WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

B́nh luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

VÀI NHẬN ĐỊNH VỀ ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG CHẤN THƯƠNG SỌ NĂO Ở NGƯỜI LỚN VÀ TRẺ CON

Phùng Văn Đức và cộng sự*

 


NHẬP ĐỀ:

Hiện nay, có nhiều tiến bộ trong giải quyết cấp cứu chấn thương sọ năo. Tỉ lệ bệnh nhân được mổ và cứu sống nhiều hơn trước. V́ vậy, cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng sống sau chấn thương.

Di chứng chấn thương sọ năo tùy thuộc vào loại, vị trí và mức độ nặng của chấn thương, có thể gặp các dấu thiếu sót thần kinh trong nhiều chức năng như: vận động, cảm giác, tiếp xúc, nhận thức, cá tính, xúc cảm v.v.

ĐỘNG KINH SAU CHẤN THƯƠNG

Trong một số trường hợp, động kinh sau chấn thương có thể đưa đến tử vong. V́ vậy, có xu hướng pḥng ngừa bằng cách dùng phenytoin liền sau chấn thương. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy cách ngừa này cũng không hiệu quả.(1)

Các yếu tố nguy cơ gây động kinh gồm có mảnh kim khí c̣n sót lại trong năo. Thể tích năo mất nhiều hơn 75 ml đối với máu tụ trong năo, mất vận ngôn, điện năo đồ có sóng động kinh.

Nguy cơ động kinh sau chấn thương giảm dần với thời gian đối với các vết thương sọ năo do hỏa khí cũng như chấn thương sọ năo (không do hỏa khí).

Hiện nay, về điều trị, các loại thuốc thường dùng là phenytoin, carbamazepin và valproic acid. Không nên dùng phenobarbital v́ có thể ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi.

Dùng carbamazepin hoặc valproic acid có lợi v́ kiểm soát được cơn động kinh. Ít tác dụng phụ, ít tương tác thuốc, có thể điều chỉnh các rối loạn hành vi.

Một số thuốc hỗ trợ có ích trong điều trị động kinh toàn thể và cục bộ là clonazepam và benzodiazepin chorazepat.

Diazepam và lorazepam là các thuốc chính được ưa chuộng trong các cơn động kinh cấp và t́nh trạng động kinh liên tục.

ĐẦU NƯỚC SAU- CHẤN THƯƠNG

Đầu nước sau chấn thương là một hội chứng gồm có: rối loạn tâm thần, đi lại không vững và tiểu không tự chủ. Hội chứng này cần được chẩn đoán sớm v́ có thể điều trị được.

Cần nghĩ đến biến chứng này trong các trường hợp xuất huyết trong sọ, nhất là xuất huyết dưới nhện và trong năo thất. Sau xuất huyết, chất fibrin đọng lại ở các hạt Pacchioni, cản trở sự hấp thụ của dịch năo tủy.(2)

Dẫn lưu dịch năo tủy xuống ổ bụng là một phương pháp điều trị tương đối đơn giản và hiệu quả, nhất là trong điều chỉnh các rối loạn vận động, mặc dù đôi khi cũng có biến chứng.

TỤ DỊCH DƯỚI MÀNG CỨNG SAu CHẤN THƯƠNG SỌ NĂO

Ở trẻ con - đặc biệt ở trẻ dưới 2 tuổi - năo bộ chưa hoàn toàn phát triển dễ bị đè nén (c̣n thiếu chất miêlin), khoang dưới nhện rộng, các tĩnh mạch thông nối khoang dưới nhện với xoang tĩnh mạch dài. Sau chấn thương sọ năo, màng nhện có thể bị rách, dịch năo tủy thoát ra ngoài khoang dưới nhện và tụ ở dưới màng cứng cần dẫn lưu dịch tụ dưới màng cứng ở hai bên xuống ổ bụng, nếu các dấu hiệu lâm sàng xấu dần. Nếu để lâu ngày, không điều trị, đầu sẽ to dần, năo bộ teo lại và có thể vôi hóa ở nhiều điểm trong năo.(3)

ĐIỀU TRỊ T̀NH TRẠNG CO CỨNG:

Di chứng co cứng là một rối loạn vận động thay đổi với thời gian, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như đau nhức và các bện lư khác. Có nhiều phương pháp trị liệu như phẫu thuật, bó bột, bó nẹp, vật lư trị liệu, phong bế thần kinh ngoại biên, phá hủy trung tâm thần kinh và dùng thuốc.

Các thuốc thường dùng điều trị co cứng:

- Dantrolen---- 50 - 400 mg / mỗi ngày

- Baclofen----------------------- 10 - 80 mg / mỗi ngày

- Diazepam--------------------- 4 - 30 mg / mỗi ngày

CỐT HOÁ QUANH KHỚP SAI CHỖ:

Ở bệnh nhân bị chấn thương sọ năo, các xương găy lành mau hơn b́nh thường.

Về lâm sàng, cốt hóa quanh khớp có thể giả u (khối cứng ở vùng khớp), giả viêm khớp (đau, nóng, sưng phù), cứng khớp. Cốt hóa quanh khớp thường gặp ở những khớp lớn như khớp vai, háng, khuỷu mặc dù đôi khi cột sống cổ, cổ tay và các ngón tay cũng có thể bị cốt hóa.(4)

Nguyên nhân của cốt hóa quanh khớp có thể do rối loạn nội tiết.

Để pḥng ngừa cốt hóa quanh khớp, có thể dùng disodium etidronat hoặc các loại thuốc chống viêm không phải steroids hoặc apirin (ở trẻ con).

Thông thường, 12 đến 14 tháng sau chấn thương phẫu thuật lấy bỏ xương mới giúp bệnh nhân hồi phục nhanh hơn.

RỐI LOẠN NHẬN THỨC

Rối loạn nhận thức có thể là yếu tố tạo ra mất ngủ, thái độ hung hăn và những vấn đề xúc cảm, t́nh cảm.

Các nghiên cức cho thấy có sự mất cân đối và nhiều thiếu thốn trong hệ thống các chất dopamin, serotonin, norepinephrin.(5)

Thông thường, thời gian hôn mê không liên quan nhiều với các các rối loạn tâm thần sau chấn thương.

Các chấn thương của bán cầu năo không trội có khuynh hướng ảnh hưởng đến tâm tính.

Dược trị liệu:

Để cải thiện t́nh trạng nhận thức, có thể bắt đàu dùng amantadin hoặc bromocriptin liều thấp, rồi tăng- dần (amantadin 400 mg / mỗi ngày, bromocriptin 75 - 100 mg / mỗi ngày). Tuỳ theo đáp ứng của bệnh nhân ta có thể cho dùng thêm Levodopa - Carbidopa (tối đa 25 - 250 mg).

Có thể cho uống physostigmin (Tacrine) để giúp trí nhớ phục hồi và amitritylin để điều trị mất ngủ.

Đối với bệnh nhân có nguy cơ hại người khác hoặc tự hại ḿnh, nên dùng các thuốc an thần như benzodiazepin, clonidin hoặc codein (liều thấp).

Các bện nhân ưu tư ra mồ hôi nhiều, run, tim đập nhanh thường đáp ứng với thuốc cvhẹn beta (Bupiron).

Đối với các gia đ́nh có trẻ con bị chấn thương sọ năo nặng hoặc vừa, ta cần bàn bạc để giúp cha mẹ biết trước và thông cảm các thiếu sót thần kinh tâm trí của trẻ sau chấn thương. Nếu gia đ́nh không vượt qua được khó khăn, sự phục hồi tâm trí của trẻ sẽ gặp nhiều nguy cơ.

KẾT LUẬN

Tóm lại, để am hiểu và vạch ra một kế hoạch tốt trong điều trị các di chứng thần kinh tâm thần sau chấn thương, cần có sự tham dự và góp sức của nhiều chuyên khoa lâm sàng và cận lâm sàng.

Di chứng tổn thương năo do chấn thương đặt ra nhiều vấn đề cho gia đ́nh, xă hội. V́ vậy, trong tương lai cần tiếp tục nghiên cứu các yếu tố liên quan đến nuôi dưỡng, phục hồi thần kinh tâm trí sau chấn thương và nhất là vấn đế ghép mô thần kinh, một vấn đế có tính chiến lược quan trọng.

TÓM TẮT

Hiện nay, có nhiều tiến bộ trong giải quyết cấp cứu chấn thương sọ năo. Tỉ lệ bệnh nhân được mổ và cứu sống nhiều hơn trước. V́ vậy, cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng sống của các bệnh nhân này, và nhất là điều trị di chứng chấn thương sọ năo nặng.

Trong báo cáo này, chúng tôi bàn luận về điều trị một số di chứng chấn thương sọ năo được quan tâm nhiều như động kinh, đầu nước, tụ dịch dưới màng cứng, t́nh trạng co cứng, cốt hóa quanh khớp sai chỗ, rối loạn nhận thức.

Ở trẻ con, cơ thể và năo bộ c̣n ở thời kỳ đang phát triển, chưa hoàn chỉnh. Các di chứng tâm thần có thể sẽ hiện rơ hơn một thời gian lâu, sua chấn thương. Cần giải thích, bàn bạc với gia đ́nh để họ biết trước các thiếu sót thần kinh tâm trí liên quan đến chấn thương, và vượt qua được khó khăn để giúp trẻ hồi phục nhanh, tốt hơn.

SUMMARY

reflections ON THE TREATMENT OF TRAUMATIC BRAIN INjURY SEQUELAE

Recent advances in the neurosurgical management of severe traumatic brain injuries have resulted in an increased survival rate. Most of these patients have cognitive, behavioral and neurophysical sequelae. What agents to bệnh used for improving their quality of life-

In this study, post traumatic epilepsy, hydrocephalus, extracerebral collections, spasticity, heterotopic ossifi-cation, cognitive disturbances are discussed.

Children are growing human beings. Their parents must be counselled to expect long term residual deficits. The family environment is very important for neurobehavioral recovery of children.

Tài liệu tham khảo

1-     Annergers IF, Grabow JD. Seizures after head trauma. A population study. Neurology 30;683-89;1980.

2-     Granholm L, Svendgaard N. Hydrocephalus following tramatic head injuries. Lancet 1:265-66,1971

3-     Sarah H Brown, Mary E. Michael. Traumatic head injury in children. Oxford university press 1995

4-     Garland DE. Clinical observation on fractures and heterotopic ossification in the spinal cord and tramatic brain injured population. Clin Orthop,233:86-101,1988

5-     Grosswasser Z, Stern MJ. Dynamic cognitive and behavioral changes during the rehabilitation process of traumatic brain injury. IRMA Monograph series, USA, 1989

6-     Harvey S Levin, Howard M Eisenberg. Catatrophic brain injury. Oxford university press 1996


 

Text Box: *Trung-Tâm Ðào Tạo-BDCBYT TP.Hồ Chí Minh

[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net