Trong điều kiện chăm sóc sức khỏe
ban đầu, việc sử dụng kháng sinh thường dựa vào kinh nghiệm. Tuy vậy, muốn có
hiệu quả cần phải nắm vững ba yếu tố: (1) bản chất của nhiễm khuẩn, (2) vi khuẩn
nghi ngờ là nguyên nhân gây bệnh, (3) chọn dùng kháng sinh với liều thích hợp.
Kháng sinh đã được sử dụng hơn nửa thế kỷ nhưng thời gian điều trị tối ưu, dựa
trên bằng chứng khoa học, chỉ mới được xác định ở một số ít bệnh nhiễm khuẩn
(viêm niệu đạo do lậu cầu, lao phổi, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, nhiễm trùng
niệu không biến chứng.). Thời gian điều trị càng lâu, khả năng tuân thủ dùng
thuốc càng kém, nhất là đối với những thuốc kém được dung nạp. Vì thế, trong một
số trường hợp, liệu pháp kháng sinh ngắn ngày (KSNN) tỏ ra có nhiều ưu điểm như
tuân thủ tốt hơn, khả năng tác dụng phụ ít hơn, nguy cơ xuất hiện kháng thuốc
thấp hơn, và tất nhiên chi phí điều trị cũng rẻ hơn.
Ðối với các bệnh nhiễm khuẩn thường gặp,
thời gian điều trị kháng sinh trung bình là từ 7 đến 10 ngày. Ðiều trị ngắn
ngày, theo đề nghị của Branthwaite và Pechère (1), là không quá 3
ngày. Tuy vậy, đôi khi thời gian điều trị phải cần đến 5 ngày như trong một số
nhiễm khuẩn tai-mũi-họng.
Yếu tố quan trọng nhất để xem xét việc
dùng KSNN là
hiệu quả diệt khuẩn. Trên lý thuyết, một điều trị hữu hiệu phải loại trừ
được vi khuẩn gây bệnh, được chứng minh bằng xét nghiệm vi khuẩn học. Trong thực
tế, không phải lúc nào cũng thực hiện được điều đó. Vì vậy, bác sĩ thực hành
thường lấy tiêu chuẩn lui bệnh hoặc cải thiện lâm sàng để đánh giá hiệu quả.
Nhiều nghiên cứu? cho thấy sự thất bại điều trị có tương quan tuyến tính với tỉ
lệ không diệt sạch vi khuẩn.(2) Việc lượng hóa tỉ lệ diệt khuẩn
thường dựa vào tính chất dược động học và dược lực học của kháng sinh, mà thông
số cơ bản nhất để xác định hoạt lực in vitro là nồng độ ức chế tối thiểu
(MIC). Ðối với nhóm
b-lactam, hiệu quả diệt
khuẩn phụ thuộc vào thời gian, được đo bằng tỉ lệ phần trăm thời gian mà nồng độ
thuốc ở nơi nhiễm khuẩn vượt hơn MIC (vào khoảng 40% của thời gian để diệt
khuẩn).(3) Ðối với các nhóm quinolon và aminoglycosid, hiệu quả diệt
khuẩn phụ thuộc nồng độ thuốc. Trường hợp này, thông số được sử dụng là tỉ số
diện tích dưới đường cong nồng độ theo thời gian (AUC)/MIC, và tỉ số nồng độ
đỉnh của kháng sinh tại nơi nhiễm khuẩn so với MIC (còn gọi là tỉ số trị liệu).
Những thông số trên không tính đến thời gian dùng thuốc nhưng những nghiên cứu
thực nghiệm gợi ý rằng chúng vẫn thích hợp cho liệu pháp ngắn ngày.
Dưới đây là một vài ví dụ về liệu pháp
KSNN có hiệu quả. Một số bệnh nhiễm khuẩn có thể điều trị bằng một liều kháng
sinh duy nhất. Thuốc dùng thường là loại có tác dụng kéo dài. Penicillin (PNC)
tác dụng kéo dài tỏ ra có hiệu quả trong viêm họng do liên cầu khuẩn. Một liều
duy nhất PNC G tiêm bắp có thể cho nồng độ trong huyết tương cao hơn MIC trong 2
tuần, đủ để diệt được tác nhân gây bệnh là Streptococcus pyogenes.(4)
Một ví dụ khác là nhiễm lậu cầu N. gonorrhoeae không biến chứng, có thể
điều trị bằng một liều duy nhất kháng sinh có tỉ số trị liệu cao như
cephalosporin và fluoroquinolon dạng uống. Một ví dụ thứ ba là viêm bàng quang
nhiễm khuẩn ở phụ nữ trẻ, thường do E. coli gây ra, có thể điều trị với
một liều duy nhất kháng sinh có hoạt lực với E. coli (trừ ampi-cillin),
trong trường hợp mới mắc (không quá 7 ngày) và không có nhiễm khuẩn sâu.(5)
Ða số liệu pháp KSNN được đề nghị hiện nay
là dựa vào các nghiên cứu so sánh có đối chứng và trên BN nhiễm khuẩn hô hấp cấp
ở trẻ em và người lớn.
Viêm tai giữa CẤP
Viêm tai giữa (VTG) chủ yếu xảy ra ở trẻ
em dưới 3 tuổi. Tác nhân gây bệnh thường gặp là Streptococcus pneumoniae,
Haemophilus influenzae, Moraxella catar-rhalis; đôi khi có thể gặp
Steptococcus pyogenes hoặc Staphylococcus aureus. Nhiều trường hợp
bệnh có thể tự khỏi, do đó việc dùng kháng sinh vẫn còn bàn cãi. Tuy vậy, vì
nguy cơ biến chứng (viêm màng não, viêm xương chũm) nên kháng sinh được khuyến
nghị.
Một tổng phân tích của Kozyrsky và cs,(6)
gồm 32 nghiên cứu cho thấy trẻ bị VTG không biến chứng có thể được điều trị hữu
hiệu với một liệu trình 5 ngày cefuroxim axetil, liều 8 mg/kg/ngày. Trong một
loạt các nghiên cứu so sánh liệu trình 5 ngày với các cepha-losporin khác nhau
và liệu trình tiêu chuẩn 8-10 ngày bằng đường uống cũng cho thấy hữu hiệu của
liệu trình ngắn ngày (Bảng 1); trừ trường hợp màng nhĩ bị thủng. Tiêm một liều
duy nhất ceftriaxon, cephalosporin thế hệ ba, có hiệu quả tương tự như dùng
kháng sinh uống 7-10 ngày trong VTG không biến chứng.(7)
Tuy vậy, nên lưu ý rằng một số nghiên cứu
được nêu trên không có thiết kế mù đôi. Mặt khác, chỉ có vài nghiên cứu, chứ
không phải tất cả, có cấy dịch tai giữa để xác định tác nhân gây bệnh. Ðể khắc
phục những thiếu sót đó, mới đây một thử nghiệm trên 2200 trẻ em VTG,(8)
được cho dùng ngẫu nhiên các phác đồ kháng sinh 5 ngày, 7 ngày hoặc 10 ngày. Kết
quả cho thấy giữa ba nhóm không có sự khác biệt về tỉ lệ khỏi bệnh lâm sàng và
tỉ lệ khỏi lâm sàng cộng với cải thiện triệu chứng, tuy vậy trẻ dưới 2 tuổi có
tỉ lệ khỏi bệnh thấp hơn các nhóm tuổi khác.
VIÊM HỌNG
Ở trẻ em, 80% số trường hợp viêm họng là
do Streptococcus pyogenes (Gwaltney, 1995), với các biến chứng đáng ngại
như thấp tim, viêm vi cầu thận cấp có thể xảy ra ở trẻ >5 tuổi. Vì thế, kháng
sinh có thể được chỉ định để ngừa các biến chứng trên hoặc biến chứng do nung mủ
tại chỗ. Trường hợp này có thể tiêm bắp một liều duy nhất benzathin PNC G
(4) thay vì uống PNC V trong 10 ngày. Từ khi có những
b-lactam mới và
cephalosporin dạng uống, ngày càng có xu hướng điều trị viêm họng do liên cầu
khuẩn tan huyết
b nhóm A với một liệu
trình 5 ngày uống cephalo-sporin. Bảng 2 trình bày hiệu quả điều trị của các
phác đồ KSNN khác nhau trong viêm họng do liên cầu khuẩn.
VIÊM XOANG CẤP
Ðối với nhiễm
khuẩn cấp các xoang vùng sọ-mặt, hầu hết các tài liệu giáo khoa đều khuyến nghị
dùng kháng sinh trong 3 tuần. Tuy vậy, y văn đã công bố không có số liệu chứng
minh sự hơn hẳn của liệu trình 21 ngày so với liệu trình 14 hoặc 10 ngày. Trong
một tổng quan gần đây, Pichichero và cộng sự(9)
đã xem lại 6 nghiên cứu đánh giá hiệu quả của liệu pháp KSNN trong viêm xoang
cấp. Nói chung, có sự khác biệt rất nhỏ giữa liệu trình 3-5 ngày so với liệu
trình 8-10 ngày. Gần đây hơn, hiệu quả của điều trị cefuroxim axetil 5 ngày và
10 ngày đã được so sánh trên 400 bệnh nhân viêm xoang cấp (10). Kết
quả cho thấy tỉ lệ khỏi bệnh lâm sàng của hai liệu trình này, theo thứ tự, khi
kết thúc điều trị là 85% và 87%, và khi theo dõi là 72% và 72%. Cho đến nay, đa
số các nghiên cứu dùng kháng sinh trong viêm xoang cấp chủ yếu thực hiện trên
các trường hợp viêm xoang hàm; do đó hiệu quả điều trị ở xoang trán, xoang sàng
và xoang bướm chưa được rõ. Ngoài ra, các nghiên cứu đã công bố không xét nghiệm
vi khuẩn học dịch hút xoang và it có đối tượng trẻ em được nhận vào nghiên cứu.?
ÐỢT KỊCH PHÁT VIÊM PHẾ QUẢN MẠN
Các đợt kịch phát cấp trong viêm phế quản
(VPQ) mạn chủ yếu là do S. pneumoniae và H. influenzae. Thông thường
những đợt kịch phát này được điều trị bằng kháng sinh phổ rộng trong 7-10 ngày.
Từ năm 1995, đã có những nghiên cứu so sánh về liệu trình KSNN, chủ yếu sử dụng
cefuroxim axetil và amoxycillin/clavulanat hoặc clarithromycin. Nghiên cứu của
Henry và cộng sự (11,12) đã so sánh hiệu quả lâm sàng và vi khuẩn học
của các phác đồ cefuroxim axetil 250 mg
? 2 lần/ngày trong 5 hoặc 10
ngày (mỗi nhóm liệu trình có 177 bệnh nhân) hoặc amoxycillin/clavulanat 500 mg
? 3 lần/ngày trong 10 ngày
(n=183). Các tác giả nhận thấy tỉ lệ sạch khuẩn ở ba nhóm, theo thứ tự, là 87%,
91% và 86%. Về hiệu quả lâm sàng, cũng theo thứ tự đó, kết quả đạt được là 82%,
86% và 83%. Giữa ba nhóm có sự khác biệt có ý nghĩa về xuất độ của các tác dụng
phụ liên quan với thuốc: 37% ở nhóm dùng amoxycillin/clavulanat, 19% và 15% ở
nhóm dùng cefuroxim axetil 5 ngày và 10 ngày, theo thứ tự.
Một nghiên cứu khác(13) so sánh
liệu trình cefuroxim axetil 250 mg ?
2 lần/ngày trong 5 ngày với clarithro-mycin 250 mg
?
2 lần/ngày trong 7 ngày cho thấy hai phác đồ này có hiệu quả như nhau về tỉ lệ
khỏi bệnh và tỉ lệ tái phát. Tác dụng phụ tiêu hóa xảy ra ít hơn ở nhóm dùng
phác đồ dùng KSNN hơn.?????
? VIÊM PHỔI MẮC PHẢI TRONG CỘNG ÐỒNG
Trong vòng 10 năm qua, những nghiên cứu
tiền cứu đã cung cấp nhiều số liệu mà dựa vào đó để đề ra cách điều trị viêm
phổi mắc phải trong cộng đồng (VPMPCÐ), bao gồm quyết định khi nào thì nhập
viện, thời điểm tối ưu để chuyển từ điều trị bằng đường tĩnh mạch sang thuốc
uống và khi nào cho bệnh nhân ra viện. Xu thế chung hiện nay là điều trị kháng
sinh cephalosporin dạng tiêm trong 2-3 ngày, sau đó chuyển sang dạng uống. Tỉ lệ
thành công trên lâm sàng là 92,6% ở trẻ em và 96,4% ở người lớn.
Gần đây, Siegel và cộng sự (14)
đã đề xuất một mô hình điều trị mới đối với VPMPCÐ dùng ở phòng cấp cứu, phòng
khám và nhà điều dưỡng. Bệnh nhân chỉ được dùng một liều duy nhất ceftriaxon 1 g
bằng đường tĩnh mạch, 8 giờ sau bắt đầu dùng cefuroxim axetil 500 mg
? 2 lần/ngày trong 7 ngày. Các tác giả nhận thấy tỉ lệ
khỏi bệnh của những bệnh nhân này không khác với một nhóm so sánh được điều trị
đường tĩnh mạch trong 2 ngày (90,0% so với 89,3%). Yếu tố thành công của phác đồ
này là do sớm sử dụng kháng sinh phổ rộng bằng đường tĩnh mach, thay vì dùng
nhiều ngày; và một điểm quan trọng là kháng sinh đường uống phải đạt nồng độ
thích hợp tại vị trí nhiễm khuẩn, cao hơn MIC đối với các tác nhân gây bệnh
thường gặp trong VPMPCÐ. Nồng độ đó tùy thuộc vào tình trạng tưới máu của nhu mô
phổi. Vì vậy, những bệnh nhân bị viêm phổi hoại tử, áp-xe phổi, nhiễm khuẩn màng
phổi sẽ không thích hợp để chuyển nhanh điều trị từ đường tĩnh mạch sang đường
uống. Nói chung, đối với bệnh nhân VPMPCÐ có độ nặng vừa phải, phải cần một liệu
trình cephalosporin 7 ngày, trong đó 1-2 ngày đầu cần dùng thuốc đường tĩnh mạch
(cefuroxim 750 mg
?
3 lần/ngày), sau đó chuyển sang đường uống (cefuroxim axetil 500 mg
? 2 lần/ngày).
|
|
|
Viêm phổi mắc phải trong cộng đổng
|
|
|
|
 
|
Nguy cơ thấp
|
|
Nguy cơ cao
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Viêm phổi nguy cơ cao
? Dùng kháng sinh TM
? Nhập viện
|
|
|
|
Viêm phổi nguy cơ thấp
? Dùng kháng sinh uống
? Ðiều trị ngoại trú
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Viêm phổi biến chứng
? Ðiều trị kháng sinh TM
kéo dài
|
|
|
Viêm phổi không ổn định
? Dùng kháng sinh TM
? Theo dõi
|
|
|

|
Tiếp tục không ổn định
|
24 - 72 giờ
|
|
|
 
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Ổn định lâm sàng
? Chuyển sớm sang dùng
kháng sinh uống
? Ra viện
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Hình 1. Phân loại viêm phổi MPCÐ để xử trí
Spiegel và
cộng sự còn đề xuất một sơ đồ phân loại VPMPCÐ (Hình 1) để giúp thầy thuốc phát
hiện được những bệnh nhân nào có thể thích hợp để dùng KSNN bằng đường tĩnh mạch
và nhanh chóng chuyển sang thuốc uống. Theo đó, khoảng 85% bệnh nhân VPMPCÐ có
nguy cơ thấp và có thể điều trị bằng kháng sinh tại nhà. Chỉ 15% cần nhập viện
(bệnh nhân có nguy cơ cao) và số này có thể xử trí tùy theo có hay không có biến
chứng như trong Hình 1. Bệnh nhân có biến chứng thường nhiễm khuẩn rộng, lan
khỏi phổi và có thể dẫn đến sốc nhiễm độc với nguy cơ tử vong rất cao. Bệnh nhân
không ổn định chiếm đa số trong những bệnh nhân nhập viện, có thể có bệnh khác
kèm theo hoặc có những bất thường lâm sàng hoặc cận lâm sàng khác. Những bệnh
nhân này có thể chuyển từ điều trị kháng sinh tĩnh mạch sang dùng kháng sinh
uống sau 24-72 giờ.??
SUMMARY
AN OVERVIEW OF THE ANTIBIOTIC SHORT-COURSE THERAPY IN
COMMON E.N.T AND RESPIRATORY TRACT INFECTIONS
The optimal duration of an antibiotic therapy is
well-defined in a few of infections, but for majority of other infections it
remains largely under-documented. In daily practice, the empirical use of
antibotics is rather be a short-course therapy, in view of its
cost-effectiveness, for some common E.N.T. and respiratory tract infections.
Oral single dose of an antibiotic with high therapeutic ratio (cephalosporins,
fluoroquinolones) has shown its efficacy in uncomplicated gonococcal urethritis,
bacterial cystitis of young women. Short-course therapy may be beneficial in
other circumstances. These include acute otitis media, pharyngitis, acute
maxillary sinusitis, acute exacerbation of chronic bronchitis, and in
community-acquired pneumonia (CAP) in a lesser extent. The efficacy of a 3-5 day
course of new b-lactams or new cephalosporins has been demonstrated in numerous
clinical trials. A 5 day-course of an oral cephalosporin may cure 90% of
streptococcal pharyngitis, 90-100% of acute otitis media in children without
tympanic perforation, 85% of acute maxillary sinusitis. In the exacerbation of
chronic bronchitis, cefuroxime axetil and amoxycillin/clavulanate 5 day-courses
have similar clinical efficacy but a lower rates of side-effects and relapses
are observed with the former regimen. In CAP, 85% of patients may be treated at
home by an oral cephalosporin given in longer duration (7 days). The remainder
(high risk or unstable/complicated CAP) may need hospitalization for IV
cephalosporin administration during the first 24-72 hours, and then could be
shifted to oral route.?????????
TÀI LIỆU THAM KHẢO??????
1.
Branthwaite A, Pechère J-C. Pan-European survey of patients? attitude to
antibiotics and antibiotic use. J Int Med Res 1996;24:229-238.
2.
Pechère J-C. Modelling and predicting clinical outcomes of antibiotic
therapy. Inf Med 1998; 15 (suppl E):46-54.
3.
Craig WA. Choosing an antibiotic on the basis of pharma-codynamics. Ear
Nose Throat J 1998; 77 (suppl 6):2-11.
4.
Kaplan EN. Pharmacokinetics of benzathine penicillin G: serum levels
during 28 days after intramuscular injections of 1.200.000 units. J Pediatr
1989;115:146-150.
5.
Bailey RR. Management of lower urinary tract infections. Drugs 1993; 45
(suppl 3):139-144.
6.
Kozyrsky AL, Hildes-Ripstein GE, Longstaffe SE, et al. Treatment of acute
otitis media with the shortened course of antibiotics: a meta-analysis. JAMA
1998: 279:1736-1742.
7.
Cohen R, Navel M, Grunberg J. Pediatr Infect Dis J. 1999;18:403-109.??
8.
Pichichero ME,? Marsocci SM, Murphy ML, et al. A prospective study of 5-,
7-, and 10-day antibiotic treatment for acute aotitis media. Otolaryngol Head
Neck Surg 2000, in press.
9.
Pichichero ME, Cohen R. Shortened course antibiotic therapy for acute
otitis media, sinusitis and tonsillopharyngitis. Pediat Inf Dis J
1997;16:680-695.
10.
Dubreuil C, Géhanno P, Goldstein F, et al. Cefuroxime axetil (CAE) 5 days versus
10 days in the treatment of acutr bacterial sinusitis in adult outpatients.
(Abstract 174). 39th Interscience Conference on Antimicrobial Agents
and Chemotherapy, San Franciscom CA 1999.
11.
Henry D, Ruoff GE, Rhudy J, et al. Clinical comparison of cefuroxime axetil and
amoxicillin/clavulanate in the treatment of patients with secondary bacterial
infections of acute bronchitis. Clin Ther 1995;17:681-874.
12.
Henry D, Ruoff GE, Rhudy J, et al. Effectiveness of short-course therapy (5
days) with cefuroxime axetil in the treatment of secondary bacterial infections
of acute bronchitis. Antimicrob Agents Chemother 1995;39:2528-34.
13.
Langan C, Clecner B, Cazzola CM, et al. Short-course cefuroxime axetil therapy
in the treatment of acute exacerbations of chronic bronchitis. Int J Clin Pract
1998;52:289-297.
14.
Siegel RE, Alicea M, Lee A, et al. The use of one dose IV therapy prior to oral
switch for hospitalized patients with community-acquired pneumonia. Am J Crit
Care Med. 1999;107:5-12.