WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

B́nh luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

LIÊN QUAN GIỮA BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG VÀ SUYỄN

Huỳnh Khắc Cường* Phạm Kiên Hữu*

 


I. MỞ ĐẦU

1- Viêm mũi dị ứng

Viêm mũi dị ứng là một bệnh thường xảy đến cho những nhân viên văn pḥng, phổ biến trong những gia đ́nh có người mắc bệnh, đây là một bệnh làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân. Tại Mỹ uớc t́nh bệnh đă làm mất 3,5 triệu ngày công một năm, ở trẻ em mỗi năm có 2 triệu ngày nghỉ học do bệnh gây nên tiêu tốn cho việc điều trị bệnh mất 2,4 tỉ USD/năm. Nếu cộng cả phí điều trị những bệnh kèm theo như suyễn, polyp mũi, chi phí tổng cộng là 10 tỉ USD.(1)

Việt Nam với 77.685.500 dân (thống kê 12/2000) ước tính có 12,3% bị dị ứng mũi-xoang và 7,41% bị suyễn theo các giáo sư NĐ. Trọng, NN. An và PD. Linh .

Bệnh viêm mũi dị ứng đặc trưng bằng các triệu chứng: ngứa mũi, chảy nước mũi trong, nghẹt mũi, nhảy mũi; đôi khi có kèm theo ngứa mắt, ngứa tai hoặc ngứa vùng khẩu cái. Ngoài ra, bệnh c̣n có kèm thêm một số biểu hiện ở toàn thân thường nhất là mệt mỏi.

Dựa theo tần suất xuất hiện của bệnh mà người ta chia bệnh viêm mũi dị ứng làm 2 loại chủ yếu: viêm mũi dị ứng quanh năm và viêm mũi dị ứng theo mùa. Viêm mũi dị ứng theo mùa thường xuất hiện theo mùa, do cơ thể người bệnh dị ứng với các dị nguyên xuất hiện theo mùa (phấn hoa.), c̣n với bệnh viêm mũi dị ứng quanh năm bệnh nhân bị dị ứng với các dị nguyên xuất hiện quanh năm (bào tử nấm, mạt bụi nhà.). Tuy vậy, hai loại bệnh trên có cùng chẩn đoán và cách điều trị giống nhau.

Việc chẩn đoán bệnh viêm mũi dị ứng dựa trên hỏi bệnh sử với các triệu chứng đặc trưng kể trên, kết hợp với khám thấy niêm mạc phù nề tái và dịch tiết trong, loăng, lượng nhiều. Với bệnh nhân có bệnh sử điển h́nh của t́nh trạng viêm mũi dị ứng mà niêm mạc nề, sung huyết th́ hoặc là bệnh nhân đang bị bội nhiễm thêm hoặc bệnh nhân đang bị bệnh viêm mũi do sử dụng thuốc nhỏ mũi kéo dài. Có thể xác định dị nguyên gây bệnh viêm mũi dị ứng và xác định kháng nguyên dựa trên các test thử phản ứng da với các dị ứng nguyên thường gây viêm mũi dị ứng như phấn hoa, nấm mốc, rệp bụi nhà, lông thú.

2- Bệnh suyễn (hen phế quản):

Suyễn cũng là một bệnh mạn tính của đường hô hấp, đặc biệt, trong vài thập niên gần đây tỉ lệ và tử vong do bệnh suyễn càng ngày càng gia tăng. Bệnh suyễn được xem như một bệnh viêm mạn tính của đường dẫn khí do rất nhiều tế bào và hoá chất trung gian tham gia như: tế bào ái toan, dưỡng bào, tế bào lymphô T, bạch cầu đa nhân trung tính, và có sự tham gia của cả tế bào biểu mô.

Triệu chứng của bệnh suyễn bao gồm: nặng ngực, khó thở, ho, kḥ khè thường khởi phát về đêm hoặc sáng sớm. T́nh trạng dễ co thắt phế quản gây nên sự tắc nghẽn đường thở là một dấu hiệu quan trọng để chẩn đoán bệnh, triệu chứng khó thở của bệnh suyễn có thể thuyên giảm tự nhiên hay phải dùng thuốc.

Những yếu tố thường gây nên cơn suyễn là môi trường, hoạt động thể lực, nhiễm siêu vi và viêm mũi-xoang nhiễm trùng. Nhưng cơ địa dị ứng (atopy) với sự hoạt động ưu thế của hệ thống các tân bào Th2 là nguyên nhân chung của các hoàn cảnh khởi phát trên.

NHỮNG BẰNG CHỨNG ChO THẤY MỐI LIÊN QUAN GIỮA BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG VÀ SUYỄN:

Sự gần gũi và liên tục về cấu trúc là một dữ kiện có tính thuyết phục đă biết đến từ lâu. Gần đây có một số bằng chứng khác từ các nghiên cứu thuộc lĩnh vực dịch tễ, sinh lư bệnh và điều trị, đă củng cố thêm giả thiết về mội liên hệ mật thiết giữa bệnh viêm mũi dị ứng và suyễn.(2)

1- Những dữ kiện về dịch tễ:

Nhiều tác giả đă đi sâu t́m hiểu mối liên hệ giữa bệnh viêm mũi dị ứng và suyễn và thấy rằng có khoảng 28 - 78% bệnh nhân bị suyễn có thêm bệnh viêm mũi dị ứng, ngược lại có khoảng 5 - 15% bệnh nhân viêm mũi dị ứng được chẩn đoán là có bệnh suyễn kèm theo.(3) Một số công tŕnh nghiên cứu cho thấy bệnh suyễn dị ứng có tỉ lệ mắc viêm mũi dị ứng là 99% đối với người lớn và 93 % bệnh nhân tuổi thanh niên. Công tŕnh nghiên cứu của Greisner.W.A.(4) ở trường đai?học Brown ở Hoa Kỳ đă ghi nhận kết quả theo dơi sau 23 năm các sinh viên bị bệnh viêm mũi dị ứng và đă ước tính nguy cơ mắc bệnh suyễn về sau của các sinh viên này cao gấp 3 lần so với nhữmg người không bị bệnh.

2- Những bằng chứng về sinh lư bệnh:

Sinh lư bệnh gần đây ngoài việc nhấn mạnh sự liên tục giữa vùng mũi xoang và hệ thống phế quản c̣n cho thấy có sự liên hệ mật thiết qua cơ chế dị nguyên. Corren và CS đă đưa kháng nguyên vào mũi (không đưa vào phế quản) những bệnh nhân viêm mũi dị ứng và suyễn th́ gây nên t́nh trạng kích thích niêm mạc khí phế quản.(5) Thời gian từ lúc kháng nguyên tiếp xúc với niêm mạc cho đến khi bắt đầu gây tắc nghẽn đường thở là khoảng vài phút và phế quản bị co thắt mạnh nhất vào khoảng 20 -30 phút sau khi phản ứng bắt đầu. Như vậy phản ứng qua trung gian globulin miễn dịch E (IgE) là nguyên nhân gây nên cả t́nh trạng viêm mũi dị ứng và suyễn cho bệnh nhân.

3- Những bằng chứng ghi nhận được trong quá tŕnh điều trị:

Khi bệnh nhân có viêm mũi dị ứng và suyễn th́ việc điều trị hiệu quả một trong chứng bệnh có thể làm chứng bệnh c̣n lại tiến triển tốt hơn lên. Trong y văn, có nhiều công tŕnh nghiên cứu mù đôi có đối chứng với giả dược cho thấy phương pháp xịt corticosteroid đường mũi để điều trị cho những bệnh nhân viêm mũi dị ứng và suyễn có cải thiện tốt triệu chứng bệnh suyễn và t́nh trạng kích ứng niêm mạc đường hô hấp dưới, kết quả trên không áp dụng cho những trường hợp có bội nhiễm vi trùng sẽ làm cho t́nh trạng suyễn trở nên trầm trong hơn.(6)

Một dữ liệu khác là khi dùng các thuốc kháng Histamin đường uống để điều trị bệnh viêm mũi dị ứng th́ đồng thời cũng cải thiện t́nh trạng suyễn của bệnh nhân có bệnh suyễn kèm theo. Mặc dù Histamin là nguyên nhân quan trọng gây nên cơn suyễn trước nay, người ta không xếp các thuốc kháng Histamin vào trong danh sách các thuốc điều trị suyễn v́ lo ngại tác dụng phụ không mong muốn của thuốc cho bệnh nhân (co thắt phế quản); nhất là với các thuốc kháng Histamin thế hệ cũ. Ngày nay, một số nghiên cứu thực nghiệm khảo sát khả năng gây co thắt phế quản đă được thực hiện vẫn không thấy có tác dụng phụ co thắt phế quản của bệnh nhân. Tuy vậy, vẫn c̣n nguy cơ khác khi sử dụng các kháng Histamin thế hệ đầu v́ tác dụng kháng cholinergic đă làm dịch tiết trong phế quản cô đặc lại. Những kháng H1 thế hệ mới như Astemizol, Certirizin, Loratadin có tác dụng điều trị rất tốt với bệnh suyễn, đặc biệt Certirizin ngoài tác dụng điều trị viêm mũi dị ứng c̣n giảm thiểu triệu chứng bệnh suyễn. Loratadin ngoài tác dụng làm giảm triệu chứng suyễn c̣n làm giăn phế quản và tái lập hoạt động hô hấp b́nh thường. Gần đây có một báo cáo cho biết kết quả ở 193 bệnh nhân sử dụng 5mg Loratadin và 120mg Pseudoephedrin ghi nhận các thông số về chức năng hô hấp và cả mức độ cải thiện sức khoẻ cũng như chất lượng cuộc sống gia tăng sau 6 tuần sử dụng.(7)

iii. ảnh hưởng của các thuốc điều trị viêm mũi dị ứng lên chức năng của hệ thống phế quản.

Ảnh hưởng của các thuốc điều trị viêm mũi dị ứng lên đường hô hấp dưới vẫn chưa được biết rơ ràng. Có thể các thuốc Steroid xịt qua đường mũi làm giảm phóng thích các hoá chất trung gian và ngăn chặn sự dịch chuyển các tế bào viêm tại chỗ cũng gây cùng tác dụng ở đường hô hấp dưới. Cũng có thể do các hạt (bụi) thuốc khi xịt vào mũi vẫn có khả năng đến trực tiếp trên niêm mạc đường hô hấp dưới. Một nghiên cứu mù đôi có sử dụng giả dược đánh giá tác dụng beclomethason dipropionat (BDP) trên 21 bệnh nhân viêm mũi dị ứng và suyễn nhẹ cho thấy thuốc có tác dụng giảm rơ rệt triệu chứng suyễn và t́nh trạng dễ kích ứng của niêm mạc đường hô hấp dưới sau 4 tuần điều trị (P=0,04).(8)

Gần đây, các loại corticoid xịt tại mũi thế hệ mới hơn ra đời như: fluticason propionat (FlixonaseTM) có tính hiệu quả và tính an toàn rất cao, không những điều trị tốt viêm mũi dị ứng mà c̣n cải thiện triệu chứng của bệnh suyễn.(9,10)

Kết luận

Nhiều nghiên cứu và những bằng chứng lâm sàng chứng tỏ có mối liên quan viêm mũi xoang dị ứng và bệnh suyễn. Do vậy, điều trị hiệu quả một trong chứng bệnh có thể làm chứng bệnh c̣n lại tiến triển tốt hơn lên. Việc điều trị viêm mũi dị ứng bằng thuốc xịt mũi corticosteroid đă chứng tỏ có lợi trên đáp ứng phế quản.

Summary

RELATION BETWEEN allergic rhinitis AND ASTHMA

Considerable clinical and research evidence substantiates the interrelationship between allergic rhinitis and asthma. Treatment of rhino-sinusitis may be expected to improve asthma, treatment with intranasal steroids has been shown to have beneficial effects on associated bronchial hyper-reactivity.

Tài liệu tham khảo

1-   Malone-DC; Lawson-KA; Smith-DH; Arrighi-HM; Battista-C. A cost of illness study of allergic rhinitis in the United States. J-Allergy-Clin-Immunol. 1997 Jan; 99(1 Pt 1): 22-7

2-   De Lovinfosse S., CharpinD. Relations entre rhinites et asthmes allergique. Rev-Mal-Resp 1995; 12:79-85

3-   Slavin RG. Complications of allergic rhinitis: implications for sinusitis and asthma. J Allergy Clin Immunol 1998;101(2 Pt 2):S357-60

4-   Greisner.W.A. Settipane R. Settipane G. (1998) Coexistence of Asthma and Allergic Rhinitis: A 23 year follow-up study of college students. Allergy and Asthma Proceedings . Vol 19 (4) : 185-188.

5-   Corren J, et al. Effect of an antihistamine-decongestant combination on asthma J Allergy Clin Immunol.1997; 100:781-788

6-   Mygind N, Dahl R, Nielsen LP. Effect of nasal inflammation and of intranasal anti-inflammatory treatment on bronchial asthma. Respir Med 1998;92(3):547-9

7-   Serra HA, Alves O, Rizzo LF, Devoto FM, Ascierto H.Loratadine-pseudoephedrine in children with allergic rhinitis, a controlled double-blind trial. Br J Clin Pharmacol 1998 Feb;45(2):147-50

8-   Watson, et al. Effect of Nasal Corticosteroids
on Bronchial Responsiveness in Patients with Allergic Rhinitis and Mild Asthma J Allergy Clin Immunol. 1993

9-   Storms WW. Risk-benefit assessment of fluticasone propionate in the treatment of asthma and allergic rhinitis. J Asthma 1998;35(4):313-36

10-              Wiseman LR, Benfield P.Intranasal fluticasone propio-nate. A reappraisal of its pharmacology and clinical efficacy in the treatment of rhinitis. Drugs 1997 May;53(5):885-907

Text Box: *Bộ Môn Tai-Mũi-Họng, Ðại Học Y Dược TP.Hồ Chí Minh
[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net