Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là
một trong những nguyên nhân gây tử suất và tần suất biến chứng quan trọng trên
toàn thế giới. Theo một nghiên cứu về phí tổn tần suất biến chứng toàn cầu do Tổ
Chức Y Tế Thế Giới và Ngân Hàng Thế Giới bảo trợ thực hiện vào năm 1990 cho thấy
tỷ lệ lưu hành của BPTNMT trên toàn thế giới ước tính khoảng 9,34 / 1000 ở nam
giới và 7,33 / 1000 ở nữ giới, tuy nhiên, hiện chưa đánh giá đúng mức tỷ lệ lưu
hành của BPTNMT ở người cao tuổi. Hiện nay, BPTNMT đứng hàng thứ tư trong những
nguyên nhân tử suất, và theo dự đoán của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, tỷ lệ này c̣n
tiếp tục tăng lên trong những thập niên tới. Tuy vậy, BPTNMT lại không nhận được
sự quan tâm đúng mức của cộng đồng y khoa và các quan chức y tế. V́ vậy, một
nhóm các chuyên gia trong lănh vực bệnh lư hô hấp, dịch tễ học, kinh tế xă hội,
y học cộng đồng và giáo dục sức khỏe đă vận động Viện Huyết Học, Tim Mạch, Hô
Hấp Hoa Kỳ và Tổ Chức Y Tế Thế Giới để thành lập một Chương Tŕnh Phát Kiến Toàn
Cầu Pḥng chống Bệnh Phổi Tắc Nghẽn Mạn Tính (GOLD: Global Initiative for
Chronic Obstructive Lung Disease). Một trong những mục tiêu của chương tŕnh này
là nâng cao nhận thức về BPTNMT và giúp đỡ hàng ngàn BN đang mắc phải căn bệnh
này tránh tử vong sớm v́ những biến chứng của bệnh. Bước đầu tiên của chương
tŕnh là đưa ra một phác đồ thống nhất hướng dẫn pḥng ngừa và quản lư BPTNMT
gồm 4 phần: (1) Đánh giá và theo dơi bệnh; (2) Giảm những yếu tố nguy cơ; (3) Xử
trí BPTNMT ổn định; (4) Xử trí cơn kịch phát của BPTNMT.
Trong phác đồ này, Viện Huyết Học, Tim
Mạch, Hô Hấp Hoa Kỳ đă áp dụng một hệ thống phân loại mức độ bằng chứng cho một
số ư kiến chuyên môn. Những mức độ về bằng chứng được tŕnh bày sau:
Những nghiên
cứu ngẫu nhiên có đối chứng với dữ liệu phong phú.
Bằng chứng đạt
được từ chỉ số đánh giá cuối của nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng được thiết
kế tốt. Những nghiên cứu này đưa đến kết quả hằng định trong các mẫu nghiên cứu
được đề nghị. Bằng chứng mức độ A cần số lượng lớn nghiên cứu cũng như số lượng
lớn các BN tham gia
Những nghiên
cứu ngẫu nhiên có đối chứng với dữ liệu hạn chế.
Bằng chứng đạt
được từ điểm kết thúc của nhũng nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng nhưng số
lượng nghiên cứu hạn chế. Nói chung, bằng chứng thuộc mức độ B liên quan đến vài
nghiên cứu ngẫu nhiên, mẫu nhỏ, được thực hiện trong dân số nghiên cứu khác với
dân số mẫu được đề nghị, kết quả nghiên cứu đôi khi không hằng định.
Không phải là
nghiên cứu ngẫu nhiên, chỉ là những nghiên cứu quan sát. Bằng chứng đạt được từ
những nghiên cứu có tính quan sát, không ngẫu nhiên và không đối chứng
Ư kiến thống
nhất của các chuyên gia???????????
Mức độ bằng
chứng này chỉ là những trường hợp mà việc cung cấp những hướng dẫn được cho rằng
có giá trị nhưng bằng chứng y văn th́ không đủ để? đưa vào các mức độ bằng chứng
trên. Sự thống nhất ư kiến của các chuyên gia thường dựa vào kinh nghiệm lâm
sàng hoặc kiến thức không nằm trong các mức độ bằng chứng trên
I. THEO DƠI VÀ ĐÁNH GIÁ BPTNMT
A. Định nghĩa
BPTNMT là một bệnh trạng đặc trưng bởi lưu
lượng khí thở bị giới hạn và không hồi phục hoàn toàn. Giới hạn lưu lượng khí
thường tiến triển và kèm theo đáp ứng viêm bất thường của phổi đối với các phân
tử không oxy hóa hoặc khí
B. Chẩn đoán
Chẩn đoán BPTNMT cần đặt ra trước một BN
ho có đàm, hoặc khó thở, và/hoặc có bệnh sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ của
bệnh. Chẩn đoán khách quan dựa vào hô hấp kế để xác định mức độ hạn chế thông
khí. Các số đo quan trọng nhất là thể tích khí thở ra gắng sức (FVC), thể tích
khí thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) và tỉ số của số đo này
(FEV1/FVC). Nếu sau khi dùng thuốc giăn PQ (giăn PQ) mà FEV1<80%
trị số dự kiến cộng với một tỉ số FEV1/FVC <70% khẳng định có hạn chế
thông khí không thể đảo ngược được hoàn toàn. Riêng tỉ số FEV1/FVC là
số đo khá nhạy với t́nh trạng giảm thông khí: tỉ số FEV1/FVC <70%
được xem là dấu hiệu sớm của hạn chế thông khí trên BN có FEV1 vẫn
c̣n b́nh thường (?80%
trị số dự kiến).
Bảng 1. Phân loại độ nặng BPTNMT
|
Giai
đoạn
|
Đặc điểm
|
|
0: nguy cơ
|
Số đo hô hấp kế b́nh thường, có triệu
chứng mạn tính (ho, khạc đàm)
|
|
I: Nhẹ
|
FEV1/FVC <70%
FEV1
?80% trị số dự kiến
Có hoặc không có triệu chứng mạn tính
(ho, khạc đàm)
|
|
II: Vừa
|
FEV1/FVC <70%
30%
? FEV1
<80% trị số dự kiến
Có hoặc không có triệu chứng mạn tính
(ho, khạc đàm, khó thở)
|
|
III: Nặng
|
FEV1/FVC <70%
FEV1
?
30% trị số dự kiến hoặc
FEV1 < 30% trị số dự kiến cộng với suy
hô hấp hoặc triệu chứng lâm sàng của suy tim phải.
|
Suy hô hấp: PaO2 <8,0 kPa (60
mmHg)
? PaCO2 > 6,7 kPa
(50 mmHg) với không khí ở độ cao ngang mặt biển.
Bảng 2: ?Những yếu tố gợi ư chẩn đoán BPTNMT
|
Ho kéo dài
|
Xuất hiện từng đợt hoặc hàng ngày. Thường xảy ra suốt ngày,
ít khi xảy ra về đêm
|
|
Khạc đàm kéo dài
|
Bất kỳ dạng khạc đàm kéo dài nào đều có thể hướng tới
BPTNMT
|
|
Khó thở
|
Tiến triển (xấu dần theo thời gian)
|
|
|
Mạn tính (xuất hiện mỗi ngày)
|
|
|
Nặng lên khi vận động hoặc nhiễm trùng hô hấp
|
|
Bệnh sử tiếp xúc với những yếu tố nguy cơ
|
|
|
Khói thuốc lá
|
|
|
Bụi, hóa chất nghề nghiệp
|
|
|
Khói đun nấu hoặc nhiên liệu khí đốt
|
Bảng 3: Chẩn đoán phân biệt? BPTNMT
|
Chẩn đoán
|
Những đặc điểm gợi ư
|
|
BPTNMT
|
Khởi phát từ lứa tuổi trung niên
|
|
|
Triệu chứng tiến triển chậm
|
|
|
Tiền sử hút thuốc trong thời gian dài
|
|
|
Khó thở khi gắng sức
|
|
|
Giới hạn luồng khí thở không hồi phục trên phạm vi rộng
|
|
Hen phế quản
|
Khởi phát từ tuổi ấu thơ
|
|
|
Triệu chứng thay đồi từ ngày này sang ngày khác
|
|
|
Triệu chứng thường xảy ra trong đêm hoặc sáng sớm
|
|
|
Có thể kèm theo t́nh trạng dị ứng, viêm mũi, chàm
|
|
|
Tiền sử gia đ́nh có hen PQ
|
|
|
Giới hạn luồng khí thở có hồi phục trên phạm vi rộng
|
|
Suy tim ứ huyết
|
Khám phổi nghe có ran nổ nhỏ hạt hai đáy phổi
|
|
|
XQ phổi cho thấy h́nh ảnh tim to, phù phổi
|
|
|
Chức năng phổi cho thấy có giới hạn thể tích khí thở, trong
khi lưu lượng khí thở không bị giới hạn
|
|
Giăn phế quản
|
Khạc đàm mủ với số lượng nhiều
|
|
|
Thường có nhiễm khuẩn hô hấp đi kèm
|
|
|
Khám phổi nghe có ran nổ to hạt - móng tay dùi trống
|
|
|
XQ / CT scan cho thấy có giăn PQ, thành phế quản dầy lên
|
|
Lao phổi
|
Gặp ở mọi lứa tuổi
|
|
|
X quang có thâm nhiễm hoặc tổn thương dạng nốt
|
|
|
Chẩn đoán xác định bằng vi khuẩn học
|
|
|
Tỷ lệ lưu hành bệnh lao phổi cao khu trú
|
|
Viêm tiểu phế
|
Khởi phát ở lứa tuổi nhỏ, không tiền căn hút thuốc
|
|
quản tắc nghẽn
|
Có thể có kèm theo viêm khớp dạng thấp hoặc tiếp xúc khói
|
|
|
CT? scan th́ thở ra cho thấy những vùng phổi giảm đậm độ
|
|
Viêm tiểu phế
|
Hầu hết BN là nam và không hút thuốc
|
|
quản lan tỏa
|
Hầu hết có viêm xoang mạn tính
|
|
|
X quang phổi và CT xoắn ốc cho thấy h́nh ảnh mờ dạng nốt ở
trung tâm tiểu thùy, lan tỏa, chướng khí
|
GHI CHÚ: những đặc điểm nêu trên có
khuynh hướng đặc trưng cho từng loại bệnh tương ứng, nhưng không có nghĩa là
đúng trong mọi trường hợp. Ví dụ, một BN chưa từng hút thuốc cũng có thể bị
BPTNMT (đặc biệt ở những nước đang phát triển mà những yếu tố nguy cơ khác có
thể quan trọng hơn hút thuốc); Hen PQ có thể khởi phát ở người lớn tuổi hoặc
thậm chí người già.
C. Theo dơi tiến triển bệnh
Trong theo dơi đánh giá bệnh cần lưu ư các
điểm sau:
?
Theo dơi diễn tiến bệnh và sự phát triển biến chứng:
v́ là bệnh tiến triển mạn tính nên triệu chứng có
thể xấu dần theo thời gian. Mỗi lần tái khám cần phát hiện những dấu hiệu này.
BN có FEV1<40% cần lưu ư khả năng suy hô hấp hoặc suy tim phải
(trướng tĩnh mạch cổ, phù cổ chân).
?
Theo dơi việc dùng thuốc nhằm điều chỉnh trị liệu
cho thích hợp với diễn tiến bệnh, cần lưu ư liều
lượng và các loai thuốc được dùng, sự tuân thủ phác đồ điều trị, kỹ thuật hít
khí dung, hiệu quả kiểm soát triệu chứng và các tác dụng phụ nếu có.
?
Theo dơi bệnh sử các cơn kịch phát: cần đánh giá
tần suất, độ nặng và các nguyên nhân dẫn đến cơn kịch phát. Nên lưu ư đến triệu
chứng khạc đàm (tăng lượng đàm, có mùi hôi) và triệu chứng khó thở, tăng liều
dùng cortico-steroid hoặc thuốc giăn PQ, cũng như bệnh sử những lần nhập viện
cấp cứu hoặc đặt nội khí quản.?????
?
Theo dơi các bệnh kèm theo, đặc biệt là những bệnh
ở phổi như lao, ung thư PQ, hội chứng ngưng thở khi ngủ hoặc suy tim phải. BN
cần được xét nghiệm cận lâm sàng thích hợp để phát hiện khi có triệu chứng nghi
ngờ những t́nh trạng đó.
II. GIẢM YẾU TỐ NGUY CƠ
Những yếu tố nguy cơ của BPTNMT
bao gồm những yếu tố từ kư chủ và những yếu tố tiếp xúc với môi trường. BPTNMT
thường xuất hiện do sự tương tác của hai loại yếu tố này. Yếu tố nguy cơ từ kư
chủ được thu thập dữ liệu nhiều nhất là sự thiếu hụt alpha-1 antitrypsin do di
truyền, tuy nhiên những gen có liên quan đến sự khởi phát BPTNMT chưa được xác
định rơ. Những yếu tố nguy cơ quan trọng từ môi trường là hút thuốc lá, tiếp xúc
nhiều với bụi hoặc hóa chất nghề nghiệp, ô nhiễm môi trường trong nhà ngoài phố.
Việc giảm tiếp xúc cá nhân với những yếu
tố nguy cơ trong môi trường là những mục tiêu quan trọng nhằm pḥng ngừa sự xuất
hiện và tiến triển của BPTNMT. Ngưng hút thuốc là một biện pháp hiệu quả và kinh
tế nhất để giảm nguy cơ phát triển và làm ngưng sự tiến triển của BPTNMT (bằng
chứng mức độ A)
III. xử trí BPTNMT ổn định
Xử trí BPTNMT ổn định dựa trên nguyên tắc
điều trị bậc thang tùy theo mức độ nặng của bệnh, và trong bất cứ trường hợp
nào, giáo dục sức khoẻ đóng vai tṛ quan trọng trong việc giúp BN có thể sống
với căn bệnh này, cải thiện kỹ năng dùng thuốc, tăng sự hợp tác điều trị, qua đó
cải thiện t́nh trạng sức khỏe của ḿnh. Việc giáo dục sức khỏe chứng tỏ hiệu quả
trong việc đạt được một số mục đích điều trị, ví dụ như ngưng hút thuốc (bằng
chứng mức độ A)
Trong điều trị BPTNMT, không có
một loại thuốc nào có thể làm thay đổi sự tiến triển xấu đi của chức năng phổi
vốn là nét đặc trưng của bệnh lư này (bằng chứng thuyết phục A), v́ vậy, điều
trị bằng thuốc chỉ có tác dụng cải thiện triệu chứng và / hoặc làm giảm biến
chứng.
Các thuốc giăn phế quản (PQ) là những
thuốc chủ lực để điều trị triệu chứng BPTNMT (bằng chứng A). Các thuốc này được
dùng khi có yêu cầu hoặc dùng đều đặn để giảm hoặc pḥng ngừa triệu chứng. Các
thuốc giăn PQ thường được sử dụng là nhóm chủ vận
b2 (đường hít được ưu tiên hơn), kháng
cholinergic, theophyllin hoặc kết hợp một trong những loại thuốc này. Sự chọn
lựa thuốc giăn PQ tùy thuộc vào nguồn thuốc sẵn có, đáp ứng của từng BN về mặt
cải thiện triệu chứng và những tác dụng phụ. Thuốc giăn PQ tác dụng ngắn có thể
rẻ hơn nhưng lại không thuận tiện bằng thuốc giăn PQ tác dụng dài. Salmeterol,
một loại thuốc giăn PQ tác dụng dài dạng hít, được chứng minh là cải thiện t́nh
trạng sức khỏe đáng kể với liêù điều trị 50
mg x 2 lần/ngày (bằng chứng
A). Sử dụng ipratropium bromid hít cũng cho kết quả tương tự (bằng chứng B).
Theophyllin có hiệu quả trong BPTNMT, nhưng do khả năng gây độc tính cao cho nên
các thuốc giăn PQ dạng hít được ưa chọn hơn.
Kết hợp các thuốc giăn PQ trong điều trị
BPTNMT ổn định có thể làm cải thiện chức năng phổi, nhưng lại làm tăng chi phí
điều trị mà lợi ích đạt được có khi chỉ tương đương với việc tăng liều của một
thuốc giăn PQ nếu như việc tăng liều này không làm tăng tác dụng phụ đáng kể.
Điều trị dài ngày với glucocorticosteroid
dạng hít chỉ thích hợp cho BN BPTNMT có bằng chứng đáp ứng với thuốc này trên hô
hấp kế hoặc cho BN có FEV1<50% so với trị số dự kiến hoặc có các đợt
kịch phát cần dù?g đến kháng sinh và glucocorticoid. Thời gian điều trị với
glucocorticosteroid dạng hít được khuyến nghị là từ 6 tuần đến 3 tháng. Việc
điều trị dài ngày bằng corticosteroid dạng uống không được khuyên dùng trong
BPTNMT.
Ngoại trừ vắc-xin chống cúm (được chích
mỗi năm 1-2 lần) tỏ ra hữu ích trong việc giảm độ nặng và ngừa được 50% số tử
vong trong BPTNMT, một số thuốc khác (thuốc chống ôxy-hóa, thuốc điều ḥa miễn
dịch) chưa có đủ bằng chứng để kết luận về lợi ích điều trị lâu dài.
Các thuốc không được khuyên dùng một cách
thường xuyên trong xử trí BPTNMT ổn định là kháng sinh, thuốc kích thích hô hấp
doxapram. Các thuốc bị chống chỉ định sử dụng thường xuyên là thuốc ho, thuốc
giăn mạch dạng hít, thuốc an thần- gây ngủ.????
Những chương tŕnh luyện tập, phục hồi
chức năng hô hấp tỏ ra có ích lợi cho BPTNMT, nó giúp cải thiện t́nh trạng dung
nạp của BN với vận động thể lực, triệu chứng khó thở và mệt mỏi (bằng chứng A)
Liệu pháp oxygen lâu dài (> 15 giờ / ngày)
đối với những BN suy hô hấp mạn tính được chứng minh là làm tăng thời gian sống
sót của BN (bằng chứng A). Chỉ định oxy liệu pháp dài hạn bao gồm những BN có
Pa02 < 55 mmHg hoặc Sa02 < 88% có hoặc không kèm theo tăng
thán khí máu; hoặc Pa02 55 - 60mmHg, Sa02 89% nếu có kèm
dấu hiệu tăng áp lực động mạch phổi, suy tim ứ huyết, đa hồng cầu (Hct > 55%).
Mục đích điều trị nhằm duy tŕ Pa02 ít nhất 60mmHg, Sa02
ít nhất đạt 90% ở mực nước biển và ở t́nh trạng nghỉ ngơi, giúp bảo tồn những cơ
quan quan trọng có đủ nguồn cung cấp oxy.
Bảng 4: Xử trí BPTNMT
|
Chung cho tất cả các giai đoạn
? Tránh các yếu tố nguy cơ
? Giáo dục sức khoẻ
? Chủng ngừa bệnh cúm
|
|
Giai đoạn 0: nguy cơ
|
|
?
Ho khạc đàm kéo dài
?
Phế dung kư b́nh thường
|
|
|
Giai đoạn I: Nhẹ
|
|
?
FEV1/FVC < 70%
?
FEV1> 80% trị số dự kiến
?
Có triệu chứng hoặc không
|
? Dùng thuốc giăn PQ tác
dụng ngắn khi cần
|
|
Giai đoạn II: Vừa
|
|
II A:
? FEV1/FVC
< 70%
?
50% < FEV1 < 80% trị số dự kiến
? Có triệu chứng hoặc
không
|
?
Điều trị thường xuyên với một hoặc nhiều thuốc giăn PQ.
?
Tập phục hồi chức năng
?
Glucocorticosteroid dạng hít nếu có đáp ứng rơ về triệu chứng và chức năng
phổi
|
|
II B:
? FEV1/FVC <
70%
? 30% < FEV1 <
50% trị số dự kiến
? Có triệu chứng hoặc
không
|
?
Điều trị thường xuyên với một hoặc nhiều thuốc giăn PQ.
?
Tập phục hồi chức năng
?
Glucocorticosteroid dạng hít nếu triệu chứng và chức năng phổi đáp ứng có ư
nghĩa hoặc nếu có cơn kịch phát lặp lại.
|
|
III. Nặng
|
|
? FEV1/FVC <
70%
? FEV1 < 30%
trị số dự kiến hoặc có dấu hiệu suy hô hấp, suy tim phải
|
? Điều trị thường xuyên
với một hoặc nhiều thuốc giăn PQ.
? Glucocorticosteroid dạng
hít nếu có đáp ứng rơ về triệu chứng và chức năng phổi hoặc nếu có cơn kịch
phát lặp lại.
? Điều trị biến chứng
? Tập phục hồi chức năng
? Điều trị bằng ôxygen dài
ngày nếu có suy hô hấp
? Xét đến khả năng điều
trị phẫu thuật
|
|
|
|
IV. xử trí CƠN KỊCH PHÁT CỦA BPTNMT
Nguyên nhân thường gặp nhất của cơn kịch
phát BPTNMT là nhiễm trùng đường dẫn khí và ô nhiễm không khí, tuy nhiên trong
1/3 các trường hợp người ta không xác định được nguyên nhân.
Những yếu tố chẩn đoán cơn kịch phát gồm
có tất cả những sự gia tăng nào về cường độ các triệu chứng như ho khạc đàm
nhiều hơn, khó thở nhiều hơn, xuất hiện đột ngột t́nh trạng khó thở lúc nghỉ
ngơi; hoặc xuất hiện thêm những triệu chứng mới như sốt, ho đàm đục có mủ, xanh
tím, phù ngoại vi, trở nên kém dung nạp với vận động thể lực, loạn nhịp. Một số
BN c̣n kèm theo những triệu chứng không đặc hiệu như? mệt mỏi, mất ngủ, lú lẫn
hay ngủ gà.
Đánh giá mức độ nặng dựa trên hỏi bệnh,
khám lâm sàng và làm những xét nghiệm cần thiết như X quang phổi, đo khí máu,
phế dung kư (thường khó thực hiện được trong cơn cấp). Việc so sánh kết quả khí
máu và chức năng phổi trong cơn cấp so với các kết quả trước đây có thể cung cấp
những thông tin quan trọng, bởi v́ sự thay đổi đột ngột các kết quả khí máu và
chức năng phổi có ư nghĩa hơn là chỉ nh́n vào một giá trị tuyệt đối của kết quả
đạt được. Những xét nghiệm sinh hoá đôi khi cũng giúp ích cho việc xác định
nguyên nhân của cơn kịch phát, ví dụ như rối loạn điện giải, rối loạn thăng bằng
kiềm toan ở những BN có bệnh lư kèm theo như tiểu đường, dinh dưỡng kém. Những
dấu hiệu nặng của cơn kịch phát nặng bao gồm thay đổi t́nh trạng tri giác (lú
lẫn, ngủ gà, hôn mê), FEV1 < 1 L hoặc lưu lượng đỉnh <100 L/ phút.
Pa02< 60mmHg, và / hoặc Sa02
< 90% khi thở khí trời chứng tỏ t́nh trạng suy hô hấp. Ngoài ra, Pa02<
50mmHg, PaC02 > 70mmHg, pH < 7,30 hướng tới cơn kịch phát đe dọa mạng
sống cần được theo dơi tích cựa tại khoa SSĐB.
Xử trí cơn kịch phát BPTNMT tại bệnh viện
bao gồm:
?
Oxygen có kiểm soát, khí máu được kiểm tra 30 phút sau khi bắt đầu dùng oxygen
?
Thuốc giăn PQ: thuốc chủ vận b2
tác dụng nhanh dạng hít được ưu tiên lựa chọn trong cơn kịch phát BPTNMT. Có thể
tăng liều và / hoặc tăng số lần sử dụng thuốc lên trong cơn kịch phát (bằng
chứng A). Thuốc được cho qua buồng hít hoặc máy khí dung phun sương. Có thể phối
hợp thêm anticholinergic khi không đáp ứng điều trị. mặc dù những bằng chứng về
hiệu quả của điều trị phối hợp này c̣n đang bàn căi. Trong trường hợp cần thiết,
có thể thêm aminophyllin tĩnh mạch.
?
Corticosteroid uống hoặc tiêm tĩnh mạch có thể cho kèm theo với thuốc giăn PQ
trong cơn kịch phát BPTNMT. Liều điều trị 30-40mg prednisolon/ ngày trong 10 -
14 ngày thường cân bằng giữa hiệu quả và an toàn.
?
Kháng sinh: sự xuất hiện đàm mủ trong cơn kịch phát đủ chỉ định kháng sinh liệu
pháp. Những tác nhân gây bệnh thường gặp là S. pneumoniae, H.
influenzae, M. catarrhalis. Nếu không đáp ứng, thực hiện cấy đàm và
kháng sinh đồ thích hợp.
?Các điều trị khác bao gồm: theo dơi cân
bằng dịch và dinh dưỡng, có thể cân nhắc điều trị heparin dưới da, phát hiện và
xử trí những t́nh trạng kèm theo (suy tim, loạn nhịp), theo dơi sát t́nh trạng
BN.
Những chỉ định nhập SSĐB gồm có khó thở
nặng hoặc không đáp ứng với điêù trị cấp cứu ban đầu, rối loạn tri giác, suy hô
hấp, toan hô hấp nặng (pH < 7.3) mặc dù đă điều trị oxygen.
?
Chỉ định giúp thở với áp lực dương không xâm lấn (NIPPV-non-invasive positive
pressure ventilation): ít nhất có hai tiêu chuẩn
- Khó thở vừa - nặng có sử dụng cơ hô hấp
phụ và thở bụng nghịch lư
- T́nh trạng nhiễm toan vừa - nặng (pH
7,30 - 7,35) và tăng thán khí máu (PaC02 > 45 - 60mmHg)
Chống chỉ định NIPPV bao gồm sự xuất hiện
của một trong những yếu tố sau:
- Ngưng thở
- T́nh trạng tim mạch không ổn định (giảm
huyết áp, loạn nhịp, nhồi máu cơ tim)
- Rối loạn tri giác hoặc không hợp tác
- Nguy cơ viêm phổi hít cao ; đàm đặc và
nhầy
- Mới phẫu thuật vùng bụng hoặc mặt
- Chấn thương đầu mặt, bất thường cố định
vùng mũi họng
- Béo ph́.
?
Chỉ định giúp thở máy xâm lấn:
- Khó thở nặng có sử dụng cơ hô hấp phụ và
thở bụng nghịch lư
- Nhịp thở > 35 lần / phút
- Giảm oxygen máu nghiêm trọng (Pa02
<40mmHg hoặc Pa02 / Fi02 < 200 mmHg)
- Toan hóa nặng (pH < 7.25) và tăng thán
khí máu (PaC02 > 60 mmHg)
- Ngưng thở
- Rối loạn tri giác
- Biến chứng tim mạch (giảm huyết áp, sốc,
suy tim)
- Những biến chứng khác (bất thường chuyển
hóa, nhiễm trùng nặng, viêm phổi, tắc mạch phổi, chấn thương do áp lực, tràn
dịch màng phổi lượng nhiều)
- Thất bại NIPPV
?
Tiêu chuẩn xuất viện sau cơn kịch phát BPTNMT:
- Điều trị bằng chủ vận
b2
hít không quá 6 lần/ ngày
- BN có thể đi bộ xung quanh pḥng
- BN có thể ăn và ngủ, không bị thức giấc
v́ khó thở
- BN ổn định lâm sàng trong 12 - 24 giờ
- BN biết cách sử dụng dụng cụ hít và các
thuốc điều trị
- Sắp xếp được kế hoạch chăm sóc tại nhà
(oxygen dài hạn, dinh dưỡng, điều dưỡng)
- BN, gia đ́nh và thầy thuốc cảm thấy tin
tưởng rằng BN có thể tự xoay xở tại nhà
Sau khi xuất viện, BN cần được theo dơi
trong 4-6 tuần để đánh giá sự pḥng tránh tiếp xúc yếu tố nguy cơ, FEV1,
sự hiểu biết cách sử dụng dụng cụ hít và các thuốc điều trị, nhu cầu oxygen trị
liệu lâu dài và /hoặc máy phun mù tại nhà (đối với trường hợp BPTNMT nặng).
Theo Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease- Executive summary
2001