|
ĐIỀU TRỊ THỰC TIỄN BỆNH KHỚP
Ngày 11/4/2001, Hội Dược học phối hợp cùng
công ty Boehringer Ingelheim tổ chức hội thảo chuyên đề về: "Điều trị thực
tiễn bệnh khớp" do Bs
Ingram? F.Anderson tŕnh bày.
Bệnh thấp khớp là bệnh viêm khớp
rất phổ biến trong tất cả các nhóm dân cư và có ảnh hưởng đáng sợ về mặc kinh tế
xă hội. Bệnh chiếm tỉ lệ cao theo thứ tự bệnh lư tại mô mềm (chiếm 15%), thoái
hóa khớp (dạng phổ biến nhất của viêm khớp, tỉ lệ trung b́nh là 10%), đến viêm
khớp dạng thấp (1%) và hiếm gặp nhất như SLE - bệnh lupus ban đỏ toàn thân
(chiếm tỉ lệ 1/100.000).
Triệu chứng thể hiện trên bệnh nhân là
đau, sưng, cứng khớp và mất chức năng. Các triệu chứng này nói chung đều xuất
hiện ở cả hai dạng viêm và không viêm.
Việc chẩn đoán chính xác giữ vai tṛ quan
trọng như việc lựa chọn các liệu pháp đặc hiệu, ví dụ như dùng các thuốc làm
chậm diễn tiến bệnh (DMARD?s) trong điều trị viêm khớp dạng thấp, nhưng nguyên
tắc trị liệu chung cho phần lớn những dạng viêm khớp / thấp khớp có thể tŕnh
bày như sau:
- Những biện pháp vật lư như dùng nhiệt
nóng/lạnh, bó nẹp, vật lư trị liệu hay thủy lực trị liệu.
- Dùng thuốc kháng viêm như các thuốc
NSAID.
- Các thuốc khác giảm đau.
Được đưa ra thị trường lần đầu tiên vào
năm 1960, các thuốc kháng viêm không chứa steroid (KVKS) đă giúp giảm đau kháng
viêm cho nhiều người bệnh. Giáo sư John Vane đă nhận biết được cơ chế tác động
của các KVKS trên enzym cyclooxygenase (COX) vào đầu những năm 1970. Các nhà
khoa học đă khám phá ra các tác dụng trị liệu và những tác dụng ngoại ư của KVKS
là do sự ức chế của chúng trên COX, enzym then chốt trong sự sinh tổng hợp
prostaglandin.
Ngày nay người ta đă phát hiện được hai
đồng dạng của COX: COX-1 được cấu thành tự nhiên và có tác dụng sinh lư bảo vệ,
ví dụ trên dạ dày. Sự tổng hợp COX-2 được cảm ứng bởi các chất trung gian của
hiện tượng viêm, và sự ức chế COX-2 giải thích cho tác dụng trị liệu của các
KVKS. Các khác biệt về cấu trúc ở các vị trí xúc tác của các đồng dạng này cho
phép triển khai các ức chế COX-2 chọn lọc. Các thuốc này được dự kiến là những
thuốc kháng viêm hữu hiệu với ít độc tính hơn là các KVKS cũ không chọn lọc.
Tính chọn lọc trên COX-2 của một KVKS được
chứng minh ở một số mức độ như sinh hóa, dược lư, nhưng bằng chứng tối hậu phải
là hiệu quả kháng viêm và giảm đau hiển nhiên trên lâm sàng với sự dung nạp tiêu
hóa được cải thiện.
Các KVKS đă trở nên là những thuốc chủ yếu
trong trị liệu nhiều bệnh lư cơ xương, bao gồm viêm khớp dạng thấp, thoái hóa
khớp và bệnh thấp mô mềm. Hiện nay các KVKS là một trong những thuốc được dùng
rộng răi nhất trên toàn thế giới do tác dụng kháng viêm giảm đau. Tuy nhiên cùng
với lợi ích đă được biết rơ của các KVKS, xuất hiện nguy cơ cao tác dụng phụ
trên đường tiêu hóa. Khoảng 40% số người dùng KVKS gặp phải các tác dụng phụ
trên đường tiêu hóa (hầu hết là đau bụng, khó tiêu) và khoảng 2-4% phải nhập
viện mỗi năm với các biến chứng trầm trọng như thủng, loét hoặc chảy máu.
Các yếu tố nguy cơ của biến chứng tiêu hóa
trầm trọng ở người dùng KVKS như sau: Lớn tuổi, hút thuốc lá uống rượu, dùng
đồng thời prednisolon, liều cao KVKS, tiền căn đă bị các tác dụng phụ trên đường
tiêu hóa liên quan việc dùng NSAID/biến chứng tiêu hóa
Thuốc KVKS lư tưởng phải có hiệu quả điều
trị cao và không có tác dụng phụ. Một trong những thuốc hiện có là meloxicam
(Mobic) đă được nghiên cứu và đă được đưa ra sử dụng trên thị trường gần 05 năm
nay.
H́nh 1: Tác dụng phụ của Mobic so với diclofenac
H́nh 1 của thử nghiệm MELISSA(1)
cho thấy Mobic 7,5 mg /ngày ít gây tác dụng phụ, dặc biệt trên đường tiêu hóa so
với diclofenac 100 mg/ngày trong điều trị thoái hóa khớp. Không làm tăng những
phản ứng phụ trên tim mạch (tần suất thấp tương tự diclofenac).? Kết qủa thu
được tương tự như trong thử nghiệm SELECT (so sánh Mobic 7,5/ngày với piroxicam
20mg/ngày trên bệnh nhân thoái hoá khớp). (1,2)
Một nghiên cứu mới đây(3) so
sánh qua nội soi tác dụng bảo vệ dạ dày-ruột và hiệu quả trên sự sản sinh
arachidonic acid giữa meloxicam và piroxicam trong điều trị viêm xương khớp.
Meloxicam là KVKS ức chế chọn lọc COX-2 hơn là COX-1, được dùng so với piroxicam
trên bệnh nhân viêm xương khớp gối. Đây là nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi giữa
các nhóm song song sử dụng meloxicam với liều 7,5 mg hoặc piroxicam 20 mg /ngày
trong 4 tuần.
?Về hiệu quả cho thấy tương đương giữa hai
thuốc. Những thay đổi qua nội soi tính theo thang điểm Lanza, meloxicam an toàn
hơn ở mọi vị trí nội soi -dạ dày, tá tràng và tổng thể. Tần suất các trường hợp
với thang điểm >2 ở nhóm piroxicam nhiều hơn meloxicam. Dung nạp ở dạ dày-ruột
đối với meloxicam tỏ ra tốt hơn piroxicam do có ít tác dụng phụ ở dạ dày-ruột và
không có bệnh nhân ngưng thuốc v́ những phản ứng ngoại ư khi so với piroxicam.
Cả meloxicam và piroxicam đều ức chế nồng độ PGE2 sau 4 tuần điều trị (không có
khác biệt). Không có thuốc nào tác dụng trên thromboxane B2. Chỉ có meloxicam ức
chế nồng độ leukotriene B4.
Meloxicam 7,5 mg ngày uống 1 lần có dung
nạp đối với dạ dày-ruột tốt hơn piroxicam và có hiệu quả tương đương như
piroxicam 20 mg trong 4 tuần điều trị bệnh nhân viêm xương khớp.
1- Overview of MELISSA and SELECT clinical trials of
meloxicam - A. Kahan. Clinical Significance and Potential of Selective COX
Inhibitors - Edited by Sir John Vane and Dr. Regina Botting
2- Gastrointestinal Tolerability of Meloxicam Compared to
Diclofenac in Osteoarthritis Patients. British Journal of Rheumatology.? Vol.
37. Number 9.? Sep 1998, pp 937 - 945
3- Chang DM, Young TH, Hsu CT, Kuo SY, Hsieh TC. Endoscopic
comparison of the gastroduodenal safety and the effects on arachidonic acid
products between meloxicam and piroxicam in the treatment of osteoarthritis.
Clin Rheumatol 2001;20(2):104-13
Định hướng hoạt động chương tŕnh COPD Việt Nam trong
tương lai
Ngày 12/5/2001, Trung tâm Lao và bệnh Phổi
Phạm Ngọc Thạch phối hợp cùng công ty Boehringer Ingelheim tổ chức thảo luận
chuyên đề: Định hướng hoạt động chương tŕnh COPD Việt Nam trong tương lai.
Mục đích hội thảo nhằm cung cấp các kiến thức chuyên môn về bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính (BPTNMT) cho các bác sĩ đa khoa và chuyên khoa, đồng thời thảo luận về
hướng hoạt động của chương tŕnh BPTNMT tại Việt Nam.
Tham gia hội thảo có GS Nicholas J Gross
đến từ Hoa Kỳ. GS cung cấp một số thông tin chuyên môn về xu hướng mới trong
chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Hiện nay, những can thiệp
chuyên môn kết hợp với giáo dục sức khoẻ có thể làm giảm triệu chứng bệnh và
nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngưng hút thuốc lá là điều tiên quyết. Luyện tập
thể lực có thể cải thiện sức chịu đựng của bệnh nhân. Bổ sung dinh dưỡng v́ ở
những người BPTNMT trung b́nh mỗi năm họ sụt giảm từ 5-10% thân trọng. Tiêm
chủng pḥng ngừa nhiễm H. influenza và S. pneumococcus. Sử dụng
kháng sinh trong những cơn trở nặng của BPTNMT, mặc dù chưa rơ nguyên nhân gây
cơn trở nặng, nhưng thường gặp là do nhiễm khuẩn. Điều trị tắc nghẽn đường dẫn
khí theo từng bước: (1) kháng cholinergic bằng ipratropium bromid (2) tăng liều
ipratropium bromid (3) phối hợp với chủ vận
b2 (4) thêm vào methyxanthin (5) sử dụng
corticosteroid uống.
Hội thảo bàn rất nhiều chương tŕnh pḥng
chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở Việt Nam. Cần đưa chương tŕnh này thành
chương tŕnh quốc gia. Giáo dục sức khoẻ để người dân hiểu biết các biện pháp
pḥng ngừa, đặc biệt là pḥng chống hút thuốc. Đào tạo lại cho các thầy thuốc
kiến thức mới trong pḥng ngừa và điều trị BPTNMT. Phác thảo hướng dẫn xử trí
BPTNMT. Tăng cường công tác điều tra cơ bản và phát hiện sớm bệnh. Cuối cùng hội
thảo nhận định muốn thực hiện chương tŕnh hành động kể trên cần thành lập
Hội Pḥng Chống Bệnh Phổi Tắc Nghẽn Mạn Tính.
Nhân dịp hội thảo, công ty Boehringer
Ingelheim cung cấp tài liệu mới về xử trí điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
và đồng thời giới thiệu thuốc Atrovent? Berodual?
là thuốc giăn phế quản được FDA Hoa Kỳ chấp thuận sử dụng trong điều trị bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính. Berodual có công thức phối hợp 2 loại giăn phế quản là
fenoterol hydrobromid (chủ vận
b2) và
ipratropium bromid (chất kháng cholinergic).
Hội nghị Bàn tṛn về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính khu vực
châu Á - Thái B́nh Dương: Tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tăng gần gấp
đôi dự kiến
Ngày 28-29/4/2001, tại Singapore tổ chức
Hội nghị Bàn tṛn về Bệnh Phổi Tắc Nghẽn Mạn Tính (BPTNMT) khu vực châu Á - Thái
B́nh Dương. Hội nghị gồm các chuyên gia bệnh hô hấp trong khu vực cùng họp lại
với mục đích nâng cao nhận thức về BPTNMT và cải thiện điều trị cho bệnh này.
Mục tiêu cao nhất của nhóm là nâng cao chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân
mắc BPTNMT ở khu vực châu Á-Thái B́nh Dương. Các thành viên trong nhóm họp lần
đầu vào tháng 7/1999, và kể từ đó họp định kỳ để đề ra các sáng kiến nghiên cứu
cũng như đào tạo y khoa nhằm đạt được mục tiêu của nhóm. Điều này giúp:
3 Nhận diện những nhu cầu chưa được đáp ứng của các bác sĩ hành nghề
trong khu vực châu Á-Thái B́nh dương trong lĩnh vực xử trí BPTNMT
3 Nâng cao nhận thức và triển khai phác đồ quốc gia về xử trí BPTNMT (nếu
đă có phác đồ)
3 Xác định rơ các nhu cầu nghiên cứu về dịch tễ học cũng như sinh lư bệnh
của BPTNMT
Trước đây, người ta cho rằng người dân
châu Á khó mắc BPTNMT hơn các nước khác - Tổ chức Y tế Thế giới đă dự kiến tỷ lệ
trung b́nh mắc BPTNMT ở khu vực Châu Á - Thái B́nh Dương vào khoảng 3,9% - nhưng
có rất ít số liệu giúp dự đoán tỷ mắc toàn bộ của bệnh này. Một nghiên cứu về tỷ
lệ mắc BPTNMT được tiến hành tại 12 nước châu Á, áp dụng Mô h́nh Tỷ lệ Mắc
BPTNMT, một chương tŕnh vi tính được đánh giá cao, giúp phân tích mối liên quan
về dịch tễ học và tỷ lệ phân bố yếu tố nguy cơ từ đó ước lượng tỷ lệ mắc bệnh.
Có mối tương quan giữa kết quả đo
đạt với sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ ở mỗi nước, trong đó bao gồm mức độ
hút thuốc lá của người dân và t́nh trạng tiếp xúc với ô nhiễm không khí và chất
đốt có nguồn gốc thực vật (VD: củi). Điều đặc biệt chú ư là sự khác biệt giữa
các quốc gia về tỷ lệ mắc bệnh. Ví dụ, Singapore, một nước có tỷ lệ hút thuốc
thấp (15%) có tỷ lệ mắc BPTNMT cũng thấp là 3,5%. Những nước có tỷ lệ hút thuốc
lá cao hơn, chẳng hạn như Philippines với 53% nam giới hút thuốc lá có tỷ lệ
BPTNMT cao hơn nhiều là 6,3%. Những vùng nông thôn phải tiếp xúc với chất đốt
nguồn gốc thực vật cũng có tỷ lệ mắc BPTNMT cao hơn. Những nước như Trung Quốc
và Việt Nam, có khoảng 60-70% dân số sống ở vùng nông thôn nên tỷ lệ mắc BPTNMT
cao, lần lượt là 6,7% và 6,2%.
Hội nghị Bàn tṛn cũng hy vọng rằng những
kết quả về tỷ lệ hiện mắc này sẽ giúp đưa bệnh lên hàng ưu tiên trong các chiến
lược sức khỏe công cộng và nêu bật nhu cầu cần có những phác đồ điều trị hiệu
quả.
Giáo sư Wan-Cheng Tan, Chủ tịch Hội nghị
Bàn tṛn về BPTNMT khu vực châu Á - Thái B́nh Dương, tóm lược các biện pháp cần
tiến hành ở các nước có tỷ lệ bệnh cao: "Một chiến dịch nâng cao ư thức về
BPTNMT dành cho nhân viên y tế, những bệnh nhân BPTNMT và những người hút thuốc
là một bước quan trọng cần thực hiện. Thứ hai, cần phối hợp chặt chẽ với chính
quyền để làm giảm bớt gánh nặng của bệnh này. Cần có những chương tŕnh nhắm vào
các yếu tố nguy cơ như hút thuốc và ô nhiễm không khí. Các quốc gia cần rà soát
lại t́nh h́nh và đánh giá xem liệu có cần phải đề ra luật lệ và làm giảm bớt các
yếu tố nguy cơ, đặc biệt hút thuốc và các tác nhân gây ô nhiễm không khí."
BPTNMT là một bệnh hô hấp mạn tính
được đặc trưng bởi sự tắc nghẽn đường thở diễn tiến chậm và không hồi phục hoàn
toàn. Bệnh bao gồm viêm phế quản co thắt mạn tính và khí phế thũng, gọi chung là
BPTNMT v́ triệu chứng của chúng có thể giống nhau và đa số bệnh nhân bị cả hai
bệnh trạng. Các triệu chứng thường gặp nhất của BPTNMT là khó thở, ho, kḥ khè
và tăng tiết đàm. Các triệu chứng BPTNMT thường tiến triển theo thời gian, dẫn
đến tàn phế và tử vong sớm.
Những người hút thuốc lá có nguy cơ mắc
bệnh cao nhất. Người ta ước tính cứ 5 người hút thuốc có 1 người sẽ mắc bệnh (tỷ
lệ khoảng 10-20%). BPTNMT tiến triển ở những người hút thuốc sau nhiều năm hít
khói với mức độ 1 gói thuốc lá 1 ngày trong 10 năm (10 gói-năm). Bệnh nhân đến
khám bác sĩ lần đầu v́ các triệu chứng, như khó thở, ho và khạc đàm lâu ngày,
th́ lúc đó bệnh thường đă ở giai đoạn nặng. Mặc dù hiện nay BPTNMT thường gặp ở
nam giới hơn, nhưng tỷ lệ mắc bệnh này đang gia tăng ở phụ nữ v́ phụ nữ hút
thuốc nhiều hơn trong những thập kỷ qua và con số tử vong hàng năm v́ BPTNMT ở
phụ nữ chẳng bao lâu sẽ bằng hoặc vượt qua con số tử vong v́ bệnh này ở đàn ông.
Trong một số trường hợp, hầu hết gặp ở các nước đang phát triển, người dân có
thể mắc BPTNMT v́ tiếp xúc lâu ngày với các hạt nhỏ trong không khí và các loại
khói trong nhà và ngoài đường.
Theo copd-roundtable@asia1.com
Hội thảo "Nữ hộ sinh với sáng kiến Sức khỏe Sinh sản"
Ngày 29-31/5/2001, tại TP.Hồ Chí Minh Hội
Nữ Hộ Sinh Việt Nam tổ chức hội thảo "Nữ hộ sinh với sáng kiến Sức khỏe Sinh
sản"
và đại hội Đại biểu toàn quốc
Hội Nữ Hộ Sinh Việt Nam lần thứ II, nhiệm kỳ 2001-2005. Có hơn 600 đại biểu từ
các tỉnh trên toàn quốc về tham dự và nhiều quan khách trong và ngoài nước. Đây
là hội thảo đầu tiên do Hội Nữ Hộ Sinh Việt Nam tổ chức với sự tham gia của nữ
hộ sinh trong nước và nữ hộ sinh của các nước bạn cũng như những cán bộ y tế,
những chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực sức khoẻ sinh sản.
Các hội thảo viên trong nước tham
gia báo cáo nhiều đề tài về vai tṛ của nữ hộ sinh như: Nhiệm vụ của người nữ hộ
sinh trong chăm sóc sức khỏe người mẹ và trẻ sơ sinh; Vai tṛ của hội nữ hộ sinh
ở tuyến cơ sở; Vai tṛ của nữ hộ sinh trong dự pḥng và chăm sóc lây truyền
hiv
từ mẹ sang con.
Nhiều dự án được tŕnh bày như Dự
án "ras 98/p21": Chăm sóc sức khoẻ sinh sản
vị thành niên tại Huế; Chương tŕnh Làm Mẹ An Toàn ở các tỉnh phía nam; Dự? án
Làm mẹ An toàn dựa vào cộng đồng- Kinh nghiệm của jica tại tỉnh Nghệ An; Cán bộ
y tế trung cấp và chăm sóc nạo phá thai. Những dự án này đă góp phần cải thiện
đáng kể sức khoẻ sinh sản của phụ nữ địa phương.
Các chuyên gia quốc tế, các chị em nữ hộ
sinh nước ngoài nói về nghề hộ sinh trên thế giới, và ở những nước phát triển,
đặc biệt nữ hộ sinh Úc giới thiệu chiếc "ghế sinh" để có thể đỡ đẻ với tư thế
ngồi của sản phụ.
Hội Nữ Hộ Sinh Việt Nam là một tổ chức phi
Chính Phủ mới thành lập được năm năm, Hội Nữ Hộ Sinh Việt Nam đă chứng tỏ được
khả năng có thể đóng góp vào sáng kiến Làm mẹ An toàn và chiến lược chăm sóc Sức
khỏe Sinh sản của Nhà nước. Các hoạt động của Hội cũng đă đóng góp vào mọi khía
cạnh khác nhau trong vấn đề cải thiện Sức khỏe Sinh sản ở phụ nữ, đặc biệt là
phụ nữ nghèo ở những miền xa xôi hẻo lánh ít tiếp cận được các dịch vụ y tế.
BS Lê Anh Bá
|