Mờ mắt là triệu chứng có liên quan đến mắt
phổ biến nhất. Nó có nhiều h́nh thái thể hiện và nguyên nhân cũng rất đa dạng.
Bài tổng quan này tŕnh bày cho các bác sĩ không chuyên khoa mắt các kĩ thuật
khám và qui tŕnh chẩn đoán có ích trong việc đánh giá một bệnh nhân (BN) mờ mắt
và cách thức xác định khi nào th́ BN cần đến khám chuyên khoa mắt khẩn và cần
điều trị.
KHÁM MẮT
Bệnh sử
Khi đánh giá một BN bị mờ mắt, điều quan
trọng là phải ghi nhận được thời điểm khởi phát và lúc đầu BN nhận biết thế nào
về các triệu chứng. Mờ mắt khởi phát đột ngột hay từ từ? Có đau nhức hay không?
Mờ một bên hay cả hai bên mắt? Việc phân biệt những trường hợp mờ mắt trên cơ sở
các đặc trưng này giúp cho một chẩn đoán chính xác đạt được dễ dàng hơn. Việc
ghi nhận các t́nh huống hoặc sự kiện kết hợp cũng rất quan trọng. Ví dụ, cần hỏi
BN về các tiền triệu có trước chứng đau nửa đầu và về các dấu hiệu thần kinh khu
trú. BN có tiền sử bị chấn thương kín, vết thương xuyên thấu, hoặc bị dị vật vốn
là những t́nh huống có thể đưa đến mờ mắt không? Các dược phẩm như steroid
(uống, tiêm, dùng tại chỗ hoặc dạng hít) có thể là yếu tố phối hợp gây tăng nhăn
áp, đục thể thủy tinh và viêm giác mạc do siêu vi herpes simplex. Kháng sinh,
thuốc điều trị sốt rét, thuốc hướng tâm thần tuy hiếm khi gây tổn hại thị lực
nhưng vẫn có thể độc tính cho vơng mạc và thần kinh thị. Một số điểm quan yếu
khác có thể có ích cho chẩn đoán mờ mắt là tiền căn gia đ́nh về tăng nhăn áp
hoặc thoái hóa hoàng điểm và tiền sử cá nhân đă từng có những triệu chứng tương
tự như hiện nay.
Kỹ thuật khám
Việc khám mắt do bác sĩ tổng quát không chuyên khoa mắt, được chia làm 6 bước:
đo thị lực, đo thị trường, khám đồng tử, khám sự chuyển động của các cơ vận
nhăn, khám bán phần trước và bán phần sau. V́ có vài bệnh lư trầm trọng ở mắt
nhưng lại không có biểu hiện rơ ràng, tiến tŕnh khám mắt có hệ thống qua 6 bước
nêu trên là thiết yếu đối với mỗi BN bị mờ mắt.
1) Thị lực: Mờ mắt trên lâm sàng gần
như đi đôi với sụt giảm thị lực. Thị lực nên được đo từng mắt riêng lẽ, trên mắt
trần hoặc trên mắt đeo kính gọng điều chỉnh hoặc kính tiếp xúc. Trước tiên BN
được yêu cầu đọc một bảng thị lực chuẩn. Nếu thị lực đo được dưới 5/10, kiểm tra
lại bằng cách cho BN mang thêm một kính lỗ (kính lỗ là một kính cản quang,
thường màu đen, có một lỗ thủng nhỏ đường kính 1,5mm ở trung tâm). Đây là cách
điều chỉnh ước lượng tốt nhất cho thị lực (Nếu sau khi mang kính lỗ mà thị lực
tăng có nghĩa là BN bị tật khúc xạ: cận, viễn, loạn thị, hoặc tật khúc xạ hiện
tại của BN đă tăng điop; nếu thị lực không tăng có nghĩa BN đă bị tổn thương bán
phần sau hoặc các môi trường quang học của mắt). Nếu BN không đọc được chữ nào
trên bảng thị lực (TL < 1/10), họ sẽ được yêu cầu đếm số ngón tay có trên bàn
tay người khám. Khoảng cách xa nhất mà BN c̣n có thể đếm được là thị lực của BN
(Vd TL: đếm ngón tay 3 m). Nếu BN không đếm được số ngón tay th́ phải xem họ có
nhận biết được chuyển động của bàn tay không (bóng bàn tay). Nếu không được nữa
th́ phải xác định xem BN c̣n cảm giác sáng tối không. Các kết quả cần đươc ghi
lại làm dữ liệu so sánh với những lần khám tới và cũng v́ lư do pháp lư.
2) Thị trường: Mờ mắt do nguyên nhân
bệnh lư thần kinh hoặc bong vơng mạc thường được thể hiện như một khiếm khuyết
của thị trường ngoại biên. Phương pháp đối chiếu để đo thị trường ngoại biên là
một cách thử nhanh và đơn giản. Thử từng mắt riêng biệt. Thị trường của mắt
người khám được dùng làm căn cứ để đối chiếu với thị trường mắt người bệnh ở các
phần tư phía trên, phía dưới, phía mũi và phía thái dương. Nếu thử nghiệm được
thực hiện chính xác có thể phát hiện mất thị trường cùng tên (homonymous) mà
nguyên nhân thường là tai biến mạch máu năo, cũng như mất thị trường góc tư (bán
manh góc tư) hoặc mất phân nửa thị trường (bán manh) thường có nguyên nhân là
bong vơng mạc. Một phương pháp khám nhanh khác để thẩm định thị trường trung tâm
là sử dụng lưới Amsler (Amsler?s Grid) (H́nh 1). BN nh́n vào một chấm cố định ở
trung tâm lưới bằng một mắt và cho biết có nh́n thấy vùng nào bị biến dạng
không, hoặc có vùng nào không nh́n thấy những ô kẻ không (có ám điểm). Vỉ Amsler
đặc biệt có ích trong chẩn đoán mờ mắt ở những BN có bệnh lư vơng mạc.
H́nh 1: Bảng lưới Amsler, dùng để
khám thị trường trung tâm. Đặt bảng cách mắt BN 40cm. BN nh́n vào điểm đen chính
giữa với từng mắt một và cần xác định có thấy vùng bị biến dạng nào không, hoặc
không thấy điểm đen (mất thị lực trung tâm, nghĩa là có ám điểm trung tâm).
3) Khám đồng tử: Hai đồng tử b́nh
thường màu đen, tṛn đều, có cùng kích thước và có phản xạ với ánh sáng. Một
đồng tử không có màu đen gợi ư có sự vẫn đục của môi trường khúc xạ (thường là
đục thể thủy tinh). Đồng tử có h́nh dạng méo mó hoặc có vị trí lệch tâm xảy ra
sau một chấn thương đụng dập hoặc chấn thương xuyên thấu, có thể tương ứng với
những tổn thương nhăn cầu nghiêm trọng, chẳng hạn như vỡ nhăn cầu. Trong khoảng
20% trường hợp, bất tương đồng kích thước đồng tử là dấu hiệu bộc lộ duy nhất
của một sang chấn mắt nghiêm trọng khi khám bằng một đèn bút. Một bất thường về
kích thước đồng tử hoặc bất thường của phản xạ với ánh sáng có thể báo hiệu cho
một bệnh lư nội sọ. Tổn thương đường hướng tâm của phản xạ đồng tử (giăn đồng tử
đảo nghịch khi đáp ứng với ánh sáng) là một dấu hiệu quan trọng của tổn thương
hoặc bệnh lư thần kinh thị và vơng mạc.
4) Khám sự chuyển động của các cơ vận nhăn:
Đôi khi
BN mô tả song thị do các rối loạn vận nhăn như là một t́nh
trạng mờ mắt. Khám vận động nhăn cầu bằng cách yêu cầu BN nh́n theo ánh đèn bút
(penlight) lên trên, xuống dưới, sang trái và sang phải. Các cơ vận nhăn phải
hoạt động phối hợp và các chuyển động của từng mắt phải uyển chuyển, không bị
hạn chế và đối xứng. Hạn chế vận động ở bất ḱ một trong bốn hướng nh́n chính
nào cũng phải được ghi nhận.
5) Khám bán phần trước: Bán phần
trước gồm củng mạc, kết mạc, giác mạc, tiền pḥng, mống mắt và thể thủy tinh. Có
thể khám đầy đủ toàn bộ tiền pḥng chỉ bằng sự chiếu sáng đơn giản của đèn bút
và với sự quan sát cẩn thận. Khám củng mạc, kết mạc để t́m dịch tiết, phù nề, và
cương tụ kết mạc. Ánh phản chiếu giác mạc có lẽ là dấu hiệu quan trọng nhất cần
được lượng giá. Ánh phản chiếu phải trong suốt, đều đặn và sắc nét. Trong trường
hợp mất sự đều đặn, nên nhỏ fluorescein rồi quan sát dưới ánh sáng xanh cobalt
để lượng giá thêm. Bề mặt giác mạc không đều đặn cho thấy có bệnh lư hoặc tổn
thương giác mạc. Nếu điều này xảy ra trên một mắt đỏ không sang chấn, đó có thể
là một bệnh lư có khả năng gây mù như loét giác mạc do vi khuẩn hoặc do Herpes
simplex.
Tiền pḥng là khoảng giữa giác mạc và mống
mắt chứa đầy thủy dịch. Sau một chấn thương, cần t́m xem có máu trong tiền pḥng
không (máu tiền pḥng), sau một phẫu thuật mắt cần t́m xem có mủ không (mủ tiền
pḥng). Khám mống mắt để xem có sự thay đổi nào về h́nh dạng và bờ chu vi. Đồng
tử có thể giăn to do chấn thương, và trong viêm mống mắt, đồng tử bên mắt bệnh
có thể co nhỏ lại. Thể thủy tinh nằm giữa trục đồng tử, ngay sau màng mống mắt.
Một sự vẫn đục của thể thủy tinh, vốn b́nh thường trong suốt, cho thấy có sự
h́nh thành cườm (cataract). Có thể thấy cườm như một thể màu trắng ở đồng tử khi
chiếu sáng bằng đèn bút hoặc như một vùng sẫm màu khu trú trên nền hồng đỏ đồng
nhất với ánh đồng tử khi soi đáy mắt trực tiếp.
6) Khám bán phần sau: Bán phần sau
gồm dịch kính, vơng mạc và thần kinh thị. Soi đáy mắt trực tiếp được dùng để
thẩm định bán phần sau và tính trong suốt của các môi trường khúc xạ. Việc khám
bán phần sau sẽ dễ dàng hơn khi đồng tử giăn rộng. Nếu không có chống chỉ định,
các bác sĩ nội tổng quát có thể dùng tropicamid 1% và phenylephrin 2,5% để làm
giăn đồng tử.
Ánh đồng tử đỏ hồng nh́n qua đèn soi đáy
mắt trực tiếp phải giống nhau ở mọi góc nh́n. Ánh đồng tử biến đổi khi có t́nh
trạng bệnh lư như cườm, xuất huyết dịch kính, bong vơng mạc, bong mạch mạc
(choroidal detachment). H́nh ảnh của vơng mạc phải rơ ràng. Bờ gai thị phải
phẳng, có giới hạn rơ. Phồng lồi bệnh lư gặp trong phù gai thị, viêm gai thị,
bệnh lư thiếu máu thần kinh thị. Tổn thương đường hướng tâm của phản xạ đồng tử
(đồng tử giăn nhẹ, phản xạ ánh sáng lười) gặp trong viêm gai thị và bệnh thiếu
máu thần kinh thị. Drusen của đĩa thị (gai thị) có lẽ là h́nh thái thường gặp
nhất của giả phù gai thị (H́nh 2- ở trang màu tiếp theo trang 224) (Drusen là
những tổn thương vơng mạc hai bên, bản chất thoái hóa, nguyên nhân không rơ,
thường thấy dưới dạng những chấm nhỏ, màu sáng ở hoàng điểm và đĩa thị, cấu tạo
là những tủa lắng hyalin ở màng Bruch). Động và tĩnh mạch phải có đường kính
b́nh thường. Vơng mạc không có xuất huyết, xuất tiết và các đốm xuất tiết dạng
cục bông do thiếu máu.
NGUYÊN NHÂN KHÔNG phải BỆNH LƯ CỦA MỜ MẮT
Tật khúc xạ
Tật khúc xạ là nguyên nhân phổ biến nhất
của mờ mắt, thường gặp ở cả hai mắt, có khởi phát từ từ, không đau nhức, sức
nh́n phụ thuộc vào cự ly và khi mang kính lỗ, thị lực tăng rơ rệt. Các tật khúc
xạ gồm: cận thị, viễn thị, loạn thị và lăo thị.
Nhược thị là t́nh trạng giảm thị lực một
bên mắt, có ở trẻ em dưới 5 tuổi. Nó là hậu quả của t́nh trạng các lớp cảm thụ
ánh sáng của hệ thống thị giác không phát triển toàn vẹn v́ ảnh một bên mắt thấy
không được rơ hoặc v́ hiện tượng bất tương ứng ảnh của hai mắt. Các bệnh lư tán
trợ (precipating) gồm có: lé, bất đồng khúc xạ. Nhược thị có thể điều trị được
nếu trị liêu được tiến hành trước 7 tuổi. Điều quan trọng là không được lẫn lộn?
giữa giảm thị lực do nhược thị với mờ mắt mới xuất hiện gần đây.
Giảm thị lực chức năng
Nh́n mờ do rối loạn nhận thức hoặc tâm lư
được gọi là giảm thị lực chức năng. Việc mất thị lực này là có thật nhưng thường
chỉ tạm thời và do những sang chấn tâm lư nghiêm trọng. Phát hiện lâm sàng có
giá trị chẩn đoán thường gặp nhất là "thị truờng h́nh ống" (hàm ư giống thị
trường nh́n qua ống h́nh trụ của mắt b́nh thường).
NGUYÊN NHÂN BỆNH LƯ CỦA MỜ MẮT
Các nguyên nhân bệnh lư của mờ mắt hiếm
gặp hơn nhưng lại cần một xử trí khẩn cấp hơn so với các nguyên nhân không bệnh
lư. Đối với các BN không thể nh́n rơ, một qui tŕnh chẩn đoán căn cứ trên tính
chất của thời gian xuất hiện, tính chất ở một bên hay hai bên mắt, có hay không
có đau nhức có thể giúp phân loại các nguyên nhân mờ mắt vốn đa dạng và phong
phú.
Nhánh thần kinh mắt (V 1) thuộc thần kinh
sinh ba bảo đảm cảm giác nhăn cầu. Những vùng của mắt có cảm ứng đau là bề mặt
nhăn cầu, mống mắt và thể mi. Tổ chức hốc mắt quanh nhăn cầu cũng có cảm ứng
đau. Do đó, viêm nhiễm quanh thần kinh thị có thể vừa gây đau nhức vừa làm mờ
mắt. Vơng mạc, dịch kính và thần kinh thị trong nhăn cầu tương đối vô cảm với
đau.
Giảm thị lực đột ngột, một bên mắt, không đau nhức
Thường là do một bất thường ở bán phần
sau, phải sử dụng đèn soi đáy mắt để chẩn đoán. Các trường hợp sau đây đều cần
khám nhăn khoa khẩn cấp.
- Xuất huyết dịch kính
do tiểu đường hoặc chấn thương là một nguyên nhân phổ biến. Nh́n bằng đèn soi
đáy mắt thấy ánh đồng tử? và các chi tiết của vơng mạc tối sẫm lại. BN tiểu
đường c̣n có thể bị xuất huyết, xuất tiết, vi ph́nh mạch, phù và tân mạch hóa
tại bán phần sau, tất cả đều có thể gây ra những thay đổi đột ngột về thị lực
(H́nh 3) (Fong DS et al. 1999). Đa số xuất huyết dịch kính được để cho tan tự
nhiên, nhưng ở những BN tiểu đường đă có hiện tượng tân mạch hóa cần chỉ định
khẩn làm quan đông vơng mạc.
Phù thanh dịch và xuất huyết hoàng
điểm
do màng tân mạch mạc và thái hóa hoàng điểm tuổi già cũng là một nguyên nhân
thường gặp (H́nh 4) (Bressler SB et al. 1990). Những thay đổi ở hoàng điểm do
tuổi già có thể quan sát được bằng đèn soi đáy mắt trực tiếp. Những BN này cần
được chụp khẩn mạch huỳnh quang với fluorescein để xác định xem tổn thương hoàng
điểm có thể điều trị được bằng laser không.
Bong vơng mạc đối với bác sĩ
nhăn khoa có thể chẩn đoán dễ dàng bằng phương pháp soi đáy mắt gián tiếp qua
đồng tử giăn nở, nhưng đôi khi các bác sĩ tổng quát cũng có thể thấy được các
nếp vơng mạc tách rời trắng xám và phấp phới (H́nh 5) (Elfervig LS, 1998). Bong
vơng mạc cần mổ khẩn.
Tắc tĩnh mạch vơng mạc
đặc trưng bằng xuất huyết vơng mạc. Những đám xuất huyết này có thể lan tỏa,
rộng khắp cả đáy mắt nên làm tắc tĩnh mạch trung tâm (H́nh 6) hoặc chỉ khu trú ở
một góc tư nếu tắc các nhánh của tĩnh mạch vơng mạc.
Tắc động mạch trung tâm vơng
mạc
có các biểu hiện gồm mất thị lực nghiêm trọng, tổn thương đường hướng tâm
của phản xạ đồng tử, "hoàng điểm hoa anh đào" (H́nh 7) (trung tâm hoàng điểm có
màu đỏ hồng tương phản với màu trắng bệch của vơng mạc bị phù nề ở xung quanh)
Cũng có trường hợp một mắt vốn bị mờ đă
lâu nay đột nhiên được phát hiện do mắt mạnh bên c̣n lại t́nh cờ bị che khuất.
Nguyên nhân thường gặp là tật khúc xạ, đục thể thủy tinh, thoái hóa hoàng điểm
tuổi già không kèm theo xuất huyết hoặc xuất tiết.
Giảm thị lực đột ngột, một bên, có đau nhức
Các bệnh lư nguyên nhân thường gặp nhất
của t́nh trạng này đều tập trung ở giác mạc và tiền pḥng và đi kèm với một mắt
đỏ (Gaston H, 1989). Nguyên nhân tại giác mạc gồm xước giác mạc, nhiễm trùng,
phù giác mạc. Nhiễm trùng (loét giác mạc) là bệnh lư nguy hiểm nhất cần được
phát hiện. Tổn thương điển h́nh là một thẩm???? ?nhuận trắng ở giác mạc (H́nh
9). BN phải được khám chuyên khoa mắt, nuôi cấy vi khuẩn và điều trị tích cực
với kháng sinh tại chỗ. Loét giác mạc do Herpes simplex thường có dạng cành cây,
được quan sát dễ dàng khi nhuộm giác mạc với fluorescein (H́nh 10).
Viêm mống mắt, viêm thể mi, và viêm màng
bồ đào trước làm thị lực giảm nhẹ và có kèm sợ ánh sáng (Rosenbaum JT, 1991).
Phần lớn viêm màng bồ đào vô căn nhưng một số ít cũng có nguyên nhân là lao,
giang mai, bệnh sarcoid, bệnh collagen. Bệnh được chẩn đoán lâm sàng bằng đèn
khe và được điều trị bằng cortico-steroid tại chỗ. V́ corticosteroid tại chỗ có
thể đưa đến sự h́nh thành cườm, tăng nhăn áp, tái hoạt nhiễm siêu vi herpes
simplex, một bác sĩ tổng quát không nên kê đơn loại thuốc này.
Xuất huyết tiền pḥng do chấn thương
thường kèm đau nhức và giảm thị lực mà mức độ phụ thuộc lượng máu có trong tiền
pḥng (Gottsch JD, 1990). Điều trị chuyên khoa nhằm giảm áp lực nội nhăn và giảm
nguy cơ chảy máu tái phát.
Một sự gia tăng nhanh chóng áp lực nội
nhăn (glôcôm cấp) gây đau và phù giác mạc, hậu quả là làm giảm thị lực từ vừa
đến nặng. BN glôcôm góc đóng cấp cần được khẩn cấp cắt mống mắt bằng laser để
làm giảm nhẹ t́nh trạng nghẽn đồng tử đă gây đóng góc.
Viêm động mạch thái dương thường gặp ở
người già. BN đau nhức cả đầu và vùng thái dương và có các triệu chứng của đau
đa cơ thấp người già (polymyalgia rheu-matica). BN bị giảm thị lực do bệnh lư
thần kinh thị thiếu máu và bị tổn thương đường hướng tâm phản xạ đồng tử. Cần
điều trị khẩn trương với corticosteroid đường toàn thân nhằm giảm thiểu nguy cơ
bị cả 2 mắt (Gordon LK, et al. 1998).
Viêm thần kinh thị phần lớn gặp ở người
trẻ và có thể kèm với bệnh xơ cứng nhiều chỗ (multiple sclerosis) (Cleary PA, et
al. 1997). Sụt giảm thị lực có thể trầm trọng và BN thường bị đau khi vận động
nhăn cầu, có tổn thương đường hướng tâm phản xạ đồng tử. Thần kinh thị thấy
phồng lên trong viêm gai thị (H́nh 11) và b́nh thường trong viêm thần kinh thị
hậu nhăn cầu. Chẩn đoán sớm là rất quan trọng, v́ điều trị tích cực bằng
cortico-steroid đường toàn thân có thể giúp nhiều cho BN được hồi phục (Landau
K. 1998).
Viêm tổ chức hốc mắt là một nhiễm trùng
của khoang hậu cầu, có thể gây mù, và trong vài trường hợp hiếm hoi có thể đe
dọa cả đến tính mạng. Các triệu chứng gồm đau nhức, giảm thị lực, vận động nhăn
cầu bị hạn chế, lồi mắt thẳng trục, cương tụ gai thị. Chuyển khám nhăn khoa và
tai mũi họng.
Giảm thị lực đột ngột, hai bên, không đau nhức
Rất hiếm. Nguyên nhân có thể là những thay
đổi khúc xạ đột ngột do hiện tượng phồng lên của thể thủy tinh ở những BN tiểu
đường kém kiểm soát hoặc do phản ứng với dược phẩm (Eva PR, et al. 1982 &
Fledelius HC. 1986). Các dược phẩm có chứa các chất kháng choliner-gic, chất
cholinergic, và corticosteroid có thể làm trầm trọng thêm các tật khúc xạ sẵn có
hoặc cảm ứng những thay đổi khúc xạ đột ngột.
Giảm thị lực đột ngột, hai bên, có đau nhức
Nguyên nhân có thể là chấn thương bán phần
trước do dị vật, bỏng do đổ hóa chất, phơi nhiễm bức xạ cực tím của thợ hàn.
Viêm loét giác mạc, viêm mống mắt, và glôcôm cấp, luôn kèm với mắt đỏ, rất ít
khi gặp ở cả hai mắt (Silverman H, et al. 1992). Viêm động mạch thái dương tuy
hiếm nhưng cũng có thể kèm theo giảm thị lực thường xuyên hai bên, có đau nhức.
Giảm thị lực dần dần, một bên, không đau nhức
Đó là hiện tượng mờ mắt ở người già mà
cườm (đục thể thủy tinh) là nguyên nhân hàng đầu. Cườm có thể biểu hiện như một
vẫn đục mờ sương ở diện đồng tử nếu khám bằng đèn bút (penlight) hoặc một vùng
tối đen làm không quan sát được bán phần sau nếu khám bằng đèn soi đáy trực tiếp
(H́nh 12). Đối với BN cườm cần lên lịch theo dơi và khám định kỳ nhăn khoa
?Thoái hóa hoàng điểm tuổi già không có
xuất huyết hoặc xuất tiết (thoái hoá hoàng điểm "khô") là một nguyên nhân thường
gặp khác. Nó có thể biểu hiện như những đốm màu vàng khu trú (drusen) hoặc những
vùng xen kẽ đậm màu (tăng sắc tố) và nhạt màu (giảm sắc tố) tại hoàng điểm (H́nh
13). BN cần được khám chuyên khoa mắt để phát hiện những ổ xuất huyết hoặc xuất
tiết, thường khó quan sát được nhưng lại có thể trị khỏi bằng laser.
Trong vài t́nh huống hiếm gặp, những tổn
thương chèn ép chậm ở hốc mắt và khoảng nội sọ có thể gây ra thể giảm thị lực
này. Nếu là khối u chèn ép thần kinh thị, luôn luôn có teo gai thị và khiếm
khuyết trên thị trường.
Giảm thị lực dần dần, một bên, có đau nhức
Hiếm gặp. Nguyên nhân có thể là một tiến
tŕnh viêm diễn tiến chậm hoặc ung thư của giác mạc hoặc khoang hậu cầu. Đă có
những trường hợp u hạt hốc mắt và u dây thần kinh thị được báo cáo. Chẩn đoán
bằng cắt lớp điện toán (CT) và cộng hưởng từ hạt nhân (MRI).
Giảm thị lực dần dần, hai bên, không đau nhức
Nguyên nhân thông thường nhất là đục thể
thủy tinh và thoái hóa hoàng điểm tuổi già. Nguyên nhân khác hiếm gặp là độc
tính trên mắt của hydroxychloroquin và ethambutol (Mazzuca SA, et al. 1994 &
Sammartino JP, Soll DB. 1985). Điều trị bao gồm ngưng sử dụng thuốc gây tác hại
nhưng thường t́nh trạng giảm thị lực không đảo ngược được. Nguyên nhân hiếm gặp
nữa là khối u ở giao thoa thị giác. Khám thị trường là khâu quyết định chẩn
đoán.
Giảm thị lực dần dần, hai bên, có đau nhức
Hết sức hiếm gặp và rất có thể do một tiến
tŕnh viêm mạng tính như trong các bệnh mạch máu tạo keo (collagen) hoặc bệnh
sarcoid.
KẾT LUẬN
Mờ mắt là một triệu chứng phức tạp có vô
số nguyên nhân, từ những tật khúc xạ đơn thuần có thể hiệu chỉnh bằng kính đeo
đến nhũng căn bệnh nguy hiểm chết người. Khả năng của người thầy thuốc phân biệt
được nguyên nhân bệnh lư với nguyên nhân không bệnh lư có tầm quan trọng tột
bậc. May mắn là những trang thiết bị đơn giản phổ biến tại các pḥng khám bệnh
và cách tiếp cận chẩn đoán có hệ thống có thể giúp người bác sĩ tổng quát tiến
hành những bước xuất phát quan trọng trong thực hiện được điều này.
BS Nguyễn Hoàng Tuấn biên dịch
theo Bradford J. Shingleton: Blurred vision.
N
Engl J Med 2000;343;8;556-562