DÂN SỐ THẾ GIỚI SẼ TĂNG ĐẾN 9 TỈ NGƯỜI VÀO NĂM 2050
Dân số thế giới hiện là
6,1 tỉ người, trong ṿng 50 năm tới sẽ lên đến 9 tỉ người, tăng nhanh nhất là ở
châu Phi và châu Á mặc dù số người chết v́ nhiễm HIV/AIDS ở hai châu lục này khá
cao. Đó là báo cáo của Tổ chức Dân số Liên Hiệp Quốc (UNDP) được công bố vào
ngày 27/2/2001. Theo Paul Hewitt (Washington DC, Hoa Kỳ) đây sẽ là cuộc khủng
hoảng lớn nhất trong 50 năm tới.
Đến năm 2050, 48 nước
nghèo nhất (đa số ở Châu Phi hạ Sahara) sẽ tăng dân số gấp ba lần, từ 168 triệu
lên 1,8 tỉ người. Báo cáo cho rằng trong 5 năm sắp tới, HIV/AIDS sẽ làm chết
15,5 triệu người ở 45 nươc có t́nh h́nh HIV/AIDS nặng nhất, một con số cao hơn
dự kiến trước đây. Nếu không có đại dịch AIDS, tổng dân số c̣n cao thêm 300
triệu người nữa. Cũng theo báo cáo này, vào giữa thế kỷ 21 dân số ở 39 nước,
trong đó có Nhật, Đức, Ư, Hungary và Nga sẽ thấp hơn nếu t́nh h́nh di cư hiện
nay không thay đổi. Dân số châu Âu sẽ bắt đầu giảm từ năm 2003. Ấn Độ, Trung
Quốc, Pakistan, Nigeria, Bangladesh? và Indonesia sẽ chiếm một nửa mức tăng
trưởng dân số? hàng năm là 1,3% hiện nay. Đây là một bức tranh ảm đạm về xu thế
diễn ra tại các nước đang phát triển, bởi v́ 88% mức tăng dân số xảy ra ở các
nước kém phát triển, và sự tăng nhanh dân số sẽ làm cho nền kinh tế các nước đó
không thể đương đầu nổi. Và những thay đổi ấy sẽ có những hệ quả to lớn đối với
sức khỏe cộng đồng.
Có ư kiến cho rằng những
con số dự đoán của UNDP có khả năng không đúng v́ đă thổi phồng vấn đề, v́ số
con trung b́nh của phụ nữ trên toàn thế giới đang giảm nhanh và phù hợp hơn so
với những nghiên cứu của UNDP đă gợi ư. Tuy vậy, giám đốc UNDP, ông Joseph Samie
không đồng t́nh với sự hoài nghi về chất lượng số liệu của UNDP, và nói rằng
"những số liệu đó là 'chiếc la bàn dân số học' cho chúng ta biết những ǵ có khả
năng phải đương đầu."
Theo Lancet 17/3/2001
SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG VÀ NGUY CƠ U NĂO
Từ vài năm nay, đă có nhiều nỗi lo về nguy
cơ u năo khi sử dụng điện thoại cầm tay. Nếu quả thật có nguy cơ đó th́ đây thật
sự là một vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm v́ số người sử dụng điện thoại
di động (ĐTDĐ) trên thế giới ngày càng tăng. Để phần nào làm sáng tỏ vấn đề này,
một nhóm tác giả đă tiến hành một nghiên cứu bệnh-chứng tại Boston (Hoa Kỳ) từ
năm 1994 đến 1998.
Trong nghiên cứu bệnh-chứng này, các tác
giả đă khảo sát việc sử dụng ĐTDĐ ở 782 BN có chẩn đoán khối u trong sọ, trong
đó 489 trường hợp là u tế bào thần kinh đệm, 197 trường hợp là khối u màng năo,
và 96 trường hợp u dây thần kinh số VIII. Nhóm chứng là 799 BN mắc những bệnh
lành tính khác nhau, ở cùng bệnh viện với BN u năo.
Kết quả cho thấy, so với những người chưa
bao giờ hoặc rất hiếm khi sử dụng ĐTDĐ, nguy cơ tương đối của việc sử dụng ĐTDĐ
cộng dồn >100 giờ là 0,9 đối với u thần kinh đệm (KTC 95%; 0,3-1,6), là 0,7 đối
với u màng năo (KTC 95%: 0,3-1,7), là 1,4 đối với u dây thần kinh số VIII (KTC
95%: 0,6-3,5), và là 1 đối với mọi loại khối u gộp chung (KTC 95%: 0,6-1,5).
Không có bằng chứng nào cho thấy nguy cơ cao hơn ở những người dùng ĐTDĐ
?60 phút/ngày
hoặc sử dụng đều đặn trong thời gian >5 năm. Cũng không thấy khối u trong sọ
hiện diện nhiều hơn thiên về phía tai hay dùng nghe điện thoại.
Dữ liệu trên không ủng hộ giả thiết cho
rằng việc sử dụng điện thoại cầm tay gây u năo do bức xạ không ion-hóa của máy
phát ra. Tuy vậy, theo các tác giả, số liệu vẫn chưa đủ để đánh giá nguy cơ trên
những đối tượng sử dụng ĐTDĐ quá nhiều và lâu dài.??
Theo N Engl J Med 2001; 344:79-86) (NT).
TRÀ XANH VÀ UNG THƯ DẠ DÀY?
Tại nhiều nước, ung thư dạ
dày là một trong mười nguyên nhân tử vong hàng đầu trong những bệnh liên quan
đến ung thư. Từ sau năm 1930, tại các nước phương Tây xuất độ ung thư dạ dày đă
giảm dần. Tuy lư do thật sự của hiện tượng này chưa được rơ, nhưng các yếu tố
góp phần được nhận định là do giảm tiêu thụ thực phẩm được bảo quản bằng muối và
tăng tiêu thụ rau quả tươi nhờ phương tiện bảo quản bằng tủ lạnh trở nên phổ
biến. Tại Nhật, xuất độ ung thư dạ dày giảm chậm hơn, và đây vẫn là bệnh ung thư
thường gặp nhất ở cả nam lẫn nữ. Việc tầm soát ung thư dạ dày hàng năm trở thành
thường quy đối với người trên 40 tuổi. Kỹ thuật thông dụng để tầm soát là chụp
X-quang tương phản kép với baryt; ngoài ra các pḥng khám tiêu hóa thường được
trang bị phương tiện nội soi để tầm soát và chẩn đoán nhanh các triệu chứng ở
đường tiêu hóa trên.
Nhờ vậy, khối u dạ dày
được phát hiện sớm hơn, tuy chỉ có một nửa số trường ung thư dạ dày có triệu
chứng ở giai đoạn đầu. Hệ?quả là số tử vong do ung thư dạ dày ở Nhật năm 1997 đă
giảm xấp xỉ một nửa so với con số ước tính từ năm 1994 (49.739 so với 97.991 tử
vong dự kiến).
Có một số điểm khác biệt
về ung thư dạ dày ở các nước phương Tây so với Nhật. Khác biệt rơ nhất là vị trí
khối u ở phần đầu dạ dày (tâm vị) hay gặp ở phương Tây hơn, trong khi ở Nhật
thường thấy khối u ở phần cuối dạ dày (hang vị). Các yếu tố nguy cơ của ung thư
dạ dày thể kinh điển -khối u ở hang vị- như t́nh trạng kinh tế-xă hội thấp, ăn
mặn, nhiễm Helicobacter pylori, viêm dạ dày thể teo mạn tính xem ra không
liên quan với khối u tâm vị. Ngoài ra, ung thư biểu mô tuyến ở tâm vị khác với
khối u ở hang vị về mặt di truyền, và đối với ung thư tâm vị, các yếu tố nguy cơ
được đề xuất là béo ph́ và viêm thực quản do trào ngược. Tuy những nghiên cứu di
truyền học không phát hiện được những khác biệt giữa các trường hợp ung thư dạ
dày ở Nhật và ở phương Tây, nhưng một nghiên cứu gần đây tại Hoa Kỳ cho thấy cả
hai loại ung thư dạ dày nói trên có tiên lượng tốt hơn ở những người gốc châu Á,
so với người không phải gốc Á. Điều đó gợi ư có những yếu tố liên quan với kư
chủ đă ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh. Với nếp sống tây phương hóa nhanh tại Nhật
trong 50 năm qua, nhưng ung thư dạ dày tại Nhật chẳng có dấu hiệu ǵ là "tây
phương hóa' cả.
Có nhiều yếu tố ẩm thực
khác nhau được cho là có vai tṛ căn nguyên hoặc bảo vệ chống ung thư dạ dày. Có
bằng chứng rơ ràng là ăn những thực phẩm mặn như dưa muối, cá muối sẽ làm tăng
nguy cơ ung thư dạ dày, trong khi dùng rau quả tươi lại có tác dụng bảo vệ.
Ngoài ra, các nghiên cứu dịch tễ học và thực nghiệm c̣n cho thấy trà xanh có thể
có tác dụng bảo vệ chống ung thư dạ dày.
Trà xanh được tiêu thụ
rộng răi ở châu Á và rất đại chúng ở Nhật. Khác với trà đen, trà xanh được chế
biến bằng lá tươi nấu cho bốc hơi ở nhiệt độ cao, làm bất hoạt các enzym oxy-hóa
nhưng vẫn giữ nguyên các polyphenol. Nghiên cứu trên động vật cho thấy
polyphenol trong trà xanh, trong đó thành phần chính là
epigallocatechin-3-gallat, có các tác dụng chống sinh đột biến, chống sinh ung
thư và kháng viêm. Những nghiên cứu dịch tễ học gợi ư rằng trà xanh có tiềm năng
giảm nguy cơ viêm teo dạ dày mạn tính, ung thư dạ dày, ung thư da, bệnh động
mạch vành và một số nhiễm khuẩn. Dân Nhật rất phấn khởi trước những kết quả này
và xem trà xanh như một thức uống có lợi cho sức khỏe.
Tuy vậy, một nhóm tác giả
Nhật, đúng đầu là Tsubono, mới đây vừa cho công bố kết quả của một nghiên cứu
thuần tập tiền cứu, dựa vào dân số, tại Nhật cho thấy không có sự kết hợp giữa
việc uống trà xanh và nguy cơ ung thư dạ dày (Tsubono et al, N. Eng. J. Med.
1/3/2001). Khác với những nghiên cứu bệnh-chứng trước đây, nghiên cứu thuần tập
này không thấy tác dụng bảo vệ của trà xanh. Thật ra, có một sự gia tăng không
có ư nghĩa thống kê về nguy cơ ung thư dạ dày ở những người uống >5 tách trà
xanh mỗi ngày so với những người uống <1 tách trà/ngày. Kết quả của nghiên cứu
này là bằng chứng dịch tễ học hùng hồn nhất cho đến nay về sự liên quan giữa trà
xanh và nguy cơ ung thư dạ dày.
Nghiên cứu thuần tập này
được thực hiện tại quận Miyagi, một vùng nông thôn phía bắc nước Nhật có xuất độ
ung thư dạ dày tương đối cao. Trong nghiên cứu, việc uống trà xanh được chia
thành bốn mức độ. Mức độ cao nhất là
?5 tách/ngày
(một tách trà được qui định là 100 ml) chiếm 42% số đối tượng nghiên cứu. Trong
nhóm này c̣n chia ra hai nhóm nhỏ: từ 5-9 tách/ngày và
?10 tách/ngày, v́ trong các nghiên cứu bệnh-chứng trước
đây, người ta thấy giảm nguy cơ dạ dày ở những người uống
?10 tách trà/ngày. Trong nghiên cứu của Tsubono, việc
uống trà xanh đi kèm với các yếu tố khác có thể làm tăng hoặc giảm nguy cơ ung
thư dạ dày. Chẳng hạn, ở nhóm nam uống <1 tách/ngày th́ tỉ lệ ăn dưa muối và rau
quả tươi, theo thứ tự, là 60,1% và 47,1%, trong khi ở nhóm nam uống
?5 tách/ngày,
các tỉ lệ tương ứng là 73,2% và 58,1%. Tỉ lệ ăn dưa muối (yếu tố nguy cơ) và ăn
rau quả tươi (yếu tố bảo vệ) càng cao th́ tỉ lệ tiêu thụ trà xanh càng cao. Hút
thuốc lá cũng là một yếu tố đi kèm với việc uống trà xanh. Trong nhóm nam giới
uống <1 tách/ngày, có 72,1% đang hoặc đă từng nghiện thuốc lá, trong khi ở nhóm
uống
?5 tách/ngày có
81,2% đă từng hoặc đang nghiện thuốc lá. Trong số những người đang nghiện thuốc
lá, tỉ lệ nghiện nặng (hút >20 điếu/ngày) là 29,4% ở nhóm ít uống trà nhất và
40,9% ở nhóm uống nhiều trà xanh nhất. Các yếu tố gây nhiễu đó làm phức tạp thêm
việc giải thích vai tṛ của trà xanh, ngay cả khi đă xử lư bằng phân tích đa
biến.
Như vậy, kết quả của các
nghiên cứu bệnh-chứng đă không thể khẳng định bằng nghiên cứu thuần tập tiền cứu
hoặc nghiên cứu can thiệp. Những sự kết hợp biểu kiến giữa thói quen ẩm thực với
nguy cơ ung thư (ví dụ như ăn mỡ và ung thư vú, ăn rau và ung thư đại tràng)
hiện nay đang được đánh dấu hỏi qua kết quả của các nghiên cứu tiền cứu. Nghiên
cứu của Tsubono cung cấp thêm một ví dụ. V́ thế, tại Nhật hiện đang tiến hành
những thử nghiệm can thiệp và nghiên cứu đoàn hệ lớn về mối quan hệ giữa việc
uống trà xanh và ung thư dạ dày. Trong khi chờ đợi, những ai thích uống trà xanh
vẫn cứ việc uống, nhưng đừng quá hy vọng rằng thú vui này sẽ làm giảm nguy cơ
ung thư dạ dày.?
Theo New England Journal of Medicine, 1/3/2001
ĐỘ TIN CẬY CỦA THẮT ỐNG DẪN TINH
Khoảng 42 triệu cặp vợ
chồng trên thế giới dùng biện pháp thắt ống dẫn tinh để kế hoạch hóa gia đ́nh.
Tuy vậy phương pháp này có thể thất bại ở bất kỳ giai đoạn nào, do vậy cần cảnh
báo đối với những cặp vợ chồng ấy về nguy cơ này khi tiến hành thủ thuật. Đa số
trường hợp sau khoảng 4 tháng sẽ có t́nh trạng vô tinh. Gọi là thất bại sớm nếu
lần xét nghiệm tinh dịch đầu tiên vẫn t́m thấy tinh trùng. Thất bại muộn là có
tinh trùng trong dịch phóng tinh mà những xét nghiệm trước đó là âm tính, dạng
này hiếm gặp hơn. Thông thường, chỉ biết là thất bại khi người vợ có thai, và
dạng thất bại này thường được quy cho hiện tượng tái thông ống dẫn tinh tự phát.
Phần lớn những trường hợp ống dẫn tinh được nối lại như vậy thường xảy ra sớm
sau khi làm thủ thuật, và tỉ lệ có thai ở những cặp vợ chồng đă thắt ống dẫn
tinh khoảng chừng 1/2000 (Philp T. et al. 1984). Ít gặp trường hợp tái thông sau
khi đă thắt ống dẫn tinh một năm. Cũng đă có những trường hợp tinh trùng tạm
thời xuất hiện trở lại, tức là xét nghiệm dương tính vào 12 tháng sau nhưng rồi
biến mất trong hai lần xét nghiệm liên tiếp sau đó.
Trong 30 năm (1970-1999),
tại bệnh viện Elliot-Smith (Oxford, Vương quốc Anh) có trên 30.000 trường hợp
thắt ống dẫn tinh. Tiêu chuẩn vô tinh b́nh thường tại đây là hai lần xét nghiệm
tinh dịch âm tính liên tiếp (lúc 16 tuần và 18 tuần) sau khi thắt ống dẫn tinh.
Có 9 trường hợp thất bại muộn được báo cáo v́ có thai. Trong mỗi trường hợp, hai
lần xét nghiệm đầu đều vô tinh, nhưng những mẫu tinh dịch sau đó (lúc phát hiện
có thai) lại dương tính. Để đánh giá chính xác hơn về tỉ lệ tái thông ống dẫn
tinh, Haldar N. và cộng sự ở BV Elliot-Smith đă thực hiện một nghiên cứu tiền
cứu để khảo sát sự xuất hiện trở lại của tinh trùng vào 1, 2 và 3 năm sau mẫu
xét nghiệm âm tính ban đầu, và t́m hiểu xem có sự tương quan nào với tỉ lệ có
thai được biết hay không. Trong nghiên cứu này, đối tượng được gây tê tại chỗ,
ống dẫn tinh được đốt điện trong ḷng ống cả hai đầu sau khi đă cắt bỏ một đoạn
1-2 cm. Chỉ những người đạt tiêu chuẩn vô tinh mới được nhận vào nghiên cứu.
Khi phân tích, có 2250
người được theo dơi ít nhất là 1 năm sau khi sạch tinh trùng. Trong đó, 1400
người được theo dơi đến 2 năm và 1000 người đến 3 năm. Kết quả thấy 20 người có
kết quả xét nghiệm tinh dịch dương tinh; 15 người trong năm đầu, 4 người vào năm
thứ hai và 1 người vào năm thứ ba; tỉ lệ dương tính cao một cách có ư nghĩa sau
1 năm (p=0,02, test (2). Những người có kết quả dương tính vào năm thứ hai hoặc
năm thứ ba, không ai dương tính trong thời gian trước đó. Tuy nhiên, có 17 người
có số lượng tinh trùng dưới 10.000/ml, và 14 người lại âm tính sau đó 1 tháng (3
người kia không đưa bệnh phẩm xét nghiệm). Kiểm tra lại sau một năm tất cả đều
âm tính. Có 2 trường hợp số lượng tinh trùng >100.000/mL và trong đó có một
người vẫn tiếp tục dương tính, với >600.000 tinh trùng/mL, trong lần xét nghiệm
theo dơi sau đó. BN được cắt lại ống dẫn tinh và xét nghiệm mô học cho thấy u
hạt với vô số ống nhỏ tăng sinh được lát một lớp biểu mô chứa tinh trùng.
Sau thắt ống dẫn tinh, tỉ
lệ tái xuất hiện tinh trùng với số lượng thấp là 0,6%. Tỉ lệ này cao hơn tỉ lệ
có thai được báo cáo. Tuy vậy số lượng tinh trùng cao xuất hiện sau 12 tháng gợi
ư rằng hiện tượng tái thông ống dẫn tinh xảy ra sớm. Sự tái xuất hiện tinh trùng
tạm thời ít xảy ra trong năm thứ hai và thứ ba, và tỉ lệ xảy ra cũng giảm dần.
Sau thắt ống dẫn tinh, một
số tinh trùng c̣n sót trong bóng ỏ đầu tận ống dẫn tinh, nên vô tinh xảy ra rất
chậm và khó tiên đoán được. Hiện tượng sạch tinh trùng chịu ảnh hưởng không
những bởi số lần phóng tinh mà c̣n lệ thuộc tuổi của đối tượng (Marwood RP,
1979). Sau khi cắt ống dẫn tinh, có những ống nhỏ được h́nh thành giữa hai đầu
(và một số hiếm trường hợp có thểt phát triển thành u hạt) cho phép tinh trùng
chui qua trong năm đầu, về sau những ống này bị bít do hóa sẹo nên tỉ lệ tái
xuất hiện tinh trùng giảm đi. Một số tác giả báo cáo rằng nam giới sau thắt ống
dẫn tinh nhưng vẫn c̣n tinh trùng với số lượng thấp và không di động cũng đạt
được yêu cầu vô sinh như những người vô tinh. Tỉ lệ tái xuất hiện tinh trùng
không di động vào khoảng 0,8% nhưng không có trường hợp có thai nào được ghi
nhận sau 22 tháng theo dơi (De Kniff DW, 1997). Có thể kết luận rằng thắt ống
dẫn tinh là một biện pháp ngừa thai rất đáng tin cậy nhưng phải cảnh báo cho đối
tượng biết là không thể bảo đảm là không thất bại vào một thời điểm nào đó trong
tương lai.
Theo Lancet 1/7/2000 (N.T.)
PHÁT HIỆN HỘI
CHỨNG DOWN TRÊN THAI BẰNG SIÊU ÂM TRONG BA THÁNG GIỮA THAI KỲ
Dùng siêu âm sản khoa để
phát hiện hội chứng Down trên thai nhi trong ba tháng giữa thai kỳ là một phương
pháp chẩn đoán được áp dụng phổ biến, nhưng cho đến nay vẫn chưa biết cụ thể
được mức độ chính xác của phương pháp này. V́ vậy, Rebecca Smith-Bindman và cộng
sự đă thực hiện một tổng phân tích qua y văn, với số liệu thu thập từ năm 1980
đến tháng 2/1999, để xác định độ đúng của siêu âm chẩn đoán hội chứng Down.
Những nghiên cứu được chọn
đưa vào phân tích là những nghiên cứu về hội chứng Down trong thai kỳ, nội dung
đề cập đến các dấu hiệu siêu âm, bất thường nhiễm sắc thể và kết cục lâm sàng
của bà mẹ (với những tiêu chuẩn chọn mẫu được mô tả rơ ràng). Tất cả có 56 bài
báo bằng tiếng Anh được chọn, mô tả 1930 thai nhi có hội chứng Down và 130.365
thai b́nh thường.
Các bài nghiên cứu được
hai tác giả độc lập xem xét và trích số liệu. Nếu có chênh lệch, sẽ được một
người thứ ba xem lại và lấy ư kiến thống nhất. Từ những kết quả này sẽ tính ra
ước lượng chung về độ nhạy, độ đặc hiệu, tỉ suất khả năng dương và âm đối với
từng dấu hiệu chỉ điểm sau đây: nang đám rối màng mạch, dày nếp gáy, ổ cản siêu
âm trong tim, ruột cản siêu âm, giăn bể thận, xương cánh tay và xương đùi ngắn.
Sau đó các kết quả được phân lớp tuỳ theo chúng hiện diện lẻ loi hoặc kết hợp
với các dị dạng cấu trúc thai khác.
Khi xem xét số liệu chỉ
điểm siêu âm không kết hợp với các dị dạng cấu trúc thai, độ nhạy của mỗi dấu
hiệu chỉ điểm đều thấp (từ 1%-16%), và phần lớn những thai nhi này có những dấu
hiệu đó đều có kết cục b́nh thường. Dày nếp gáy là dấu hiệu chỉ điểm đúng nhất
để phân biệt giữa các thai có và không có hội chứng Down, và đi kèm với một nguy
cơ hội chứng Down cao xấp xỉ 17 lần. Nếu dùng dấu hiệu này để tầm soát hội chứng
Down, th́ muốn phát hiện một trường hợp hội chứng Down phải tầm soát 15893 phụ
nữ có nguy cơ trung b́nh hoặc 6818 phụ nữ có nguy cơ cao. Đối với 6 dấu hiệu chỉ
điểm trên, khi xét riêng lẻ không kết hợp với các dị dạng cấu trúc khác, th́
chúng có tác động không lớn lắm. V́ các dấu hiệu chỉ điểm được phát hiện trên
một số nhỏ trường hợp thai nhi có hội chứng Down thật sự, do vậy khả năng mắc
hội chứng Down vẫn không giảm nếu siêu âm thai cho thấy kết quả b́nh
thường.?????
Bán cột sống gây
vẹo cột sống
|
|
Các tác giả kết luận rằng dấu hiệu dày nếp gáy
trong ba tháng giữa thai kỳ là một chỉ điểm siêu âm hữu ích để phân biệt thai
b́nh thương và thai bị hội chứng Down, nhưng độ nhạy của dấu hiệu này quá thấp
để dùng tầm soát hội chứng Down trong thực hành. Các chỉ điểm siêu âm khác, nếu
không có sự kết hợp với các dị dạng cấu trúc, không giúp phân biệt được. Nếu
dùng những chỉ điểm này để chỉ định chọc màng ối th́ tỉ lệ loại bỏ thai sẽ cao
hơn tỉ lệ thai có hội chứng Down được phát hiện, và dẫn đến giảm tỉ lệ phát hiện
tiền sản hội chứng Down.?
Theo JAMA 28/2/2001.
CHẨN ĐOÁN TIỀN SẢN ĐỐI VỚI DỊ TẬT BÁN ĐỐT SỐNG
Trong hội nghị thường niên
của Hội Vẹo Cột Sống Anh Quốc (7-10/3/2001), các phẫu thuật viên ở Đại học
Nottingham thông báo những dị dạng bẩm sinh ở cột sống có thể chẩn đoán ngay từ
trong bụng mẹ. Bằng cách dùng hệ thống siêu âm có độ phân giải cao, trong 4 năm
qua Brian Freeman và cộng sự đă phát hiện được những khuyết tật ở cột sống và
những dị tật đi kèm ở 15 trường hợp trong số 12000 thai nhi khi khám siêu âm sản
khoa thường qui vào tuần 18-20 của thai kỳ.
Khuyết tật đốt sống được
nhận thấy ở đoạn ngực, thắt lưng và cột sống cùng, và trong 15 trường hợp nói
trên có 4 trường hợp bán đốt sống đi kèm với các dị dạng khác: 1 hội chứng Vater
(teo thực quản và hậu môn), 2 hội chứng Potter (bất sản thận), và 1 dị dạng ở
xương sườn và thành bụng. Freeman và cộng sự đă phát hiện được các yếu tố nguy
cơ trong 5 trường hợp (tiền căn gia đ́nh hôn nhân đồng huyết thống, mẹ bị tiểu
đường, và hai trường hợp song thai). Không sản phụ nào chịu phá thai và có 13
trường hợp sinh sống.
Khuyết tật cột sống gây
vẹo cột sống (14 trường hợp và gù lưng (1 trường hợp). Nhóm Freeman đă khẳng
định độ chính xác của chẩn đoán tiền sản bằng cách chụp X-quang những trẻ này 6
tuần sau khi sinh, trừ trường hợp dị tật ở đốt sống cùng. Lúc mới sinh, độ cong
trung b́nh là 32o, và 6 em bé phải mổ trước 24 tháng tuổi. Trên những
trẻ này, điều trị phẫu thuật làm giảm độ cong trung b́nh từ 36o c̣n
26o.?????
Tiên lượng của vẹo cột
sống bẩm sinh thường là xấu, và điều trị sớm có thể có lợi. Tuy nhiên, Freeman
và cộng sự chỉ mới theo dơi được 24 tháng và cho rằng: "giá trị của điều trị
phẫu thuật thật sớm cần được đánh giá tiếp tục". Nhóm nghiên cứu này kết luận
rằng siêu âm tỏ ra chính xác trong chẩn đoán mức độ và kiểu dị tật bẩm sinh ở
cột sống.
Theo Lancet 17/3/2001.
TRÍ KHÔN NẰM Ở ĐÂU?
Khả năng đồng cảm với
người khác nằm ở vỏ năo trước trán. Đó là kết luận của một báo cáo do Donald
Stuss và cộng sự (Đại học Toronto, Canada) vừa công bố vào cuối tháng 1/ 2001 (Brain
2001;214:279-86). Các tác giả đă trắc nghiệm trên 32 BN có ổ tổn thương ở năo.
BN ngồi đối diện với người thử nghiệm qua một chiếc bàn. Phía trên bàn có màn
treo chắn ngang để BN không thấy người ngồi đối diện.
Trong thử nghiệm thứ nhất,
có hai trợ lư tham gia, một người ngồi cạnh BN, người kia ngồi cạnh người thử
nghiệm. Khi màn kéo kín, người thử nghiệm giấu một viên bi dưới một trong 5
chiếc tách úp trên mặt bàn. Khi kéo màn ra, cả hai trợ lư đến đứng sau lưng
người thử nghiệm và mỗi người chỉ vào một chiếc tách được cho là có giấu viên bi
bên trong; BN được yêu cầu cho biết chiếc tách nào có viên bi. Mục đích của trắc
nghiệm này là kiểm tra xem liệu BN có hiểu là chỉ có người trợ lư ngồi cạnh
người thử nghiệm mới biết được chiếc tách nào có giấu viên bi. Những người có
tổn thương vùng trán có tỉ lệ trả lời sai rất cao, nhất là khi tổn thương ở thùy
trán phải.
Trong thử nghiệm thứ hai,
chỉ có một trợ lư tham gia và ngồi kế bên người thử nghiệm, và chỉ dùng hai
chiếc tách. Mỗi lần trắc nghiệm, người trợ lư sẽ trả lời sai bằng cách chỉ vào
chiếc tách không giấu bi, và BN phải hiểu ra rằng ḿnh bị lừa. Những BN tổn
thương vỏ năo vùng trước trán dưới-trong khó ḷng nhận ra tṛ bịp này.
Tác giả giải thích rằng:
"BN không c̣n nhạy cảm với người khác, v́ họ thiếu khả năng liên hệ với những
kinh nghiệm tương tự trong quá khứ, ư nghĩa của t́nh huống hiện tại và ư nghĩa
xúc cảm gắn liền với những t́nh huống này". Theo một quan sát của Tim Shallice
(Đại học London, Vương quốc Anh) thấy rằng vỏ năo trước trán trong có can dự vào
trạng thái tâm thần qua một số nghiên cứu chẩn đoán h́nh ảnh. Ông cho rằng hai
nhận xét tương đương này, bằng hai phương pháp khác nhau, rất đáng thu hút sự
chú ư.
Theo Lancet 3/2/2001
XƠ VỮA SỚM MẠCH VÀNH Ở NHỮNG NGƯỜI CÓ TIỀN CĂN GIA Đ̀NH
BỆNH MẠCH VÀNH
Một nửa số người có cha mẹ
hoặc anh em bị bệnh mạch vành không triệu chứng sẽ có những thay đổi xơ vữa sớm
ở động mạch vành, những thay đổi đó có thể phát hiện được bằng phương pháp chụp
cắt lớp với chùm tia positron (PET). Đó là kết quả nghiên cứu của các bác sĩ lâm
sàng thuộc Trường Y khoa Đại học Texas (Hoa Kỳ), đứng đầu là Lance Gould, vừa
công bố trên tạp chí Circulation.?
Các tác giả đă dùng kỹ
thuật PET chính xác để chẩn đoán h́nh ảnh tưới máu tim trên 90 BN lúc nghỉ, và
sau khi dùng dipyridamole để mô phỏng những thay đổi về lưu lượng máu sau vận
động gắng sức. Nghiên cứu gồm 18 BN có bệnh mạch vành và 32 đối tượng là thân
nhân bậc một của BN, không có triệu chứng bệnh. Nhóm chứng gồm 30 người có những
yếu tố nguy cơ bệnh tim tương thích nhưng không có tiền căn gia đ́nh bị bệnh tim
và 10 người không có các yếu tố nguy cơ và cũng không có tiền căn gia đ́nh. Một
nửa số người không có triệu chứng bệnh mạch vành nhưng có thân nhân bị bệnh có
h́nh ảnh khiếm khuyết tưới máu cơ tim do dipyridamol gây ra. Mức độ khiếm khuyết
ở những người này lớn hơn so với những người đối chứng có yếu tố nguy cơ nhưng
không có tiền căn gia đ́nh.
Theo Lance Gould, những
thay đổi giống xơ vữa sớm ở động mạch vành này có thể giảm bằng cách thay đổi
lối sống. Ông nói rằng "Trong bệnh viện của chúng tôi, BN có tiền sử gia đ́nh bị
bệnh mạch vành được làm PET và chúng tôi khuyến nghị họ thay đổi lối sống và
điều trị thuốc. Sau đó, chúng tôi vẫn giữ liên lạc để? kiểm soát t́nh trạng của
họ". Ông cho biết tỉ lệ tử vong v́ bệnh mạch vành trên BN của ông thấp hơn so
với tử vong trong dân số chung và những lần làm PET sau đó cho thấy có sự cải
thiện lưu lượng máu của tim.
Melvin Cheitlin, bác sĩ
tim mạch ở Đại học California, nói rằng ông không ngạc nhiên về tỉ lệ những thân
nhân không có triệu chứng nhưng có những thay đổi xơ vữa sớm. Ông nói thêm: "Mổ
xác cho thấy bệnh tắc nghẽn mạch vành có ư nghĩa xảy ra ở 50% số người lớn có độ
tuổi tương tự. Mặc dù vậy, nghiên cứu này đă cung cấp thêm bằng chứng rằng tiền
căn gia đ́nh là một yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh tắc nghẽn mạch vành."
Theo Lancet 3/2/2001
HỘI CHỨNG SUY BUỒNG TRỨNG SỚM: MỘT CÁCH LƯ GIẢI THEO DI
TRUYỀN HỌC
Đột biến gen FOXL-2, một
gen nằm trên nhiễm sắc thể 3, có thể gây suy buồng trứng sớm, một bệnh có thể
dẫn đến vô sinh ở 1% số phụ nữ toàn thế giới. Đây là gen lần đầu tiên được xác
định trên người có thể giữ vai tṛ quan trọng trong việc duy tŕ nang noăn. Theo
tiên đoán của Andrew Zinn (Trường Y khoa Tây Nam, Đại học Texas, Dallas, Hoa
Kỳ): "Trong khi đột biến FOXL-2 có lẽ chỉ chiếm một phần nhỏ trong hội chứng suy
buồng trứng sớm, việc phát hiện các gen được điều ḥa bởi FOXL-2 có thể làm sáng
tỏ con đường sinh hóa lệch lạc trong các thể bệnh thường gặp của suy buồng trứng
sớm".?????
Laura Crisponi và cộng sự
(Đại học Cagliari, Ư) đă khảo sát những BN có hội chứng BPES (hẹp mí mắt, sụp
mí, mí mắt có nếp quạt ngược [epicanthus inversus]) tưp I hoặc tưp II. BPES tưp
I đi kèm với những bất thường ở mí mắt và suy buồng trứng, trong khi BPES tưp II
chỉ đi kèm với những khuyết tật mí mắt. Đột biến xả? ra trong 2 tưp BPES đều ở
nhiễm sắt thể 3q23. Crisponi và cộng sự đă dùng điều này như điểm khởi đầu để
xác định một gen yếu tố phiên mă mới là FOXL-2. Những đột biến ở này được t́m
thấy trên người có hội chứng BPES, gen đột biến ở BN tưp I mă hóa các protein
phi chức năng, trong khi gen đột biến ở BN tưp II mă hoá các protein lớn hơn
b́nh thường. Các tác giả giải thích : "Trên chuột nhắt, sự thể hiện gen khu trú
ở tế bào nang noăn của buồng trứng, có nghĩa là FOXL-2 liên quan trực tiếp với
sự phát triển nang noăn. Xét nghiệm Northern-blot cũng chứng minh rằng FOXL-2
được thể hiện trên người chủ yếu ở buồng trứng, và thăm ḍ RNA phôi chuột từ
7-17 ngày tuổi cho thấy sự thể hiện chọn lọc cao trong phát triển mí mắt (Nature
2001;27: 159-66).
Như thế, hiện nay có thể
phát triển một test chẩn đoán BN BPES có suy buồng trứng sớm. Các tác giả c̣n
suy luận rằng đột biến FOXL-2 không những xảy ra ở những BN BPES có tính gia
đ́nh mà c̣n có thể xảy ra ở những trường hợp tản phát. Họ đang thăm ḍ xem liệu
đột biến FOXL-2 có xảy ra ở những BN suy buồng trứng sớm tiên phát không kèm hội
chứng BPES hay không. Nếu có sự kết hợp giữa sự bất thường của gen này với suy
buồng sớm, có thể tiên đoán được thời điểm khởi phát măn kinh của BN. Theo
Giuseppe Pilia, người hướng dẫn nghiên cứu, có thể kết luận rằng: "Nghiên cứu
gen FOXL-2 và con đường tác động của nó sẽ là đích can thiệp trong điều trị BN
suy buồng trứng sớm mà cho đến nay chưa có một trị liệu đặc hiệu nào.
Theo Lancet 3/2/2001