Đặt vấn đề
Từ năm 1980, tại bệnh viện Đa Khoa Cần
Thơ, bướu lành tiền liệt tuyến được điều trị bằng phương pháp mổ hở, trung b́nh
hàng năm khoảng 300 trường hợp. Đến năm 1997, được sự hỗ trợ của hội VMA - Thụy
Sĩ, khoa ngoại bệnh viện Đa Khoa Cần Thơ tiến hành cắt đốt nội soi bướu lành
tiền liệt tuyến. Trong cắt đốt nội soi, biến chứng hàng đầu và đáng lo ngại nhất
là chảy máu.(1,2) Do vậy, khoa Ngoại Niệu đă tiến hành nghiên cứu
những biến chứng do cắt đốt nội soi bướu lành tiền liệt tuyến của 126 trường hợp
từ ngày 23/2/2000 đến 18/10/2000.
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp: nghiên cứu mô tả tiền
cứu cắt đốt nội soi 126 trường hợp bướu lành tiền liệt tuyến.
Đặc điểm bệnh nhân:
1/ Tuổi: thấp nhất 52, cao nhất 96
52 - 60 tuổi:
8 trường hợp
61 - 80 tuổi:
93 trường hợp
81 - 90 tuổi:
23 trường hợp
> 90 tuổi: 2
trường hợp
2/ Cư ngụ:
Trong tỉnh: 90 trường hợp
3/ Lư do vào viện:
- Tiểu khó 80 trường hợp với IPSS thấp
nhất trên 18 điểm.
- Bí tiểu 40 trường hợp.
- Tiểu ra máu 4 trường hợp.
4/ Bàng quang chống đối trước khi cắt đốt
nội soi là 22 trường hợp:(Soi bàng quang 100% trước khi tiến hành cắt đốt nội
soi)
5/ Bệnh lư đi kèm: Tỷ lệ bất thường trên
ECG: 37 trường hợp (3 trường hợp nhồi máu cơ tim cũ > 6 tháng). Huyết áp cao +
bệnh lư tim mạch là 50% các trường hợp.
kết quả
1/ Trọng lượng tiền liệt tuyến cắt được:
< 5 g: 19 trường hợp
5 -14 g: 40 trường hợp
15 - 24 g: 35 trường hợp
25 - 34 g: 14 trường hợp
35 - 44 g: 7 trường hợp
45 - 54 g: 2 trường hợp
> 55 g: 1 trường hợp
Giải phẫu bệnh: tất cả 126 trường hợp là
bướu lành tiền liệt tuyến.
2/ Nước rửa sau khi cắt đốt nội soi: Trong
(79 trường hợp), hồng (39 trường hợp), đỏ tươi (4 trường hợp), có máu cục phải
bơm rửa:? 4 trường hợp.
3/ Thời gian cắt đốt nội soi:
< 15 phút: 4 trường hợp
15 - 29 phút: 22 trường hợp
30 - 44 phút: 34 trường hợp
45 - 59 phút: 29 trường hợp
60 - 74 phút: 24 trường hợp
75 - 90 phút: 8 trường hợp
4/ ?Thời gian rút thông niệu đạo 48 giờ
đến 72 giờ.
5) Thời gian nằm viện trung b́nh: 4 ngày
1 đến 3 ngày:?
4 trường hợp
4 đến 7 ngày:?
120 trường hợp
Biến chứng:
1/ Bí tiểu sau rút thông niệu đạo: 5
trường hợp (do miếng thịt cắt)
2/ Từ hội chứng tắc nghẽn chuyển sang hội
chứng kích thích: 40 trường hợp
3/ Tiểu không kiểm soát: 15 trường
hợp, bao gồm 12 trường hợp sớm (3 tuần lễ đầu) và 3 trường hợp muộn (sau 3
tháng).
4/ Hẹp niệu đạo: 15 trường hợp, gồm hẹp
miệng sáo 9 trường hợp và hẹp niệu đạo tầng sinh môn 6 trường hợp.
?Bàn luận:
Trước đây chảy máu là biến chứng hàng đầu
trong cắt đốt nội soi, nhưng trong nghiên cứu này chảy máu xếp vào hàng thứ 3
sau hẹp niệu đạo và tiểu không kiểm soát.
Về biến chứng hẹp niệu đạo:
Sau 9 trường hợp hẹp miệng lỗ sáo, biến
chứng được khắc phục bằng cách không kéo cột sau mổ và khi bệnh nhân được chuyển
pḥng nước tiểu phải trong. Do đó, trong gần 90 trường hợp về sau không c̣n t́nh
trạng hẹp miệng lỗ sáo nữa. Trong trường hợp hẹp niệu đạo tầng sinh môn, sử dụng
máy cắt hai ṇng, ṇng ngoài cố định, ṇng trong xoay theo ư muốn để làm giảm
t́nh trạng sang chấn niệu đạo. Theo Nguyễn Bửu Triều và cộng sự, biến chứng hẹp
niệu đạo là 1,5% trên 978 trường hợp.(3) Nguyễn Công B́nh báo cáo có
?5/212 trường hợp (2,3%).(4)
Về tiểu không kiểm soát
Trong 12 trường hợp tiểu không kiểm soát
vào 3 tuần lễ đầu có nguyên nhân:
- 12 trường hợp rơi vào nhóm bàng quang
chống đối trước cắt đốt nội soi (dă soi bàng quang trước cắt).
- Bản thân bệnh nhân mang cùng lúc hai
bệnh lư, vừa tắc nghẽn vừa kích thích, do đó sau khi giải quyết hội chứng tắc
nghẽn xong, chuyển sang hội chứng kích thích 40%, hiện tượng này xảy ra 3 tuần
lễ đầu và một bệnh nhân xảy ra vào tuần lễ thứ tư.
- Cắt vượt qua một phần ụ núi. Ở mốc 6 giờ
có ụ núi làm chuẩn, nhưng ở điểm 12 giờ và hai thành bên không có mốc chuẩn nên
dễ cắt quá đà và hậu quả là tiểu không kiểm soát.
C̣n 3? trường hợp tiểu không kiểm soát sau
3 tháng: 1 trường hợp do rối loạn tâm thần, 1 trường hợp lăo suy và bàng quang
chống đối nặng, 1 trường hợp do tổn thương cơ thắt dưới ụ núi. Để khắc phục điểm
yếu này, khi cắt đốt bướu tiền liệt tuyến không được cắt quá ụ núi (chỉ ngang
đầu ụ núi). Khi soi bàng quang phải giải thích được t́nh trạng cũng như tiên
lượng sau cắt đốt. Đánh dấu trước ụ núi ở điểm 12 giờ và hai thành bên.
Về chảy máu:
Có 5 trường hợp chảy máu (4%), trong đó
chỉ 1 trường hợp được truyền máu 2 đơn vị máu, c̣n lại truyền mỗi trường hợp
truyền 1 đơn vị máu. Biện pháp khắc phục chảy? máu:
- Trong quá tŕnh cắt thấy chỗ chảy máu là
phải cầm ngay, sau đó mới cắt tiếp, cắt tới đâu cầm máu tới đó.
- Lưu ư điểm 4 giờ và điểm 7 giờ v́ nơi
đây có 2 nhánh mạch máu vào tiền liệt tuyến .
- Đốt cầm máu thật kỹ trước khi chuyển
bệnh nhân sang pḥng hậu phẫu (nước tiểu phải trong).
- Không được kéo nơ (traction).
Tỷ lệ chảy máu trong khi mổ và sau mổ của
Nguyễn Bửu Triều và CS(3) theo thứ tự là 0,6% là 2,6%, của
Nguyễn Công B́nh và CS(4) là 0,4% và 2,8% và của Nguyễn Phú Việt(5)
là 2,7% chảy máu sau mổ.
Về những biến chứng khác:
Không trường hợp nào bị nhiễm
trùng sau cắt. Trong loạt này, bệnh nhân được điều trị cephalosporin thế hệ III
pḥng ngừa: 1 liều trong khi cắt và 2 liều c̣n lại sau cắt cách 8 tiếng đồng hồ.
Một trường hợp viêm tinh hoàn được điều
trị kháng sinh sau 2 tuần t́nh trạng bệnh nhân trở nên ổn định. Nhiễm trùng này
là do nhiễm trùng ngược ḍng từ bàng quang vào thượng tinh hoàn, hiện tượng này
xảy ra vào tuần thứ 3 và nó lui dần vào tuần thứ 5. Kháng sinh được dùng theo
kháng sinh đồ.
Không có trường hợp nào bị biến chứng
thủng sang trực tràng hay vào phúc mạc hoặc hai bên hốc chậu.
Không có trường hợp nào bị ngộ độc nước.
Dung dịch nước dùng là sorbitol 3,3%, thời gian dùng dưới 1 giờ 30 phút, số
lượng trung b́nh dùng là 20 lít sorbitol 3,3%.
Kết luận:
Cắt đốt nội soi bướu lành tiền liệt tuyến
là phương pháp đơn giản, hậu phẫu nhẹ nhàng, biến chứng nhẹ và thời gian nằm
viện ngắn thích hợp cho người lớn tuổi, nhất là người có nhiều bệnh lư nội khoa
đi kèm.
summary
COMPLICATIONS OF THE ENDOSCOPIC RESECTION OF BENIGN
HYPERTROPHY OF THE PROSTATE: A REPORT OF 126 CASES AT THE CAN THO GENERAL
HOSPITAL
Endoscopic surgery of benign hypertrophy of the prostate
(BHP) has been applied in the General hospital of Can Tho since 1997. From
February to December 2000, a total of 126 cases of BHP were treated by this
procedure at the Urology Department of Can Tho General Hospital. This paper
emphasizes in the post-operative complications of BHP endoscopic resection.
Before surgery, micturation disorders (dysuria, urinary
retention, and hematuria) were chief complaints commonly seen in all of these
126 male patients (age range: 52-96 years old). The duration of surgical
endoscopic resection ranged from <15 min to 90 min. The mean hospital stay was 4
days. Procedure-related complications observed in decreasing order were stenosis
of the meatus or perineal urethra (15 cases), incontinence (15 cases), and
transfusion-required bleeding (5 cases). In addition, there were 5 cases of
urinary retention after the withdrawal of urethra catheter. Orchitis, probably
due to infection from the bladder, had been noted in one case, which was
resolved after 2 weeks of antibiotic treatment.
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Văn Sáng. Bài giảng bệnh học Niệu Khoa. Nhà xuất bản
Mũi Cà Mau, 1998
2. ElMalik-EM; Ibrahim-AI; Gahli-AM; Saad-MS; Bahar-YM. Risk
factors in prostatectomy bleeding: preoperative urinary infection is the only
reversible factor Eur-Urol. 2000 Feb; 37(2): 199-204 (Medline)
3. Nguyễn Bửu Triều, Nguyễn Kỳ, Nguyễn Phương Hồng, Vũ
Nguyễn Khải ca Nguyễn đức Nhuận. Kết quả điều trị u ph́ đại lành tính tuyến tiền
liệt bằng cắt nội soi trong 15 năm (6/1981-6/1996) tại BV Việt Đức. Y Học Việt
Nam số 4, 5, 6 /2001, chuyên đề Tiết Niệu- Thận học, trang 5-11.
4. Nguyễn Công B́nh, Bùi Minh Tân, Dương Đ́nh Hưng. Kết quả
điều trị u ph́ lành tính tuyến tiền liệt bằng phương pháp cắt nội soi tại BV
Việt Tiệp, Hải Pḥng từ 1998-2000. Y Học Việt Nam số 4, 5, 6 /2001, chuyên đề
Tiết Niệu- Thận học, trang 25-28.
5. Nguyễn Phú Việt, Nguyễn Đức Tụng, Vũ Văn Kiên. Cắt nội
soi u tuyến tiền liệt: kết quả bước đầu tại bệnh viện 103. Y Học Việt Nam số 4,
5, 6 /2001, chuyên đề Tiết Niệu- Thận học, trang 19-24.