Giả thuyết cơ bản về tính an toàn của
thuốc ức chế COX-2 dựa trên tác dụng rất ít trên COX-1 nên có tính an toàn cao
hơn kháng viêm không steroid (KVKS) có tác dụng ức chế trên cả hai dạng COX
(cyclooxygenase). Lợi điểm này càng rơ ở những cơ quan và mô chỉ có COX-1 đóng
vai tṛ chức năng sinh lư cần thiết và quan trọng như dạ dày, tiểu cầu. Những dữ
liệu từ? các thử nghiệm lớn hiện nay cho thấy tính an toàn cao hơn hẳn của thuốc
ức chế COX-2 không những về nội soi dạ dày tá tràng mà cả kết quả lâm sàng. Hơn
nữa, ức chế COX-2 không tác dụng trên tiểu cầu với liều cao hơn liều được sử
dụng trên lâm sàng. Tuy nhiên, ức chế COX-2 vẫn c̣n những phản ứng ngoại ư như
các loại KVKS cổ điển (ức chế cả hai COX) do hiệu ứng trên thận như làm tăng
huyết áp, phù và các bệnh trạng? kèm theo.(1)
Hiện có nhiều ức chế COX-2 mới như
rofecoxib, celecoxib được tung ra thị trường và đă có nhiều báo cáo về phản ứng
ngoại ư. Rofecoxib được bán tại Anh Quốc từ tháng 6/1999 để điều trị triệu chứng
trong bệnh viêm xương khớp? với liều 12,5 - 25 mg/ngày. Đến tháng 7/2000, cơ
quan Kiểm soát Dược phẩm/Ủ? ban An toàn về Dược phẩm Anh Quốc đă nhận được 1120
báo cáo phản ứng ngoại ư có liên quan đến sử dụng thuốc này.(2) Ước
lượng đến tháng 5/2000 có khoảng 557.100 toa thuốc có ghi rofecoxib tại Anh
Quốc.
Phản ứng trên dạ dày-ruột chiếm gần
phân nửa báo cáo trên (554), trong đó đa số là nôn mửa, khó tiêu, tiêu chảy và
đau bụng. Tuy nhiên có 68 báo cáo về thủng, loét và xuất huyết đường tiêu hóa
trên. 44 bệnh nhân (BN) được điều trị phục hồi, nhưng 5 trường hợp tử vong. Có
69% BN trên 65 tuổi. 6 BN nghi ngờ có dùng aspirin và các thuốc kháng viêm không
steroid khác. 10 BN có đồng thời với aspirin. Cơ quan Kiểm soát Dược phẩm khuyến
cáo là rofecoxib chống chỉ định dùng trên BN có loét dạ dày và xuất huyết dạ
dày-ruột.
Phản ứng trên tim mạch: Cơ quan
Kiểm soát Dược phẩm đă nhận được 177 báo cáo về phản ứng ngoại ư trên tim mạch.
Đa số là phù (101 báo cáo), tăng huyết áp (31) và hồi hộp (19). Có 15 báo cáo
suy tim hoặc suy tim trở nặng, 3 trong số đó tử vong. Có 9 trường hợp nhồi máu
cơ tim và 3 tử vong. Trong đa số các trường hợp này, BN có yếu tố nguy cơ? bệnh
tim mạch. Cơ quan Kiểm soát Dược phẩm khuyến cáo rằng rofecoxib chống chỉ định
dùng trên BN suy tim nặng và cẩn trọng sử dụng trên BN có bệnh sử suy tim, rối
loạn chức năng thất trái hoặc cao huyết áp và ở BN có sẵn phù do bất kỳ nguyên
nhân? nào.
Phản ứng trên tâm thần: Trầm cảm
(28 trường hợp), lú lẫn (14),và ảo giác (11). Đa số BN hồi phục sau khi ngưng
dùng rofecoxib.
Các phản ứng khác: Phù mạch (35
báo cáo), co thắt phế quản hoặc bệnh suyễn trở nặng (25 báo cáo), suy thận (16
báo cáo) và bất thường chức năng gan (12 báo cáo) và nổi mẫn, bao gồm 1 trường
hợp bị hội chứng Stevens Johnson và 2 trường hợp hồng ban đa dạng.
?Gần đây, trên tạp chí J Clin Hypertens(3)
báo cáo 3 trường hợp tăng huyết áp (HA) cấp do sử dụng thuốc celecoxib (2 trường
hợp) và rofecoxib (1 trường hợp) ở BN cao HA đă điều trị ổn định. Các thuốc
kháng viêm không steroid có thể tác động trên HA ở những BN cao HA. Sự tương tác
này rất quan trọng v́ một số lớn BN cao HA thường bị viêm xương khớp và họ được
điều trị bằng KVKS, tuy nhiên hiện có ít dữ liệu về tác động của ức chế COX-2
trên HA ở BN cao HA. Những trường hợp này cho thấy có khả năng các ức chế COX-2
mới làm tăng HA ở BN cao HA được điều trị ổn định. Trung b́nh HA tâm thu tăng 36
mmHg và HA tâm trương tăng 14 mmHg. Sau khi ngưng thuốc, HA trở lại b́nh thường.
Khả năng làm tăng HA của KVKS là do tác động trên hệ thống renin-angiotensin và
protaglandin ở thận, gây giảm thải muối thận (Pudey IB, 1985). Tác động của KVKS
c̣n tùy thuộc vào thuốc hạ áp. Houston J (1995) cho rằng nếu sử dụng verapamil
để hạ áp th́ không bị ảnh hưởng bởi KVKS. Ngoài ra, KVKS có thể gây hiệu ứng
ngoại ư như tăng kali máu và suy thận cấp (dù hiếm gặp) nhất trên BN cao HA v́
họ có nguy cơ rất cao bị tăng kali máu do tuổi tác và do sử dụng đồng thời thuốc
hạ áp như thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali, chẹn
b, thuốc ức chế men chuyển.
Trong nghiên cứu được báo cáo mới đây tại
hội nghị hàng năm của ACC (American College of Cardiology), cho thấy người lớn
tuổi cao HA bị viêm xương khớp dùng Vioxx (rofecoxib) có tăng HA trung b́nh lên
3 mmHg so với người dùng Celebrex (celecoxib). Có 17% BN dùng Vioxx và 11% ở BN
dùng Celebrex không kiểm soát được HA. Những dữ liệu này chứng tỏ có sự khác
biệt giữa hai thuốc và có thể có ảnh hưởng khác nhau đến người lớn tuổi cao HA,
và gợi ư rằng không phải tất cả thuốc ức chế chọn lọc trên COX-2 đều giống nhau.
Thuốc ức chế COX-2 không có tác dụng kháng tiểu cầu:(4)
Rofecoxib và celecoxib do tác dụng chọn
lọc trên COX-2, nên không có hoạt tính kháng tiểu cầu như những thuốc KVKS khác.
Do vậy, khi sử dụng trên người lớn tuổi, những người có nguy cơ cao bị đột quỵ
thiếu máu (như BN nhồi máu cơ tim), cần ghi nhớ vấn đề này. Theo báo cáo của Ủ?
ban An toàn về Dược phẩm Anh Quốc th́ kết quả của thử nghiệm VIGOR cho thấy BN
sử dụng rofecoxib có nguy cơ bị 1,67 biến cố đột quỵ /100 BN-năm so với 0,70
biến cố/100BN-năm ở BN dùng naproxen. ?Ngoài ra, rofecoxib c̣n nằm trong danh
sách "Những thuốc mới cần giám sát chặt chẽ" của Ủy ban An toàn về Dược phẩm Anh
Quốc.(5)
Tài liệu tham khảo:
1) Schnitzer TJ Am J Med 2001 Jan 8;110(1 Suppl 1):S46-S49
Cyclooxygenase-2-specific inhibitors: are they safe?
2) Current problem in pharmacovigilance, V 26, Sept /2000
3) Graves JW, Hunder IA. Worsening of hypertension by
cyclo-oxygenase-2 Inhibitors. J Clini Hypertens 2000;2(6): 396-8.
4) Current problem in pharmacovigilance, V 27, Feb/2001
5) Medicines Control Agency/ Mar 2001
Một số nghiên cứu dịch tễ học đă
gợi ư rằng việc dùng nhiều cà-phê sẽ làm tăng nguy cơ sẩy thai, nhưng kết quả
của các nghiên cứu không hoàn toàn thống nhất với nhau. V́ thế, một nhóm nghiên
cứu ở Thụy Điển đă thực hiện một nghiên cứu bệnh-chứng dựa vào cộng đồng để t́m
hiểu vấn đề này.
Nghiên cứu bệnh-chứng này được thực hiện
tại Uppsala County, Thụy Điển, trên 552 phụ nữ bị sẩy thai tự nhiên trong thời
gian tuần thứ 6 đến tuần 12 của thai kỳ (trường hợp bệnh) và 953 phụ nữ không bị
sẩy thai (đối chứng) được ghép cặp với các trường hợp bệnh theo tuổi thai. Thông
tin về việc sử dụng cà-phê được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp. Nồng độ
cotinin đo được trong máu được dùng làm dấu hiệu chỉ thị hút thuốc lá. Ngoài ra,
c̣n sử dụng các tiêu bản mô thai để xác định tưp nhân (karyotyp) của thai. Để
đánh giá các nguy cơ tương đối đi kèm việc sử dụng cà-phê, các tác giả đă dùng
phương pháp phân tích đa biến được hiệu chỉnh chỉ số hút thuốc lá vá các triệu
chứng của thai nghén như nôn ói và mệt mỏi.
Kết quả cho thấy, trong số phụ nữ không
hút thuốc lá th́ những người dùng trên 100 mg caffein/ngày bị sẩy thai nhiều hơn
so với những người dùng dưới 100 mg/ngày, và nguy cơ tăng tỉ lệ với lượng
caffein được dùng (dùng 100-299 mg/ngày: tỉ suất nguy cơ OR = 1,3; khoảng tin
cậy [KTC] 95%: 0,9-1,8; dùng 300-499 mg/ngày; OR = 1,4; KTC 95%: 0,9-2,0; dùng
?500 mg/ngày: OR = 2,2; KTC 95%: 1,3-3,8).
Trong số những phụ nữ có hút thuốc lá,
việc sử dụng cà-phê không làm tăng thêm nguy cơ sẩy thai tự nhiên. Khi phân tích
theo kết quả tưp nhân được phân tầng, thấy rằng việc sử dụng caffein ở mức trung
b́nh hoặc mức cao đi kèm với sự tăng thêm sẩy thai tự nhiên đối với những trường
hợp mà thai có tưp nhân b́nh thường, nhưng lại không xảy ra đối với thai nhi có
tưp nhân bất thường.
Các tác giả kết luận rằng việc sử dụng
cà-phê có thể gia tăng nguy cơ sẩy thai sớm trên phụ nữ không hút thuốc lá khi
thai nhi có tưp nhân b́nh thường.
Theo Sven Cnattingius và cs.
Caffeine intake and the risk of first-trimester spontaneous abortion.
N
Engl J. Med. 2001; 343:1839-45.(NT)
Béo ph́ ở trẻ em hiện nay là một vấn đề
thời sự. Có rất nguyên nhân kinh tế-xă hội, di truyền và dinh dưỡng dẫn đến t́nh
trạng này. Một số nghiên cứu dịch tễ học gợi ư có sự liên kết giữa thói quen
uống nước ngọt và béo ph́ trẻ em. David S. Ludwid và cộng sự ở Bệnh viện Nhi
đồng Boston (MA, Hoa Kỳ) đă thực hiện một nghiên cứu quan sát tiền cứu về đề tài
này và mới đây đă công bố kết quả trên tạp chí Lancet (17/2/2001).
Các tác giả đă nhận vào nghiên cứu 548 học
sinh (tuổi trung b́nh 11,7 (0,8) tại các trường công lập ở 4 cộng đồng thuộc
bang Massachusetts, gồm nhiều chủng tộc khác nhau, và khảo sát tiền cứu trong 19
tháng. Mục đích quan sát là t́m sự kết hợp thông qua những thay trước và sau
thời gian nghiên cứu về mức tiêu thụ nước ngọt (biến độc lập) và các số đo khác
nhau của t́nh trạng béo ph́. Phương pháp thống kê được sử dụng trong nghiên cứu
là phân tích hồi qui tuyến tính và hồi qui logistic có hiệu chỉnh các biến có
tiền năng gây nhiễu và kết quả được phân cụm theo trường đang học.
Kết quả nhận thấy học sinh được phục vụ
thêm một cữ uống nước ngọt trong ngày th́ cả chỉ số thân khối (BMI) (trung b́nh
0,24 kg/m2; KTC 95%: 0,10-0,39; p=0,03) và tần suất béo ph́ (tỉ suất chếnh 1,60;
KTC 95%: 1,14-2,24; p=0,02) đều tăng sau khi đă hiệu chỉnh với các biến số nhân
trắc học, dân số học, dinh dưỡng, và lối sống. Mức tiêu thụ nước ngọt ban đầu
cũng kết hợp một cách độc lập với sự thay đổi BMI (trung b́nh 0,18 kg/m2 đối với
mỗi cữ phục vụ nước ngọt được tăng thêm trong ngày, KTC 95%: 0,09-0,27; p=0,2).
Các tác giả kết luận rằng mức tiêu thụ nước ngọt kết hợp với t́nh trạng béo ph́
ở trẻ em.
Theo Lancet 2001;357:505-08.(NT)