WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

B́nh luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ PH̉NG NGỪA BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Báo cáo tóm tắt 2001 của Viện Huyết Học, Tim? Mạch, Hô Hấp Hoa Kỳ và Tổ Chức Y Tế Thế Giới

 


Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là một trong những nguyên nhân gây tử suất và tần suất biến chứng quan trọng trên toàn thế giới. Theo một nghiên cứu về phí tổn tần suất biến chứng toàn cầu do Tổ Chức Y Tế Thế Giới và Ngân Hàng Thế Giới bảo trợ thực hiện vào năm 1990 cho thấy tỷ lệ lưu hành của BPTNMT trên toàn thế giới ước tính khoảng 9,34 / 1000 ở nam giới và 7,33 / 1000 ở nữ giới, tuy nhiên, hiện chưa đánh giá đúng mức tỷ lệ lưu hành của BPTNMT ở người cao tuổi. Hiện nay, BPTNMT đứng hàng thứ tư trong những nguyên nhân tử suất, và theo dự đoán của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, tỷ lệ này c̣n tiếp tục tăng lên trong những thập niên tới. Tuy vậy, BPTNMT lại không nhận được sự quan tâm đúng mức của cộng đồng y khoa và các quan chức y tế. V́ vậy, một nhóm các chuyên gia trong lănh vực bệnh lư hô hấp, dịch tễ học, kinh tế xă hội, y học cộng đồng và giáo dục sức khỏe đă vận động Viện Huyết Học, Tim Mạch, Hô Hấp Hoa Kỳ và Tổ Chức Y Tế Thế Giới để thành lập một Chương Tŕnh Phát Kiến Toàn Cầu Pḥng chống Bệnh Phổi Tắc Nghẽn Mạn Tính (GOLD: Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease). Một trong những mục tiêu của chương tŕnh này là nâng cao nhận thức về BPTNMT và giúp đỡ hàng ngàn BN đang mắc phải căn bệnh này tránh tử vong sớm v́ những biến chứng của bệnh. Bước đầu tiên của chương tŕnh là đưa ra một phác đồ thống nhất hướng dẫn pḥng ngừa và quản lư BPTNMT gồm 4 phần: (1) Đánh giá và theo dơi bệnh; (2) Giảm những yếu tố nguy cơ; (3) Xử trí BPTNMT ổn định; (4) Xử trí cơn kịch phát của BPTNMT.

Trong phác đồ này, Viện Huyết Học, Tim Mạch, Hô Hấp Hoa Kỳ đă áp dụng một hệ thống phân loại mức độ bằng chứng cho một số ư kiến chuyên môn. Những mức độ về bằng chứng được tŕnh bày sau:

Mức độ A

Những nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng với dữ liệu phong phú.

Bằng chứng đạt được từ chỉ số đánh giá cuối của nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng được thiết kế tốt. Những nghiên cứu này đưa đến kết quả hằng định trong các mẫu nghiên cứu được đề nghị. Bằng chứng mức độ A cần số lượng lớn nghiên cứu cũng như số lượng lớn các BN tham gia

Mức độ B

Những nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng với dữ liệu hạn chế.

Bằng chứng đạt được từ điểm kết thúc của nhũng nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng nhưng số lượng nghiên cứu hạn chế. Nói chung, bằng chứng thuộc mức độ B liên quan đến vài nghiên cứu ngẫu nhiên, mẫu nhỏ, được thực hiện trong dân số nghiên cứu khác với dân số mẫu được đề nghị, kết quả nghiên cứu đôi khi không hằng định.

 

Mức độ C

Không phải là nghiên cứu ngẫu nhiên, chỉ là những nghiên cứu quan sát. Bằng chứng đạt được từ những nghiên cứu có tính quan sát, không ngẫu nhiên và không đối chứng

Mức độ D???????????

Ư kiến thống nhất của các chuyên gia???????????

Mức độ bằng chứng này chỉ là những trường hợp mà việc cung cấp những hướng dẫn được cho rằng có giá trị nhưng bằng chứng y văn th́ không đủ để? đưa vào các mức độ bằng chứng trên. Sự thống nhất ư kiến của các chuyên gia thường dựa vào kinh nghiệm lâm sàng hoặc kiến thức không nằm trong các mức độ bằng chứng trên

I. THEO DƠI VÀ ĐÁNH GIÁ BPTNMT

A. Định nghĩa

BPTNMT là một bệnh trạng đặc trưng bởi lưu lượng khí thở bị giới hạn và không hồi phục hoàn toàn. Giới hạn lưu lượng khí thường tiến triển và kèm theo đáp ứng viêm bất thường của phổi đối với các phân tử không oxy hóa hoặc khí

B. Chẩn đoán

Chẩn đoán BPTNMT cần đặt ra trước một BN ho có đàm, hoặc khó thở, và/hoặc có bệnh sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ của bệnh. Chẩn đoán khách quan dựa vào hô hấp kế để xác định mức độ hạn chế thông khí. Các số đo quan trọng nhất là thể tích khí thở ra gắng sức (FVC), thể tích khí thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) và tỉ số của số đo này (FEV1/FVC). Nếu sau khi dùng thuốc giăn PQ (giăn PQ) mà FEV1<80% trị số dự kiến cộng với một tỉ số FEV1/FVC <70% khẳng định có hạn chế thông khí không thể đảo ngược được hoàn toàn. Riêng tỉ số FEV1/FVC là số đo khá nhạy với t́nh trạng giảm thông khí: tỉ số FEV1/FVC <70% được xem là dấu hiệu sớm của hạn chế thông khí trên BN có FEV1 vẫn c̣n b́nh thường (?80% trị số dự kiến).

Bảng 1. Phân loại độ nặng BPTNMT

Giai đoạn

Đặc điểm

0: nguy cơ

Số đo hô hấp kế b́nh thường, có triệu chứng mạn tính (ho, khạc đàm)

I: Nhẹ

FEV1/FVC <70%

FEV1 ?80% trị số dự kiến

Có hoặc không có triệu chứng mạn tính (ho, khạc đàm)

II: Vừa

FEV1/FVC <70%

30% ? FEV1 <80% trị số dự kiến

Có hoặc không có triệu chứng mạn tính (ho, khạc đàm, khó thở)

III: Nặng

FEV1/FVC <70%

FEV1 ? 30% trị số dự kiến hoặc

FEV1 < 30% trị số dự kiến cộng với suy hô hấp hoặc triệu chứng lâm sàng của suy tim phải.

Suy hô hấp: PaO2 <8,0 kPa (60 mmHg) ? PaCO2 > 6,7 kPa (50 mmHg) với không khí ở độ cao ngang mặt biển.

Bảng 2: ?Những yếu tố gợi ư chẩn đoán BPTNMT

Ho kéo dài

Xuất hiện từng đợt hoặc hàng ngày. Thường xảy ra suốt ngày, ít khi xảy ra về đêm

Khạc đàm kéo dài

Bất kỳ dạng khạc đàm kéo dài nào đều có thể hướng tới BPTNMT

Khó thở

Tiến triển (xấu dần theo thời gian)

 

Mạn tính (xuất hiện mỗi ngày)

 

Nặng lên khi vận động hoặc nhiễm trùng hô hấp

Bệnh sử tiếp xúc với những yếu tố nguy cơ

 

Khói thuốc lá

 

Bụi, hóa chất nghề nghiệp

 

Khói đun nấu hoặc nhiên liệu khí đốt

Bảng 3: Chẩn đoán phân biệt? BPTNMT

Chẩn đoán

Những đặc điểm gợi ư

BPTNMT

Khởi phát từ lứa tuổi trung niên

 

Triệu chứng tiến triển chậm

 

Tiền sử hút thuốc trong thời gian dài

 

Khó thở khi gắng sức

 

Giới hạn luồng khí thở không hồi phục trên phạm vi rộng

Hen phế quản

Khởi phát từ tuổi ấu thơ

 

Triệu chứng thay đồi từ ngày này sang ngày khác

 

Triệu chứng thường xảy ra trong đêm hoặc sáng sớm

 

Có thể kèm theo t́nh trạng dị ứng, viêm mũi, chàm

 

Tiền sử gia đ́nh có hen PQ

 

Giới hạn luồng khí thở có hồi phục trên phạm vi rộng

Suy tim ứ huyết

Khám phổi nghe có ran nổ nhỏ hạt hai đáy phổi

 

XQ phổi cho thấy h́nh ảnh tim to, phù phổi

 

Chức năng phổi cho thấy có giới hạn thể tích khí thở, trong khi lưu lượng khí thở không bị giới hạn

Giăn phế quản

Khạc đàm mủ với số lượng nhiều

 

Thường có nhiễm khuẩn hô hấp đi kèm

 

Khám phổi nghe có ran nổ to hạt - móng tay dùi trống

 

XQ / CT scan cho thấy có giăn PQ, thành phế quản dầy lên

Lao phổi

Gặp ở mọi lứa tuổi

 

X quang có thâm nhiễm hoặc tổn thương dạng nốt

 

Chẩn đoán xác định bằng vi khuẩn học

 

Tỷ lệ lưu hành bệnh lao phổi cao khu trú

Viêm tiểu phế

Khởi phát ở lứa tuổi nhỏ, không tiền căn hút thuốc

quản tắc nghẽn

Có thể có kèm theo viêm khớp dạng thấp hoặc tiếp xúc khói

 

CT? scan th́ thở ra cho thấy những vùng phổi giảm đậm độ

Viêm tiểu phế

Hầu hết BN là nam và không hút thuốc

quản lan tỏa

Hầu hết có viêm xoang mạn tính

 

X quang phổi và CT xoắn ốc cho thấy h́nh ảnh mờ dạng nốt ở trung tâm tiểu thùy, lan tỏa, chướng khí

GHI CHÚ: những đặc điểm nêu trên có khuynh hướng đặc trưng cho từng loại bệnh tương ứng, nhưng không có nghĩa là đúng trong mọi trường hợp. Ví dụ, một BN chưa từng hút thuốc cũng có thể bị BPTNMT (đặc biệt ở những nước đang phát triển mà những yếu tố nguy cơ khác có thể quan trọng hơn hút thuốc); Hen PQ có thể khởi phát ở người lớn tuổi hoặc thậm chí người già.

C. Theo dơi tiến triển bệnh

Trong theo dơi đánh giá bệnh cần lưu ư các điểm sau:

? Theo dơi diễn tiến bệnh và sự phát triển biến chứng: v́ là bệnh tiến triển mạn tính nên triệu chứng có thể xấu dần theo thời gian. Mỗi lần tái khám cần phát hiện những dấu hiệu này. BN có FEV1<40% cần lưu ư khả năng suy hô hấp hoặc suy tim phải (trướng tĩnh mạch cổ, phù cổ chân).

? Theo dơi việc dùng thuốc nhằm điều chỉnh trị liệu cho thích hợp với diễn tiến bệnh, cần lưu ư liều lượng và các loai thuốc được dùng, sự tuân thủ phác đồ điều trị, kỹ thuật hít khí dung, hiệu quả kiểm soát triệu chứng và các tác dụng phụ nếu có.

? Theo dơi bệnh sử các cơn kịch phát: cần đánh giá tần suất, độ nặng và các nguyên nhân dẫn đến cơn kịch phát. Nên lưu ư đến triệu chứng khạc đàm (tăng lượng đàm, có mùi hôi) và triệu chứng khó thở, tăng liều dùng cortico-steroid hoặc thuốc giăn PQ, cũng như bệnh sử những lần nhập viện cấp cứu hoặc đặt nội khí quản.?????

? Theo dơi các bệnh kèm theo, đặc biệt là những bệnh ở phổi như lao, ung thư PQ, hội chứng ngưng thở khi ngủ hoặc suy tim phải. BN cần được xét nghiệm cận lâm sàng thích hợp để phát hiện khi có triệu chứng nghi ngờ những t́nh trạng đó.

II. GIẢM YẾU TỐ NGUY CƠ

Những yếu tố nguy cơ của BPTNMT bao gồm những yếu tố từ kư chủ và những yếu tố tiếp xúc với môi trường. BPTNMT thường xuất hiện do sự tương tác của hai loại yếu tố này. Yếu tố nguy cơ từ kư chủ được thu thập dữ liệu nhiều nhất là sự thiếu hụt alpha-1 antitrypsin do di truyền, tuy nhiên những gen có liên quan đến sự khởi phát BPTNMT chưa được xác định rơ. Những yếu tố nguy cơ quan trọng từ môi trường là hút thuốc lá, tiếp xúc nhiều với bụi hoặc hóa chất nghề nghiệp, ô nhiễm môi trường trong nhà ngoài phố.

Việc giảm tiếp xúc cá nhân với những yếu tố nguy cơ trong môi trường là những mục tiêu quan trọng nhằm pḥng ngừa sự xuất hiện và tiến triển của BPTNMT. Ngưng hút thuốc là một biện pháp hiệu quả và kinh tế nhất để giảm nguy cơ phát triển và làm ngưng sự tiến triển của BPTNMT (bằng chứng mức độ A)

III. xử trí BPTNMT ổn định

Xử trí BPTNMT ổn định dựa trên nguyên tắc điều trị bậc thang tùy theo mức độ nặng của bệnh, và trong bất cứ trường hợp nào, giáo dục sức khoẻ đóng vai tṛ quan trọng trong việc giúp BN có thể sống với căn bệnh này, cải thiện kỹ năng dùng thuốc, tăng sự hợp tác điều trị, qua đó cải thiện t́nh trạng sức khỏe của ḿnh. Việc giáo dục sức khỏe chứng tỏ hiệu quả trong việc đạt được một số mục đích điều trị, ví dụ như ngưng hút thuốc (bằng chứng mức độ A)

Trong điều trị BPTNMT, không có một loại thuốc nào có thể làm thay đổi sự tiến triển xấu đi của chức năng phổi vốn là nét đặc trưng của bệnh lư này (bằng chứng thuyết phục A), v́ vậy, điều trị bằng thuốc chỉ có tác dụng cải thiện triệu chứng và / hoặc làm giảm biến chứng.

Các thuốc giăn phế quản (PQ) là những thuốc chủ lực để điều trị triệu chứng BPTNMT (bằng chứng A). Các thuốc này được dùng khi có yêu cầu hoặc dùng đều đặn để giảm hoặc pḥng ngừa triệu chứng. Các thuốc giăn PQ thường được sử dụng là nhóm chủ vận b2 (đường hít được ưu tiên hơn), kháng cholinergic, theophyllin hoặc kết hợp một trong những loại thuốc này. Sự chọn lựa thuốc giăn PQ tùy thuộc vào nguồn thuốc sẵn có, đáp ứng của từng BN về mặt cải thiện triệu chứng và những tác dụng phụ. Thuốc giăn PQ tác dụng ngắn có thể rẻ hơn nhưng lại không thuận tiện bằng thuốc giăn PQ tác dụng dài. Salmeterol, một loại thuốc giăn PQ tác dụng dài dạng hít, được chứng minh là cải thiện t́nh trạng sức khỏe đáng kể với liêù điều trị 50 mg x 2 lần/ngày (bằng chứng A). Sử dụng ipratropium bromid hít cũng cho kết quả tương tự (bằng chứng B). Theophyllin có hiệu quả trong BPTNMT, nhưng do khả năng gây độc tính cao cho nên các thuốc giăn PQ dạng hít được ưa chọn hơn.

Kết hợp các thuốc giăn PQ trong điều trị BPTNMT ổn định có thể làm cải thiện chức năng phổi, nhưng lại làm tăng chi phí điều trị mà lợi ích đạt được có khi chỉ tương đương với việc tăng liều của một thuốc giăn PQ nếu như việc tăng liều này không làm tăng tác dụng phụ đáng kể.

Điều trị dài ngày với glucocorticosteroid dạng hít chỉ thích hợp cho BN BPTNMT có bằng chứng đáp ứng với thuốc này trên hô hấp kế hoặc cho BN có FEV1<50% so với trị số dự kiến hoặc có các đợt kịch phát cần dù?g đến kháng sinh và glucocorticoid. Thời gian điều trị với glucocorticosteroid dạng hít được khuyến nghị là từ 6 tuần đến 3 tháng. Việc điều trị dài ngày bằng corticosteroid dạng uống không được khuyên dùng trong BPTNMT.

Ngoại trừ vắc-xin chống cúm (được chích mỗi năm 1-2 lần) tỏ ra hữu ích trong việc giảm độ nặng và ngừa được 50% số tử vong trong BPTNMT, một số thuốc khác (thuốc chống ôxy-hóa, thuốc điều ḥa miễn dịch) chưa có đủ bằng chứng để kết luận về lợi ích điều trị lâu dài.

Các thuốc không được khuyên dùng một cách thường xuyên trong xử trí BPTNMT ổn định là kháng sinh, thuốc kích thích hô hấp doxapram. Các thuốc bị chống chỉ định sử dụng thường xuyên là thuốc ho, thuốc giăn mạch dạng hít, thuốc an thần- gây ngủ.????

Những chương tŕnh luyện tập, phục hồi chức năng hô hấp tỏ ra có ích lợi cho BPTNMT, nó giúp cải thiện t́nh trạng dung nạp của BN với vận động thể lực, triệu chứng khó thở và mệt mỏi (bằng chứng A)

Liệu pháp oxygen lâu dài (> 15 giờ / ngày) đối với những BN suy hô hấp mạn tính được chứng minh là làm tăng thời gian sống sót của BN (bằng chứng A). Chỉ định oxy liệu pháp dài hạn bao gồm những BN có Pa02 < 55 mmHg hoặc Sa02 < 88% có hoặc không kèm theo tăng thán khí máu; hoặc Pa02 55 - 60mmHg, Sa02 89% nếu có kèm dấu hiệu tăng áp lực động mạch phổi, suy tim ứ huyết, đa hồng cầu (Hct > 55%). Mục đích điều trị nhằm duy tŕ Pa02 ít nhất 60mmHg, Sa02 ít nhất đạt 90% ở mực nước biển và ở t́nh trạng nghỉ ngơi, giúp bảo tồn những cơ quan quan trọng có đủ nguồn cung cấp oxy.

Bảng 4: Xử trí BPTNMT

Chung cho tất cả các giai đoạn

? Tránh các yếu tố nguy cơ

? Giáo dục sức khoẻ

? Chủng ngừa bệnh cúm

Giai đoạn 0: nguy cơ

? Ho khạc đàm kéo dài

? Phế dung kư b́nh thường

 

Giai đoạn I: Nhẹ

? FEV1/FVC < 70%

? FEV1> 80% trị số dự kiến

? Có triệu chứng hoặc không

? Dùng thuốc giăn PQ tác dụng ngắn khi cần

Giai đoạn II: Vừa

II A:

? FEV1/FVC < 70%

? 50% < FEV1 < 80% trị số dự kiến

? Có triệu chứng hoặc không

? Điều trị thường xuyên với một hoặc nhiều thuốc giăn PQ.

? Tập phục hồi chức năng

? Glucocorticosteroid dạng hít nếu có đáp ứng rơ về triệu chứng và chức năng phổi

II B:

? FEV1/FVC < 70%

? 30% < FEV1 < 50% trị số dự kiến

? Có triệu chứng hoặc không

 

? Điều trị thường xuyên với một hoặc nhiều thuốc giăn PQ.

? Tập phục hồi chức năng

? Glucocorticosteroid dạng hít nếu triệu chứng và chức năng phổi đáp ứng có ư nghĩa hoặc nếu có cơn kịch phát lặp lại.

III. Nặng

? FEV1/FVC < 70%

? FEV1 < 30% trị số dự kiến hoặc có dấu hiệu suy hô hấp, suy tim phải

 

? Điều trị thường xuyên với một hoặc nhiều thuốc giăn PQ.

? Glucocorticosteroid dạng hít nếu có đáp ứng rơ về triệu chứng và chức năng phổi hoặc nếu có cơn kịch phát lặp lại.

? Điều trị biến chứng

? Tập phục hồi chức năng

? Điều trị bằng ôxygen dài ngày nếu có suy hô hấp

? Xét đến khả năng điều trị phẫu thuật

IV. xử trí CƠN KỊCH PHÁT CỦA BPTNMT

Nguyên nhân thường gặp nhất của cơn kịch phát BPTNMT là nhiễm trùng đường dẫn khí và ô nhiễm không khí, tuy nhiên trong 1/3 các trường hợp người ta không xác định được nguyên nhân.

Những yếu tố chẩn đoán cơn kịch phát gồm có tất cả những sự gia tăng nào về cường độ các triệu chứng như ho khạc đàm nhiều hơn, khó thở nhiều hơn, xuất hiện đột ngột t́nh trạng khó thở lúc nghỉ ngơi; hoặc xuất hiện thêm những triệu chứng mới như sốt, ho đàm đục có mủ, xanh tím, phù ngoại vi, trở nên kém dung nạp với vận động thể lực, loạn nhịp. Một số BN c̣n kèm theo những triệu chứng không đặc hiệu như? mệt mỏi, mất ngủ, lú lẫn hay ngủ gà.

Đánh giá mức độ nặng dựa trên hỏi bệnh, khám lâm sàng và làm những xét nghiệm cần thiết như X quang phổi, đo khí máu, phế dung kư (thường khó thực hiện được trong cơn cấp). Việc so sánh kết quả khí máu và chức năng phổi trong cơn cấp so với các kết quả trước đây có thể cung cấp những thông tin quan trọng, bởi v́ sự thay đổi đột ngột các kết quả khí máu và chức năng phổi có ư nghĩa hơn là chỉ nh́n vào một giá trị tuyệt đối của kết quả đạt được. Những xét nghiệm sinh hoá đôi khi cũng giúp ích cho việc xác định nguyên nhân của cơn kịch phát, ví dụ như rối loạn điện giải, rối loạn thăng bằng kiềm toan ở những BN có bệnh lư kèm theo như tiểu đường, dinh dưỡng kém. Những dấu hiệu nặng của cơn kịch phát nặng bao gồm thay đổi t́nh trạng tri giác (lú lẫn, ngủ gà, hôn mê), FEV1 < 1 L hoặc lưu lượng đỉnh <100 L/ phút. Pa02< 60mmHg, và / hoặc Sa02 < 90% khi thở khí trời chứng tỏ t́nh trạng suy hô hấp. Ngoài ra, Pa02< 50mmHg, PaC02 > 70mmHg, pH < 7,30 hướng tới cơn kịch phát đe dọa mạng sống cần được theo dơi tích cựa tại khoa SSĐB.

Xử trí cơn kịch phát BPTNMT tại bệnh viện bao gồm:

? Oxygen có kiểm soát, khí máu được kiểm tra 30 phút sau khi bắt đầu dùng oxygen

? Thuốc giăn PQ: thuốc chủ vận b2 tác dụng nhanh dạng hít được ưu tiên lựa chọn trong cơn kịch phát BPTNMT. Có thể tăng liều và / hoặc tăng số lần sử dụng thuốc lên trong cơn kịch phát (bằng chứng A). Thuốc được cho qua buồng hít hoặc máy khí dung phun sương. Có thể phối hợp thêm anticholinergic khi không đáp ứng điều trị. mặc dù những bằng chứng về hiệu quả của điều trị phối hợp này c̣n đang bàn căi. Trong trường hợp cần thiết, có thể thêm aminophyllin tĩnh mạch.

? Corticosteroid uống hoặc tiêm tĩnh mạch có thể cho kèm theo với thuốc giăn PQ trong cơn kịch phát BPTNMT. Liều điều trị 30-40mg prednisolon/ ngày trong 10 - 14 ngày thường cân bằng giữa hiệu quả và an toàn.

? Kháng sinh: sự xuất hiện đàm mủ trong cơn kịch phát đủ chỉ định kháng sinh liệu pháp. Những tác nhân gây bệnh thường gặp là S. pneumoniae, H. influenzae, M. catarrhalis. Nếu không đáp ứng, thực hiện cấy đàm và kháng sinh đồ thích hợp.

?Các điều trị khác bao gồm: theo dơi cân bằng dịch và dinh dưỡng, có thể cân nhắc điều trị heparin dưới da, phát hiện và xử trí những t́nh trạng kèm theo (suy tim, loạn nhịp), theo dơi sát t́nh trạng BN.

Những chỉ định nhập SSĐB gồm có khó thở nặng hoặc không đáp ứng với điêù trị cấp cứu ban đầu, rối loạn tri giác, suy hô hấp, toan hô hấp nặng (pH < 7.3) mặc dù đă điều trị oxygen.

? Chỉ định giúp thở với áp lực dương không xâm lấn (NIPPV-non-invasive positive pressure ventilation): ít nhất có hai tiêu chuẩn

- Khó thở vừa - nặng có sử dụng cơ hô hấp phụ và thở bụng nghịch lư

- T́nh trạng nhiễm toan vừa - nặng (pH 7,30 - 7,35) và tăng thán khí máu (PaC02 > 45 - 60mmHg)

- Nhịp thở > 25 lần / phút

Chống chỉ định NIPPV bao gồm sự xuất hiện của một trong những yếu tố sau:

- Ngưng thở

- T́nh trạng tim mạch không ổn định (giảm huyết áp, loạn nhịp, nhồi máu cơ tim)

- Rối loạn tri giác hoặc không hợp tác

- Nguy cơ viêm phổi hít cao ; đàm đặc và nhầy

- Mới phẫu thuật vùng bụng hoặc mặt

- Chấn thương đầu mặt, bất thường cố định vùng mũi họng

- Béo ph́.

? Chỉ định giúp thở máy xâm lấn:

- Khó thở nặng có sử dụng cơ hô hấp phụ và thở bụng nghịch lư

- Nhịp thở > 35 lần / phút

- Giảm oxygen máu nghiêm trọng (Pa02 <40mmHg hoặc Pa02 / Fi02 < 200 mmHg)

- Toan hóa nặng (pH < 7.25) và tăng thán khí máu (PaC02 > 60 mmHg)

- Ngưng thở

- Rối loạn tri giác

- Biến chứng tim mạch (giảm huyết áp, sốc, suy tim)

- Những biến chứng khác (bất thường chuyển hóa, nhiễm trùng nặng, viêm phổi, tắc mạch phổi, chấn thương do áp lực, tràn dịch màng phổi lượng nhiều)

- Thất bại NIPPV

? Tiêu chuẩn xuất viện sau cơn kịch phát BPTNMT:

- Điều trị bằng chủ vận b2 hít không quá 6 lần/ ngày

- BN có thể đi bộ xung quanh pḥng

- BN có thể ăn và ngủ, không bị thức giấc v́ khó thở

- BN ổn định lâm sàng trong 12 - 24 giờ

- BN biết cách sử dụng dụng cụ hít và các thuốc điều trị

- Sắp xếp được kế hoạch chăm sóc tại nhà (oxygen dài hạn, dinh dưỡng, điều dưỡng)

- BN, gia đ́nh và thầy thuốc cảm thấy tin tưởng rằng BN có thể tự xoay xở tại nhà

Sau khi xuất viện, BN cần được theo dơi trong 4-6 tuần để đánh giá sự pḥng tránh tiếp xúc yếu tố nguy cơ, FEV1, sự hiểu biết cách sử dụng dụng cụ hít và các thuốc điều trị, nhu cầu oxygen trị liệu lâu dài và /hoặc máy phun mù tại nhà (đối với trường hợp BPTNMT nặng).

Theo Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease- Executive summary 2001


 

[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net