|
HỘI THẢO CHUYÊN ĐỀ VỀ XU HƯỚNG MỚI TRONG ĐIỀU TRỊ CẮT CƠN
SUYỄN Ở TRẺ EM
Ngày 20/2/2001, hội thảo chuyên đề "Xu
hướng mới trong đ́ều trị cắt cơn suyễn ở trẻ em" đă được tổ chức tại bệnh viện
Nhi Đồng 2 (TP. HCM) với sự tài trợ của công ty dược phẩm Boehringer-Ingelheim.
Tham gia hội thảo là các bác sĩ nhi khoa và chuyên khoa bệnh phổi tại các các cơ
sở điều trị trên địa bàn thành phố.
Trong hội thảo này, ngoài hai đề
tài về dịch tễ học và quản lư bệnh nhi suyễn ("Tần suất suyễn trẻ em tại quận
10, TP. Hồ Chí Minh" - BCV BS. Bạch Văn Cam và "Chương tŕnh quản lư suyễn trẻ
em tại bệnh viện Nhi Đồng 2" - BCV BS. Trần Thị Thu Vân), nội dung chính liên
quan đến chủ để hội thảo đă được BS. Gerard J. Canny (Đại học Toronto Canada)
tŕnh bày, với đề tài "Xử trí cơn suyễn nặng ở trẻ em".
BS Canny G. J. đă giới thiệu sơ lược cách
tiếp cận đánh giá lâm sàng cơn suyễn nặng dựa vào các yếu tố nguy cơ, các triệu
chứng và dấ? hiệu lâm sàng, các số đo t́nh trạng thông khí và khí máu động mạch.
Từ những thông tin thu thập được qua đánh giá, bệnh nhi có cơn suyễn nặng sẽ
được phân độ nặng nhẹ và xử trí cụ thể.
Xử trí cơn suyễn cấp, ngoài việc cung cấp
oxygen cho trẻ có cơn suyễn nặng và rất nặng để bảo đảm độ băo hoà oxygen trong
máu động mạch
?92%, xu hướng hiện
nay là dùng các thuốc giăn phế quản dưới dạng hít hoặc khí dung (chủ vận
b2 tác dụng ngắn đơn thuần hoặc phối hợp
với thuốc kháng-cholinergic ipratropium bromide). Corticosteroid dùng đường tĩnh
mạch làm tăng tốc độ cải thiện triệu chứng cơn suyễn nặng, dùng dạng uống có thể
ngăn ngừa cơn kịch phát nên sẽ giảm tần suất và độ nặng nhập viện cấp cứu.
Theophylline hiện nay không c̣n được xem là thuốc điều trị đầu tay trong cơn
suyễn cấp v́ có tác dụng phụ nguy hiểm, chỉ sử dụng trong những trường hợp trẻ
không đáp ứng với điều trị ban đầu gồm oxygen, thuốc giăn phế quản, và corticoid
dùng đường toàn thân.
Trong thực hành, BS Canny đưa ra một số
khuyến nghị sau:
- cơn suyễn cần được đánh giá kỹ ban đầu và đánh giá thường
xuyên trong quá tŕnh điều trị,
- biện pháp điều trị đầu tiên đối với trẻ giảm ôxy-máu là
cung cấp oxygen,
- thuốc chủ vận b2
tác dụng ngắn dạng khí dung là thuốc giăn phế quản được chọn hàng đầu, chỉ sử
dụng dạng tiêm tĩnh mạch trong cơn nguy kịch đe dọa sinh mạng,
- có thể dùng thêm ipratropium dạng hít để duy tŕ tác dụng
giăn phế quản của chủ vận b2,
- nhất thiết nên dùng sớm corticosteroid, trừ những cơn kịch
phát nhẹ,
- hiếm khi cần dùng theophylline, có thể tăng tác dụng bất
lợi,
- trẻ có biểu hiện kiệt sức cần cho thở máy,
- ngăn ngừa những cơn suyễn nặng bằng các biệ? pháp theo dơi,
giáo dục sức khỏe, và điều trị dự pḥng (đặc biệt là chống viêm).
BS Nguyễn Triển
Hội nghị Tồng kết hoạt động nổi bật trong năm 2000 của BV
Nhi đồng 1?
Ngày 20/2/2001, tại BV Nhi đồng 1 đă tổ
chức hội nghị
Tổng kết hoạt động nổi bật trong năm 2000, và đưa ra phương hường hoạt động
2001. BS Trần Tấn Trâm, Giám đốc BV đă tổng kết những thành quả của BV Nhi
đồng 1 - BV được nhà nước phong tặng đơn vị Anh hùng Lao động - về quản lư như:
(1) sự gia tăng đáng kể tại pḥng khám - tác động tích cực của BV trong ngày;
(2) Triển khai rất thuận lợi Y học chứng cớ với kết quả khích lệ; (3) Thực hiện
chương tŕnh quản lư chất lượng đồng bộ theo hướng ISO 9000, đă được nghiệm thu
tại Sở Công nghệ và Môi trường tháng 12/2000. Về chuyên môn kỹ thuật đă giải
quyết tốt bệnh viêm màng năo vô trùng, ngộ độc cyanid tại Long Khánh, giảm tử
suất tại khoa phỏng một cách ngoạn mục, ứng dụng nội soi và sử dụng tia Laser
trong Tai Mũi Họng. Năm mục tiêu đă đạt trong nhiều năm qua gồm có: (1) Duy tŕ
cán cân thu chi; (2) Phát triển bệnh viện; (3) Cải thiện các chỉ số chất lượng
săn sóc; (4) Nhân viên hài ḷng và (5) Công b́nh y tế.
Phương hướng hoạt động năm 2001 là:
(1) Tiếp tục thực hiện y học chứng cớ; (2) Tiếp tục chương tŕnh quản lư chất
lượng đồng bộ theo hướng ISO 9000; (3) Nhân rộng hợp tác trong và ngoài nước và
(4) Phát huy nội lực trong phát triển bệnh viện.
Về hiệu quả hoạt động bệnh viện
trong ngày 1999-2000, BS Nguyễn Hữu Hưng, Phó giám đốc cho biết bệnh viện
trong ngày đă góp phần chấm dứt t́nh trạng quá tải bệnh nhân nội trú, đem lại
nhiều lợi ích về kinh tế, thời gian cho gia đ́nh bệnh nhi. Tuy nhiên c̣n nhiều
vấn đề cần hoàn thiện trong mô h́nh bệnh viện trong ngày như biên chế và chế độ
nhân sự của khoa nội trú gắn với bệnh viện trong ngày, điều phối và quản lư,
kinh phí giường bệnh hay kinh phí ca khám bệnh.
?Về ứng dụng y học chứng cứ,
BS Tăng Chí Thượng, Phó giám đốc, cho biết sau hơn một năm t́m ṭi và đầu tư
thành lập thư viện điện tử, BV đă có thể truy cập được lượng thông tin y học
chứng cớ từ nguồn gốc (original research) và nguồn đă được đánh giá. BV đă triển
khai và ứng dụng những chứng cớ vào công tác huấn luyện, hoạt động chuyên môn
như: kháng sinh dự pḥng trong phẫu thuật, test đông máu trước phẫu thuật, sử
dụng caffein trong cơn ngưng thở ở trẻ sơ sinh non tháng, chỉ định phototherapy
trong vàng da sơ sinh, dung dịch rửa tay trong chống nhiễm khuẩn bệnh viện,
thuốc điều trị trào ngược dạ dày-thực quản. Chương tŕnh này đă góp phần nâng
cao chất lượng điều trị và giảm chi phí chăm sóc bệnh nhân.
Về những tiến bộ trong thực
hiện chỉ thị 04/BYT/CT về "Tăng cường sử dụng thuốc hợp lư, an toàn, tiết
kiệm tại các cơ sở khám chữa bệnh", BS Hà Mạnh Tuấn, Trưởng pḥng kế hoạch tổng
hợp, tŕnh bày mô h́nh quản lư dược ở BV Nhi đồng 1, trong đó vai tṛ chỉ đạo và
triển khai các biện pháp của Hội đồng thuốc và điều trị rất quan trọng. Giám sát
chặt chẽ sử dụng thuốc trong bệnh viện.
Về bệnh viêm màng năo, BS
Trương Hữu Khanh, Trưởng khoa Nhiễm, báo cáo t́nh h́nh tăng đột biến viêm màng
năo vô trùng vào 3 tháng cuối năm 2000 có 188 trường hợp / 343 trường hợp của cả
năm 2000, đa số là do siêu vi. 80% các trường hợp là ở trẻ trên 3 tuổi. Không có
trường hợp nào tử vong, thời gian điều trị và theo dơi trung b́nh là 3-5 ngày.
Trong số 28 mẫu gởi Viện Pasteur Paris xét nghiệm bằng kỹ thuật PCR có 9 mẫu xác
định do virus Echo 9. ?
Năm 2000, bước ngoặt của khoa
phỏng, BS Nguyễn Bảo Tường, Trưởng khoa Phỏng và Tạo h́nh báo cáo những thay
đổi về mặt điều trị và chăm sóc của khoa Phỏng bằng cách triển khai hàng loạt
các chương tŕnh: Chuẩn hóa tiếp nhận BN nhập khoa - pḥng ngừa và điều trị hiệu
quả sốc phỏng; Giảm đau trong điều trị phỏng; Kiểm soát nhiễm trùng - nhiễm
trùng bệnh viện; Giảm thiểu di chứng phỏng; Dinh dưỡng lâm sàng. Qua đó, kết quả
bước đầu cho thấy không có tử vong do sốc phỏng, giảm đáng kể tỷ lệ tử vong từ
7,9% của năm 1999 xuống c̣n 1,1% năm 2000. Giảm đau hiệu quả trong điều trị
phỏng. Giảm tỷ lệ xuất huyết tiêu hóa. Giảm tỷ lệ nhiễm trùng, giảm việc sử dụng
kháng sinh, tuy nhiên tỷ lệ di chứng c̣n cao mặc dù vật lư trị liệu có nhiều cố
gắng.
Về sử dụng Laser trong Tai Mũi
Họng, BS Đặng Hoàng Sơn, Trưởng khoa Tai Mũi Họng báo cáo đề tài So sánh kết
quả điều trị u nhú thanh quản bằng Laser với phương pháp cắt bằng vi phẫu.
Kết quả cho thấy Laser là kỹ thuật cao trong điều trị có những ưu điểm như ít
chảy máu, bảo tồn cấu trúc giải phẫu học nên bảo tồn chức năng sinh lư, thời
gian phẫu thuật ngắn và thời gian hồi phục sau mổ nhanh hơn phương pháp vi phẫu.
Tuy nhiên có hai mối nguy hiểm cần quan tâm khi áp dụng kỹ thuật này là dễ cháy
nổ và tổn thương mắt nếu không có biện pháp bảo vệ kỹ lưỡng.
BS Lê Anh Bá
Sinh hoạt khoa học thường kỳ quư 1 năm 2001 của hội gan
mật TP.HCM
Ngày 14/ 3/ 2001, Hội Gan Mật TP.Hồ Chí
Minh tổ chức sinh hoạt khoa học thường kỳ quư 1, 2001 tại hội trường BV Trường
Đại Học Y Dược TP.Hồ Chí Minh. Hai đề tài nghiên cứu được báo cáo:
-
Thử nghiệm lâm sàng thuốc Vitex ở BN nhiễm siêu vi
viêm gan B & C mạn tính có men ALT tăng do Thạc sĩ Nguyễn Thị Hương tŕnh
bày.
-
Khảo sát tự kháng thể chống tổ chức trong huyết
thanh bệnh nhân viêm gan mạn bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp
do Thạc sĩ Lê Thị Hồng Tuyết tŕnh bày.
- Thuật ngữ: nhiễm siêu vi viêm gan
B, viêm gan siêu vi B mạn (chronic hepatitis B) nhiễm siêu vi viêm gan B mạn
(chronic HBV)..
- Chủng ngừa siêu vi viêm gan B:
xét nghiệm trước khi chủng ngừa, xét nghiệm dấu ấn siêu vi nào sao có lợi cho
chẩn đoán và tiết kiệm.
- Điều trị hỗ trợ: Trong điều kiện
bệnh nhân không có khả năng kinh tế để điều trị bằng interferon /lamivudin có
thể thử điều trị không đặc hiệu bằng các dược thảo hỗ trợ gan như Silymarin,
Phyllanthus amarus, Biphenyl Dimethyl Dicarboxylate, flavonoid (đậu xanh).
- Nghiên cứu: Cần đánh giá t́nh
h́nh sử dụng và hiệu quả điều trị với lamivudin và interfron tại Việt Nam để có
kinh nghiệm thực tế.
Tuy c̣n nhiều ư kiến khác nhau, nhưng nói
chung buổi sinh hoạt kỳ này các hội viên cũng đă thống nhất được phần cơ bản của
dự thảo. Ban thư kư sẽ tổng kết các ư kiến thảo luận và báo cáo chính thức trong
kỳ sinh hoạt tới.
BS Lê Anh Bá ?
|