Qua những số liệu này, các
tác giả kết luận rằng việc nuôi dưỡng hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch ngắn hạn
gây nên những thay đổi đặc hiệu về nồng độ acid amin tự do trong gan, thuận lợi
cho vi |