WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

B́nh luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

Chẩn đoán và xử trí MỜ MẮT


 


Mờ mắt là triệu chứng có liên quan đến mắt phổ biến nhất. Nó có nhiều h́nh thái thể hiện và nguyên nhân cũng rất đa dạng. Bài tổng quan này tŕnh bày cho các bác sĩ không chuyên khoa mắt các kĩ thuật khám và qui tŕnh chẩn đoán có ích trong việc đánh giá một bệnh nhân (BN) mờ mắt và cách thức xác định khi nào th́ BN cần đến khám chuyên khoa mắt khẩn và cần điều trị.

KHÁM MẮT

Bệnh sử

Khi đánh giá một BN bị mờ mắt, điều quan trọng là phải ghi nhận được thời điểm khởi phát và lúc đầu BN nhận biết thế nào về các triệu chứng. Mờ mắt khởi phát đột ngột hay từ từ? Có đau nhức hay không? Mờ một bên hay cả hai bên mắt? Việc phân biệt những trường hợp mờ mắt trên cơ sở các đặc trưng này giúp cho một chẩn đoán chính xác đạt được dễ dàng hơn. Việc ghi nhận các t́nh huống hoặc sự kiện kết hợp cũng rất quan trọng. Ví dụ, cần hỏi BN về các tiền triệu có trước chứng đau nửa đầu và về các dấu hiệu thần kinh khu trú. BN có tiền sử bị chấn thương kín, vết thương xuyên thấu, hoặc bị dị vật vốn là những t́nh huống có thể đưa đến mờ mắt không? Các dược phẩm như steroid (uống, tiêm, dùng tại chỗ hoặc dạng hít) có thể là yếu tố phối hợp gây tăng nhăn áp, đục thể thủy tinh và viêm giác mạc do siêu vi herpes simplex. Kháng sinh, thuốc điều trị sốt rét, thuốc hướng tâm thần tuy hiếm khi gây tổn hại thị lực nhưng vẫn có thể độc tính cho vơng mạc và thần kinh thị. Một số điểm quan yếu khác có thể có ích cho chẩn đoán mờ mắt là tiền căn gia đ́nh về tăng nhăn áp hoặc thoái hóa hoàng điểm và tiền sử cá nhân đă từng có những triệu chứng tương tự như hiện nay.

Kỹ thuật khám


Việc khám mắt do bác sĩ tổng quát không chuyên khoa mắt, được chia làm 6 bước: đo thị lực, đo thị trường, khám đồng tử, khám sự chuyển động của các cơ vận nhăn, khám bán phần trước và bán phần sau. V́ có vài bệnh lư trầm trọng ở mắt nhưng lại không có biểu hiện rơ ràng, tiến tŕnh khám mắt có hệ thống qua 6 bước nêu trên là thiết yếu đối với mỗi BN bị mờ mắt.

1) Thị lực: Mờ mắt trên lâm sàng gần như đi đôi với sụt giảm thị lực. Thị lực nên được đo từng mắt riêng lẽ, trên mắt trần hoặc trên mắt đeo kính gọng điều chỉnh hoặc kính tiếp xúc. Trước tiên BN được yêu cầu đọc một bảng thị lực chuẩn. Nếu thị lực đo được dưới 5/10, kiểm tra lại bằng cách cho BN mang thêm một kính lỗ (kính lỗ là một kính cản quang, thường màu đen, có một lỗ thủng nhỏ đường kính 1,5mm ở trung tâm). Đây là cách điều chỉnh ước lượng tốt nhất cho thị lực (Nếu sau khi mang kính lỗ mà thị lực tăng có nghĩa là BN bị tật khúc xạ: cận, viễn, loạn thị, hoặc tật khúc xạ hiện tại của BN đă tăng điop; nếu thị lực không tăng có nghĩa BN đă bị tổn thương bán phần sau hoặc các môi trường quang học của mắt). Nếu BN không đọc được chữ nào trên bảng thị lực (TL < 1/10), họ sẽ được yêu cầu đếm số ngón tay có trên bàn tay người khám. Khoảng cách xa nhất mà BN c̣n có thể đếm được là thị lực của BN (Vd TL: đếm ngón tay 3 m). Nếu BN không đếm được số ngón tay th́ phải xem họ có nhận biết được chuyển động của bàn tay không (bóng bàn tay). Nếu không được nữa th́ phải xác định xem BN c̣n cảm giác sáng tối không. Các kết quả cần đươc ghi lại làm dữ liệu so sánh với những lần khám tới và cũng v́ lư do pháp lư.

2) Thị trường: Mờ mắt do nguyên nhân bệnh lư thần kinh hoặc bong vơng mạc thường được thể hiện như một khiếm khuyết của thị trường ngoại biên. Phương pháp đối chiếu để đo thị trường ngoại biên là một cách thử nhanh và đơn giản. Thử từng mắt riêng biệt. Thị trường của mắt người khám được dùng làm căn cứ để đối chiếu với thị trường mắt người bệnh ở các phần tư phía trên, phía dưới, phía mũi và phía thái dương. Nếu thử nghiệm được thực hiện chính xác có thể phát hiện mất thị trường cùng tên (homonymous) mà nguyên nhân thường là tai biến mạch máu năo, cũng như mất thị trường góc tư (bán manh góc tư) hoặc mất phân nửa thị trường (bán manh) thường có nguyên nhân là bong vơng mạc. Một phương pháp khám nhanh khác để thẩm định thị trường trung tâm là sử dụng lưới Amsler (Amsler?s Grid) (H́nh 1). BN nh́n vào một chấm cố định ở trung tâm lưới bằng một mắt và cho biết có nh́n thấy vùng nào bị biến dạng không, hoặc có vùng nào không nh́n thấy những ô kẻ không (có ám điểm). Vỉ Amsler đặc biệt có ích trong chẩn đoán mờ mắt ở những BN có bệnh lư vơng mạc.

H́nh 1: Bảng lưới Amsler, dùng để khám thị trường trung tâm. Đặt bảng cách mắt BN 40cm. BN nh́n vào điểm đen chính giữa với từng mắt một và cần xác định có thấy vùng bị biến dạng nào không, hoặc không thấy điểm đen (mất thị lực trung tâm, nghĩa là có ám điểm trung tâm).

3) Khám đồng tử: Hai đồng tử b́nh thường màu đen, tṛn đều, có cùng kích thước và có phản xạ với ánh sáng. Một đồng tử không có màu đen gợi ư có sự vẫn đục của môi trường khúc xạ (thường là đục thể thủy tinh). Đồng tử có h́nh dạng méo mó hoặc có vị trí lệch tâm xảy ra sau một chấn thương đụng dập hoặc chấn thương xuyên thấu, có thể tương ứng với những tổn thương nhăn cầu nghiêm trọng, chẳng hạn như vỡ nhăn cầu. Trong khoảng 20% trường hợp, bất tương đồng kích thước đồng tử là dấu hiệu bộc lộ duy nhất của một sang chấn mắt nghiêm trọng khi khám bằng một đèn bút. Một bất thường về kích thước đồng tử hoặc bất thường của phản xạ với ánh sáng có thể báo hiệu cho một bệnh lư nội sọ. Tổn thương đường hướng tâm của phản xạ đồng tử (giăn đồng tử đảo nghịch khi đáp ứng với ánh sáng) là một dấu hiệu quan trọng của tổn thương hoặc bệnh lư thần kinh thị và vơng mạc.

4) Khám sự chuyển động của các cơ vận nhăn: Đôi khi BN mô tả song thị do các rối loạn vận nhăn như là một t́nh trạng mờ mắt. Khám vận động nhăn cầu bằng cách yêu cầu BN nh́n theo ánh đèn bút (penlight) lên trên, xuống dưới, sang trái và sang phải. Các cơ vận nhăn phải hoạt động phối hợp và các chuyển động của từng mắt phải uyển chuyển, không bị hạn chế và đối xứng. Hạn chế vận động ở bất ḱ một trong bốn hướng nh́n chính nào cũng phải được ghi nhận.

5) Khám bán phần trước: Bán phần trước gồm củng mạc, kết mạc, giác mạc, tiền pḥng, mống mắt và thể thủy tinh. Có thể khám đầy đủ toàn bộ tiền pḥng chỉ bằng sự chiếu sáng đơn giản của đèn bút và với sự quan sát cẩn thận. Khám củng mạc, kết mạc để t́m dịch tiết, phù nề, và cương tụ kết mạc. Ánh phản chiếu giác mạc có lẽ là dấu hiệu quan trọng nhất cần được lượng giá. Ánh phản chiếu phải trong suốt, đều đặn và sắc nét. Trong trường hợp mất sự đều đặn, nên nhỏ fluorescein rồi quan sát dưới ánh sáng xanh cobalt để lượng giá thêm. Bề mặt giác mạc không đều đặn cho thấy có bệnh lư hoặc tổn thương giác mạc. Nếu điều này xảy ra trên một mắt đỏ không sang chấn, đó có thể là một bệnh lư có khả năng gây mù như loét giác mạc do vi khuẩn hoặc do Herpes simplex.

Tiền pḥng là khoảng giữa giác mạc và mống mắt chứa đầy thủy dịch. Sau một chấn thương, cần t́m xem có máu trong tiền pḥng không (máu tiền pḥng), sau một phẫu thuật mắt cần t́m xem có mủ không (mủ tiền pḥng). Khám mống mắt để xem có sự thay đổi nào về h́nh dạng và bờ chu vi. Đồng tử có thể giăn to do chấn thương, và trong viêm mống mắt, đồng tử bên mắt bệnh có thể co nhỏ lại. Thể thủy tinh nằm giữa trục đồng tử, ngay sau màng mống mắt. Một sự vẫn đục của thể thủy tinh, vốn b́nh thường trong suốt, cho thấy có sự h́nh thành cườm (cataract). Có thể thấy cườm như một thể màu trắng ở đồng tử khi chiếu sáng bằng đèn bút hoặc như một vùng sẫm màu khu trú trên nền hồng đỏ đồng nhất với ánh đồng tử khi soi đáy mắt trực tiếp.

6) Khám bán phần sau: Bán phần sau gồm dịch kính, vơng mạc và thần kinh thị. Soi đáy mắt trực tiếp được dùng để thẩm định bán phần sau và tính trong suốt của các môi trường khúc xạ. Việc khám bán phần sau sẽ dễ dàng hơn khi đồng tử giăn rộng. Nếu không có chống chỉ định, các bác sĩ nội tổng quát có thể dùng tropicamid 1% và phenylephrin 2,5% để làm giăn đồng tử.

Ánh đồng tử đỏ hồng nh́n qua đèn soi đáy mắt trực tiếp phải giống nhau ở mọi góc nh́n. Ánh đồng tử biến đổi khi có t́nh trạng bệnh lư như cườm, xuất huyết dịch kính, bong vơng mạc, bong mạch mạc (choroidal detachment). H́nh ảnh của vơng mạc phải rơ ràng. Bờ gai thị phải phẳng, có giới hạn rơ. Phồng lồi bệnh lư gặp trong phù gai thị, viêm gai thị, bệnh lư thiếu máu thần kinh thị. Tổn thương đường hướng tâm của phản xạ đồng tử (đồng tử giăn nhẹ, phản xạ ánh sáng lười) gặp trong viêm gai thị và bệnh thiếu máu thần kinh thị. Drusen của đĩa thị (gai thị) có lẽ là h́nh thái thường gặp nhất của giả phù gai thị (H́nh 2- ở trang màu tiếp theo trang 224) (Drusen là những tổn thương vơng mạc hai bên, bản chất thoái hóa, nguyên nhân không rơ, thường thấy dưới dạng những chấm nhỏ, màu sáng ở hoàng điểm và đĩa thị, cấu tạo là những tủa lắng hyalin ở màng Bruch). Động và tĩnh mạch phải có đường kính b́nh thường. Vơng mạc không có xuất huyết, xuất tiết và các đốm xuất tiết dạng cục bông do thiếu máu.

NGUYÊN NHÂN KHÔNG phải BỆNH LƯ CỦA MỜ MẮT

Tật khúc xạ

Tật khúc xạ là nguyên nhân phổ biến nhất của mờ mắt, thường gặp ở cả hai mắt, có khởi phát từ từ, không đau nhức, sức nh́n phụ thuộc vào cự ly và khi mang kính lỗ, thị lực tăng rơ rệt. Các tật khúc xạ gồm: cận thị, viễn thị, loạn thị và lăo thị.

Nhược thị là t́nh trạng giảm thị lực một bên mắt, có ở trẻ em dưới 5 tuổi. Nó là hậu quả của t́nh trạng các lớp cảm thụ ánh sáng của hệ thống thị giác không phát triển toàn vẹn v́ ảnh một bên mắt thấy không được rơ hoặc v́ hiện tượng bất tương ứng ảnh của hai mắt. Các bệnh lư tán trợ (precipating) gồm có: lé, bất đồng khúc xạ. Nhược thị có thể điều trị được nếu trị liêu được tiến hành trước 7 tuổi. Điều quan trọng là không được lẫn lộn? giữa giảm thị lực do nhược thị với mờ mắt mới xuất hiện gần đây.

Giảm thị lực chức năng

Nh́n mờ do rối loạn nhận thức hoặc tâm lư được gọi là giảm thị lực chức năng. Việc mất thị lực này là có thật nhưng thường chỉ tạm thời và do những sang chấn tâm lư nghiêm trọng. Phát hiện lâm sàng có giá trị chẩn đoán thường gặp nhất là "thị truờng h́nh ống" (hàm ư giống thị trường nh́n qua ống h́nh trụ của mắt b́nh thường).

NGUYÊN NHÂN BỆNH LƯ CỦA MỜ MẮT

Các nguyên nhân bệnh lư của mờ mắt hiếm gặp hơn nhưng lại cần một xử trí khẩn cấp hơn so với các nguyên nhân không bệnh lư. Đối với các BN không thể nh́n rơ, một qui tŕnh chẩn đoán căn cứ trên tính chất của thời gian xuất hiện, tính chất ở một bên hay hai bên mắt, có hay không có đau nhức có thể giúp phân loại các nguyên nhân mờ mắt vốn đa dạng và phong phú.

Nhánh thần kinh mắt (V 1) thuộc thần kinh sinh ba bảo đảm cảm giác nhăn cầu. Những vùng của mắt có cảm ứng đau là bề mặt nhăn cầu, mống mắt và thể mi. Tổ chức hốc mắt quanh nhăn cầu cũng có cảm ứng đau. Do đó, viêm nhiễm quanh thần kinh thị có thể vừa gây đau nhức vừa làm mờ mắt. Vơng mạc, dịch kính và thần kinh thị trong nhăn cầu tương đối vô cảm với đau.

Giảm thị lực đột ngột, một bên mắt, không đau nhức

Thường là do một bất thường ở bán phần sau, phải sử dụng đèn soi đáy mắt để chẩn đoán. Các trường hợp sau đây đều cần khám nhăn khoa khẩn cấp.

- Xuất huyết dịch kính do tiểu đường hoặc chấn thương là một nguyên nhân phổ biến. Nh́n bằng đèn soi đáy mắt thấy ánh đồng tử? và các chi tiết của vơng mạc tối sẫm lại. BN tiểu đường c̣n có thể bị xuất huyết, xuất tiết, vi ph́nh mạch, phù và tân mạch hóa tại bán phần sau, tất cả đều có thể gây ra những thay đổi đột ngột về thị lực (H́nh 3) (Fong DS et al. 1999). Đa số xuất huyết dịch kính được để cho tan tự nhiên, nhưng ở những BN tiểu đường đă có hiện tượng tân mạch hóa cần chỉ định khẩn làm quan đông vơng mạc.

Phù thanh dịch và xuất huyết hoàng điểm do màng tân mạch mạc và thái hóa hoàng điểm tuổi già cũng là một nguyên nhân thường gặp (H́nh 4) (Bressler SB et al. 1990). Những thay đổi ở hoàng điểm do tuổi già có thể quan sát được bằng đèn soi đáy mắt trực tiếp. Những BN này cần được chụp khẩn mạch huỳnh quang với fluorescein để xác định xem tổn thương hoàng điểm có thể điều trị được bằng laser không.

Bong vơng mạc đối với bác sĩ nhăn khoa có thể chẩn đoán dễ dàng bằng phương pháp soi đáy mắt gián tiếp qua đồng tử giăn nở, nhưng đôi khi các bác sĩ tổng quát cũng có thể thấy được các nếp vơng mạc tách rời trắng xám và phấp phới (H́nh 5) (Elfervig LS, 1998). Bong vơng mạc cần mổ khẩn.

Tắc tĩnh mạch vơng mạc đặc trưng bằng xuất huyết vơng mạc. Những đám xuất huyết này có thể lan tỏa, rộng khắp cả đáy mắt nên làm tắc tĩnh mạch trung tâm (H́nh 6) hoặc chỉ khu trú ở một góc tư nếu tắc các nhánh của tĩnh mạch vơng mạc.

Tắc động mạch trung tâm vơng mạc có các biểu hiện gồm mất thị lực nghiêm trọng, tổn thương đường hướng tâm của phản xạ đồng tử, "hoàng điểm hoa anh đào" (H́nh 7) (trung tâm hoàng điểm có màu đỏ hồng tương phản với màu trắng bệch của vơng mạc bị phù nề ở xung quanh)

Cũng có trường hợp một mắt vốn bị mờ đă lâu nay đột nhiên được phát hiện do mắt mạnh bên c̣n lại t́nh cờ bị che khuất. Nguyên nhân thường gặp là tật khúc xạ, đục thể thủy tinh, thoái hóa hoàng điểm tuổi già không kèm theo xuất huyết hoặc xuất tiết.

Giảm thị lực đột ngột, một bên, có đau nhức

Các bệnh lư nguyên nhân thường gặp nhất của t́nh trạng này đều tập trung ở giác mạc và tiền pḥng và đi kèm với một mắt đỏ (Gaston H, 1989). Nguyên nhân tại giác mạc gồm xước giác mạc, nhiễm trùng, phù giác mạc. Nhiễm trùng (loét giác mạc) là bệnh lư nguy hiểm nhất cần được phát hiện. Tổn thương điển h́nh là một thẩm???? ?nhuận trắng ở giác mạc (H́nh 9). BN phải được khám chuyên khoa mắt, nuôi cấy vi khuẩn và điều trị tích cực với kháng sinh tại chỗ. Loét giác mạc do Herpes simplex thường có dạng cành cây, được quan sát dễ dàng khi nhuộm giác mạc với fluorescein (H́nh 10).

Viêm mống mắt, viêm thể mi, và viêm màng bồ đào trước làm thị lực giảm nhẹ và có kèm sợ ánh sáng (Rosenbaum JT, 1991). Phần lớn viêm màng bồ đào vô căn nhưng một số ít cũng có nguyên nhân là lao, giang mai, bệnh sarcoid, bệnh collagen. Bệnh được chẩn đoán lâm sàng bằng đèn khe và được điều trị bằng cortico-steroid tại chỗ. V́ corticosteroid tại chỗ có thể đưa đến sự h́nh thành cườm, tăng nhăn áp, tái hoạt nhiễm siêu vi herpes simplex, một bác sĩ tổng quát không nên kê đơn loại thuốc này.

Xuất huyết tiền pḥng do chấn thương thường kèm đau nhức và giảm thị lực mà mức độ phụ thuộc lượng máu có trong tiền pḥng (Gottsch JD, 1990). Điều trị chuyên khoa nhằm giảm áp lực nội nhăn và giảm nguy cơ chảy máu tái phát.

Một sự gia tăng nhanh chóng áp lực nội nhăn (glôcôm cấp) gây đau và phù giác mạc, hậu quả là làm giảm thị lực từ vừa đến nặng. BN glôcôm góc đóng cấp cần được khẩn cấp cắt mống mắt bằng laser để làm giảm nhẹ t́nh trạng nghẽn đồng tử đă gây đóng góc.

Viêm động mạch thái dương thường gặp ở người già. BN đau nhức cả đầu và vùng thái dương và có các triệu chứng của đau đa cơ thấp người già (polymyalgia rheu-matica). BN bị giảm thị lực do bệnh lư thần kinh thị thiếu máu và bị tổn thương đường hướng tâm phản xạ đồng tử. Cần điều trị khẩn trương với corticosteroid đường toàn thân nhằm giảm thiểu nguy cơ bị cả 2 mắt (Gordon LK, et al. 1998).

Viêm thần kinh thị phần lớn gặp ở người trẻ và có thể kèm với bệnh xơ cứng nhiều chỗ (multiple sclerosis) (Cleary PA, et al. 1997). Sụt giảm thị lực có thể trầm trọng và BN thường bị đau khi vận động nhăn cầu, có tổn thương đường hướng tâm phản xạ đồng tử. Thần kinh thị thấy phồng lên trong viêm gai thị (H́nh 11) và b́nh thường trong viêm thần kinh thị hậu nhăn cầu. Chẩn đoán sớm là rất quan trọng, v́ điều trị tích cực bằng cortico-steroid đường toàn thân có thể giúp nhiều cho BN được hồi phục (Landau K. 1998).

Viêm tổ chức hốc mắt là một nhiễm trùng của khoang hậu cầu, có thể gây mù, và trong vài trường hợp hiếm hoi có thể đe dọa cả đến tính mạng. Các triệu chứng gồm đau nhức, giảm thị lực, vận động nhăn cầu bị hạn chế, lồi mắt thẳng trục, cương tụ gai thị. Chuyển khám nhăn khoa và tai mũi họng.

Giảm thị lực đột ngột, hai bên, không đau nhức

Rất hiếm. Nguyên nhân có thể là những thay đổi khúc xạ đột ngột do hiện tượng phồng lên của thể thủy tinh ở những BN tiểu đường kém kiểm soát hoặc do phản ứng với dược phẩm (Eva PR, et al. 1982 & Fledelius HC. 1986). Các dược phẩm có chứa các chất kháng choliner-gic, chất cholinergic, và corticosteroid có thể làm trầm trọng thêm các tật khúc xạ sẵn có hoặc cảm ứng những thay đổi khúc xạ đột ngột.

Giảm thị lực đột ngột, hai bên, có đau nhức

Nguyên nhân có thể là chấn thương bán phần trước do dị vật, bỏng do đổ hóa chất, phơi nhiễm bức xạ cực tím của thợ hàn. Viêm loét giác mạc, viêm mống mắt, và glôcôm cấp, luôn kèm với mắt đỏ, rất ít khi gặp ở cả hai mắt (Silverman H, et al. 1992). Viêm động mạch thái dương tuy hiếm nhưng cũng có thể kèm theo giảm thị lực thường xuyên hai bên, có đau nhức.

Giảm thị lực dần dần, một bên, không đau nhức

Đó là hiện tượng mờ mắt ở người già mà cườm (đục thể thủy tinh) là nguyên nhân hàng đầu. Cườm có thể biểu hiện như một vẫn đục mờ sương ở diện đồng tử nếu khám bằng đèn bút (penlight) hoặc một vùng tối đen làm không quan sát được bán phần sau nếu khám bằng đèn soi đáy trực tiếp (H́nh 12). Đối với BN cườm cần lên lịch theo dơi và khám định kỳ nhăn khoa

?Thoái hóa hoàng điểm tuổi già không có xuất huyết hoặc xuất tiết (thoái hoá hoàng điểm "khô") là một nguyên nhân thường gặp khác. Nó có thể biểu hiện như những đốm màu vàng khu trú (drusen) hoặc những vùng xen kẽ đậm màu (tăng sắc tố) và nhạt màu (giảm sắc tố) tại hoàng điểm (H́nh 13). BN cần được khám chuyên khoa mắt để phát hiện những ổ xuất huyết hoặc xuất tiết, thường khó quan sát được nhưng lại có thể trị khỏi bằng laser.

Trong vài t́nh huống hiếm gặp, những tổn thương chèn ép chậm ở hốc mắt và khoảng nội sọ có thể gây ra thể giảm thị lực này. Nếu là khối u chèn ép thần kinh thị, luôn luôn có teo gai thị và khiếm khuyết trên thị trường.

Giảm thị lực dần dần, một bên, có đau nhức

Hiếm gặp. Nguyên nhân có thể là một tiến tŕnh viêm diễn tiến chậm hoặc ung thư của giác mạc hoặc khoang hậu cầu. Đă có những trường hợp u hạt hốc mắt và u dây thần kinh thị được báo cáo. Chẩn đoán bằng cắt lớp điện toán (CT) và cộng hưởng từ hạt nhân (MRI).

Giảm thị lực dần dần, hai bên, không đau nhức

Nguyên nhân thông thường nhất là đục thể thủy tinh và thoái hóa hoàng điểm tuổi già. Nguyên nhân khác hiếm gặp là độc tính trên mắt của hydroxychloroquin và ethambutol (Mazzuca SA, et al. 1994 & Sammartino JP, Soll DB. 1985). Điều trị bao gồm ngưng sử dụng thuốc gây tác hại nhưng thường t́nh trạng giảm thị lực không đảo ngược được. Nguyên nhân hiếm gặp nữa là khối u ở giao thoa thị giác. Khám thị trường là khâu quyết định chẩn đoán.

Giảm thị lực dần dần, hai bên, có đau nhức

Hết sức hiếm gặp và rất có thể do một tiến tŕnh viêm mạng tính như trong các bệnh mạch máu tạo keo (collagen) hoặc bệnh sarcoid.

KẾT LUẬN

Mờ mắt là một triệu chứng phức tạp có vô số nguyên nhân, từ những tật khúc xạ đơn thuần có thể hiệu chỉnh bằng kính đeo đến nhũng căn bệnh nguy hiểm chết người. Khả năng của người thầy thuốc phân biệt được nguyên nhân bệnh lư với nguyên nhân không bệnh lư có tầm quan trọng tột bậc. May mắn là những trang thiết bị đơn giản phổ biến tại các pḥng khám bệnh và cách tiếp cận chẩn đoán có hệ thống có thể giúp người bác sĩ tổng quát tiến hành những bước xuất phát quan trọng trong thực hiện được điều này.

BS Nguyễn Hoàng Tuấn biên dịch theo Bradford J. Shingleton: Blurred vision.

N Engl J Med 2000;343;8;556-562


 


Các h́nh ảnh của bài "Mờ mắt"

H́nh 2: Drusen đĩa thị. Phồng lồi đĩa thị thường là do drusen đĩa thị nhưng bệnh lư này thường bị chẩn đoán lầm là phù gai thị. Drusen điển h́nh là những lắng đọng hyalin màu trắng không đều ở bờ gai thị.

H́nh 3: Bệnh vơng mạc tiểu đường không tăng sinh cho thấy xuất huyết và xuất tiết ở cực sau mà không có chứng cứ của tân mạch ḥa.

 

H́nh 4: Xuất huyết dưới vơng mạc do màng tân mạch mạch mạc ở BN bị thái hóa hoàng điểm tuổi già.

 

H́nh 5: Vơng mạc nâng phồng lên, phấp phới và có màu trắng xám là đặt trưng của bong vơng mạc.

H́nh 6: Tắc tĩnh mạch trung tâm vơng mạc với xuất huyết trong vơng mạc lan rộng.

 

?

H́nh 7: Tắc động mạch trung tâmvơng mạc. Vơng mạc có màu trắng do phù nề lan rộng và tuần hoàn mạch mạc c̣n bảo lưu ở phía dưới, sáng ánh ở hố hoàng điểm như một đốm đỏ hoa anh đào (cherry-red spot)

H́nh 8: Bệnh lư thần kinh thị thiếu máu phần trước, đặc trưng bằng hiện tượng phồng lồi và xuất huyết của đĩa thị.

H́nh 9:? Loét giác mạc, xuất hiện như một thẩm nhuận trắng ở giác mạc. Trong trường hợp nhiễm nấm này, vết loét có kèm theo một vành tế bào viêm tṛn và mủ tiền pḥng.

H́nh 10: Một vết loét biểu mô (mũi tên) do nhiễm Herpes simplex, có h́nh thái điển h́nh h́nh cành cây khi nhuộm với fluorescein và chiếu sáng bằng ánh sáng xanh cobalt.

H́nh 11: Viêm thần kinh thị trong nhăn cầu (viêm gai thị) với gai thị cương phồng.

H́nh 12: Đục thể thủy tinh dưới bao cực sau nh́n qua đèn soi đáy mắt trực tiếp khi soi ánh đồng tử.

H́nh 13: Drusen hoàng điển trong bệnh lư thoái hoá hoàng điểm tuổi già không có xuất huyết hoặc xuất tiết.

 


Các h́nh ảnh của bài "Chẩn đoán và điều trị mắt đỏ" (Thời Sự Y Dược Học 6/2001)

H́nh 1: Xuất huyết dưới kết mạc

Đốm xuất huyết phân định rạch ṛi che lấp không thấy được các cấu trúc bên dưới. Các vùng lân cận không bị viêm. Bệnh lư này không gây ảnh hưởng đến thị lực và hầu như luôn luôn tự tan.

H́nh 2 : Nghi là viêm kết mạc do siêu vi

Trong trường hợp này không có tác nhân gây bệnh nào được phân lập bởi pḥng xét nghiệm, nhưng bệnh sử vừa mắc bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và việc không có chảy mủ cho chẩn đoán này.

H́nh 3: Viêm kết mạc nặng do adenovirus

Trường hợp này xảy ra trong dịch viêm kết mạc. Lây nhiễm rất mạnh, 10 ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng, siêu vi đang sao chép vẫn c̣n được t́m thấy ở 95% bệnh nhân.

H́nh 4 : Viêm kết mạc lậu cầu tối cấp

Nhiễm khuẩn độc lực cao này có thể gây những tổn thương mắt trầm trọng. Điều trị tấn công (bao? gồm cả kháng sinh đường toàn thân) phải được tiến hành ngay.

H́nh 5 : Viêm kết mạc thể vùi.

Các hột nhỏ rơ (mũi tên) gặp ở cùng đồ dưới. Viêm kết mạc thể vùi là một bệnh lây truyền qua đường t́nh dục, cần liệu pháp kháng sinh đường toàn thân.

H́nh 6 : Viêm thượng củng mạc

Có những mạch máu sung huyết, chạy theo hướng nan hoa và một nốt (nodule) nằm cạnh ŕa giác mạc. Trường hợp này, phần kết mạc và thượng củng mạc đối diện (phía mũi) không bị viêm.

H́nh 7 : Mộng thịt

Cương tụ kết mạc giới hạn trong tổn thương gồ cao phía mũi, bệnh lư thoái hóa này hết sức phổ biến ở những người sinh hoạt phần lớn ở ngoài trời và phơi nhiễm với tia cực tím.

H́nh 8 : Glôcôm góc đóng

Đồng tử giăn vừa và mất phản xạ với ánh sáng. Phù giác mạc làm cho diềm mống mắt trông kém sắc nét hơn bên mắt lành. Cần điều trị tấn công ngay để tránh bị teo thị thần kinh

H́nh 9 : Viêm màng bồ đào trước cấp tính

Đồng tử co nhỏ, không đều và phản xạ kém với ánh sáng. Cương tụ kết mạc rơ rệt nhất ở cận vùng ŕa giác mạc. Có mủ tiền pḥng (mũi tên). Bệnh có thể gây mù nên cần chuyển ngay cho BS nhăn khoa

 

[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net