WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

B́nh luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

Meloxicam có nguy cơ thấp bị biến chứng dạ dày-ruột nghiêm trọng: phân tích tổng hợp trên 27.039 bệnh nhân


Biến chứng trên dạ dày-ruột là tác dụng ngoại ư thường gặp nhất của các thuốc kháng viêm không steroid (KVKS). Mặc dù những biến chứng nghiêm trọng như loét thủng và xuất huyết nặng ít xảy ra.

Nghiên cứu này tổng hợp xuất độ các biến chứng nghiêm trọng ở đường tiêu hóa trên, bao gồm thủng, tắc nghẽn và xuất huyết có ảnh hưởng rơ trên huyết động, của các thử nghiệm lâm sàng sử dụng meloxicam kéo dài tối thiểu 3 tuần và nghiên cứu tối thiểu trên 20 bệnh nhân.

Có 35 thử nghiệm với 27.309 bệnh nhân sử dụng meloxicam, thuốc KVKS so sánh hoặc giả dược trong tổng phân tích. Gần 39% các bệnh nhân (8109) >65 tuổi và? 1002 bệnh nhân (4%) có bệnh sử thủng, loét hoặc xuất huyết. Các trường hợp nghi ngờ tai biến dạ dày-ruột được xác định dựa trên những tiêu chí đă định trước. Báo cáo từng trường hợp và các chi tiết liên quan đệ tŕnh bằng phương pháp mù đôi lên Ủy ban độc lập để đánh giá.

Kết quả có 448 trường hợp nghi ngờ được đưa lên ủy ban phán xét. Ủy ban xác định có 54 trường hợp hội đủ những tiêu chí đă định trước là tai biến lâm sàng.

 

 

Số bệnh nhân

Số ngày trung b́nh sử dụng

Số năm - bệnh nhân tích lũy

Số tai biến

Tỷ lệ tích lũy /năm - bệnh nhân

Giả dược

736

56

113

0

0

Meloxicam 7,5

10158

33

918

3

0,3

Meloxicam 15

2960

179

1451

9

0,6

Meloxicam 22,5

910

241

600

6

1

Diclofenac

5464

35

524

9

1,7

Naproxen

243

117

78

1

1,3

Piroxicam

5371

41

603

16

2,7

Các tác giả kết luận là nguy cơ bị tai biến dạ dày-ruột có ư nghĩa trên lâm sàng khi sử dụng meloxicam th́ phụ thuộc vào liều dùng nhưng nguy cơ này thấp khi dùng vo1 liều khuyến cáo 7,5 mg và 15 mg.

Theo Singh G. European League Againt Rheuma http:/www.eular.org/eular2001


Meloxicam không làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, suy tim sung huyết, phù hoặc cao huyết áp so với KVKS: kết quả từ phân tích tổng hợp trên 27.039 BN


Nền tảng: Meloxicam (MOBIC) là một thuốc KVKS mới hiện đang được sử dụng trên 100 quốc gia với >40 triệu toa trong suốt 6 năm qua. Trong vô số các thử nghiệm lâm sàng, meloxicam cho thấy thuốc hiệu quả và ít tác dụng phụ trên đường tiêu hóa hơn những KVKS khác như diclofenac, piroxicam và naproxen. Tuy nhiên, trước đây tác dụng không mong muốn trên thận và tim mạch của meloxicam chưa được nghiên cứu đầy đủ. Đây là một vấn đề lâm sàng quan trọng v́ những nghiên cứu gần đây đă nêu lên mối quan tâm đáng kể về tính an toàn trên tim mạch và thận của một số chất ức chế chọn lọc COX- 2 mới.

Mục đích:? Để ghi nhận nguy cơ nhồi máu cơ tim, suy tim sung huyết, phù và cao huyết áp trên những bệnh nhân dùng meloxicam với liều 7,5-30mg, và những KVKS cổ điển (diclofenac 100-150 mg, naproxen 500-750 mg, piroxicam 20mg) trong một phân tích gộp trên 27.039 bệnh nhân.

Phương pháp: Gộp các dữ liệu từ tất cả những thử nghiệm lâm sàng với meloxicam có thời gian điều trị ít nhất 3 tuần và có tối thiểu là 20 bệnh nhân trong mỗi nhóm thuốc. Có 35 thử nghiệm với 27.039 bệnh nhân dùng meloxicam, hoặc các KVKS so sánh khác, hoặc giả dược được đưa vào phân tích này. Gần 39% (8.109) bệnh nhân? >65 tuổi. V́ thời gian của những thử nghiệm này thay đổi khác nhau, nên trong báo cáo này, những tỷ lệ biến cố được tính là xuất độ các phản ứng phụ trên 100 bệnh nhân- năm.

Kết quả: Trong số 27.039 bệnh nhân, có 15.071 bệnh nhân dùng meloxicam ở những liều từ 7,5-30 mg mỗi ngày. Tổng số có 11.078 bệnh nhân dùng diclofenac, naproxen hoặc piroxicam. 736 bệnh nhân c̣n lại dùng giả dược. Số bệnh nhân bị những phản ứng phụ trên tim mạch và thận được tŕnh bày trong? bảng dưới đây. Tần suất các phản ứng phụ trong ngoặc đơn xem như tỷ lệ trên 100 bệnh nhân.

 

Meloxicam

KVKS

Giả dược

- Số bệnh nhân được điều trị theo dự tính

(n= 15.071)

(n= 11.078)

(n = 736)

- Biến cố trên bệnh nhân - năm

3129

1202

113

- Nhồi máu cơ tim

18 (0,58)

8 (0,67)

2 (1,8)

- Suy tim

15 (0,48)

7 (0,58)

0 (0)

- Phù ngoại biên

98 (3,13)

79 (6,57)

1 (0,88)

-Cao huyết áp

82 (2,62)

32 (2,66)

5 (4,42)

- Cao huyết áp nặng

25 (0,8)

15 (1,25)

2 (1,77)

Số liệu trong các ngoặc đơn phản ánh tần suất những phản ứng phụ trên 100 bệnh nhân- năm.

Kết luận: Meloxicam trong những liều từ 7,5 - 30mg không gây gia tăng tần suất những phản ứng phụ trên tim mạch hay thận.

Theo Singh G. European League Againt Rheuma http:/www.eular.org/eular2001


HIỆU QUẢ CỦA MELOXICAM SO VỚI CÁC KVKS TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM XƯƠNG KHỚP tại các cơ sở chăm sóc sức khoẻ: KẾT QUẢ CỦA THỬ NGHIỆM IMPROVE


Theo truyền thống ,các KVKS vẫn c̣n là chỗ dựa cho việc xử trí giảm đau những triệu chứng của viêm xương khớp (OA). Nói chung trong khi các KVKS được coi như có hiệu quả kiểm soát đau và viêm, th́ chúng cũng thường gây ra những phản ứng phụ trên đường tiêu hóa, hoặc mất hiệu quả dẫn đến phải ngưng dùng thuốc, hoặc chuyển qua dùng một KVKS khác. Những phản ứng phụ này có thể làm tăng đáng kể chi phí thuốc men trực tiếp dùng điều trị cho nhóm bệnh nhân viêm xương khớp. Điều này cho thấy có sự không hài ḷng với những trị liệu hiện nay về phía bệnh nhân, bác sĩ hay cả hai. Thời gian ngưng dùng thuốc hoặc chuyển đổi sang một KVKS khác có thể được dùng như một đo lường để khảo sát những nguyên nhân của việc ngưng dùng thuốc, chủ yếu là do hiệu quả và độ dung nạp. Hiện nay chưa có những nghiên cứu tiền cứu ngẫu nhiên nào nhằm khảo sát thời gian để ngưng thuốc; hoặc chuyển đổi sang các KVKS khác được công bố.

Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm so sánh tỷ lệ % điều trị thành công hay thất bại ở những bệnh nhân chọn ngẫu nhiên được dùng meloxicam 7,5 mg so với các KVKS mà thầy thuốc đă chọn cho xử trí thông thường trong một loạt các cơ sở điều trị khác nhau (MCOs). Một trường hợp được định nghĩa là thành công khi bệnh nhân khởi đầu dùng KVKS đầu tiên được chọn, và không phải chuyển sang KVKS khác trong suốt thử nghiêm. Trong nghiên cứu, bệnh nhân có thể tạm ngưng KVKS đầu tiên được chỉ định dùng, sau đó dùng lại chính thuốc đó và cũng vẫn được coi như thành công. Một trị liệu được xem là thất bại khi bệnh nhân khởi đầu dùng KVKS nghiên cứu đă được chọn ban đầu và sau đó phải chuyển qua một KVKS khác vào bất kỳ thời điểm nào của thử nghiệm.

Đây là nghiên cứu nhăn mở (mù đơn), có đối chiếu hai nhóm, ngẫu nhiên, đa trung tâm về sử dụng meloxicam 7,5 mg so với các KVKS khác trong việc ghi toa tại các cơ sở chăm sóc thông thường đa dạng. Những bệnh nhân bị viêm xương khớp ở hông, đầu gối, tay hoặc cột sống được chọn ngẫu nhiên cho dùng hoặc meloxicam 7,5 mg hoặc bất cứ KVKS nào khác đă được ghi toa mà trước đây bệnh nhân chưa từng dùng để điều trị bệnh viêm xương khớp của họ dựa trên bệnh trạng của người bệnh. Nghiên cứu được thiết kế nhằm phản ánh những thực hành hiện nay trong mô h́nh chăm sóc sức khoẻ và không làm tăng chi phí và gây thêm thủ tục không cần thiết ở giai đoạn thu nhận bệnh nhân cũng như suốt trong giai đoạn giám sát. Thời gian điều trị/ giám sát kéo dài trong 06 tháng và việc đánh giá được thực hiện nhằm xác định những lư do ngưng thuốc vĩnh viễn do các KVKS khởi đầu được chọn? ghi toa, số liệu pháp KVKS, cũng như chi phí về y tế, hiệu quả và sự an toàn.

Kết quả có 1.312 bệnh nhân tham gia thử nghiệm, khoảng 67% bệnh nhân là phụ nữ, và 95 % da trắng. Tuổi trung b́nh khoảng 64 và thời gian trung b́nh mắc bệnh viêm xương khớp là > 9 năm. Tỷ lệ chuyển đổi KVKS và mức độ hiệu quả sẽ được thảo luận. Các bác sĩ và bệnh nhân rất tán thành thử nghiệm.

Theo P.Gagnier, G.Singh, J.I.Reed, M.Kobe, P.Arnold, E.Hwang. Ridgefield, Y Khoa/ Miễn Dịch học và Thấp Khớp học, Trung Tâm Y Khoa Trường Đại Học Standford, Palo Alto, Ca, Worcester, MA,US


CÁCH XỬ TRÍ HIỆN NAY VỀ POLƯP MũI


Polưp mũi là khối u lành tính thường gặp nhất trong hố mũi. Đó là những túi nang chứa đầy dịch, cấu tạo bởi một tổ chức phù nề, thâm nhiễm nhiều loại tế bào viêm trong đó có dưỡng bào, bạch cầu đa nhân ái toan, lympho bào và tương bào (plasma cells), và được bao bọc bên ngoài bằng một lớp biểu mô đường hô hấp có lông chuyển.

Polưp mũi hiện diện trên khoảng 2% dân số. Tỉ lệ nam:nữ là 2:1. Bệnh gặp ở mọi lứa tuôỉ, tần số bệnh tăng dần theo tuổi với đỉnh là tuổi trên 50. Polưp mũi không phải là một bệnh mà là một dấu chứng thực thể có trong nhiều bệnh lư khác nhau, 20-30% bệnh nhân polưp mũi bị suyễn,12% không dung nạp aspirin.

Polưp mũi gặp trong 1/3 bệnh nhân không dung nạp aspirin, 7% bệnh nhân hen phế quản và 2% bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính, 20% bệnh nhân viêm nang xơ. Polưp mũi có thể là biểu hiện của một số triệu chứng hiếm gặp như hội chứng Young, hội chứng Kartagener, hội chứng Churg-strauss. Sự kết hợp giữa polưp mũi không dung nạp aspirin và hen phế quản gọi là hội chứng Samter hay tam chứng aspirin, chiếm 2-3% bệnh nhân hen phế quản thường và 20% bệnh nhân hen phế quản nặng. Nguyên nhân của polưp mũi vẫn chưa được biết rơ. Các giả thuyết về cơ chế bệnh sinh gồm: dị ứng, nhiễm trùng, mất cân bằng của hệ thần kinh tự chủ, bất thường mucopolysaccharid, bất thường enzym, mẫn cảm thuốc, bế tắc cơ học, histamin, tiền oncogen, trong đó dị ứng và nhiễm trùng là hai giả thuyết về nguyên nhân đáng tin cậy nhất.

Triệu chứng chủ yếu lúc đầu là nghẹt mũi. Các triệu chứng khác tương tự như trong viêm mũi dị ứng: chảy nước mũi, hắt hơi, cay ngứa mắt. Bệnh nhân có thể than phiền bị nhức đầu, lên cơn hen, hoặc có dịch chảy phía sau mũi xuống họng. Mất khứu giác là một triệu chứng quan trọng khác. Mũi có thể đau nhức nếu có nhiễm trùng cấp. Một số bệnh nhân c̣n có thể bị các bệnh lư tai giữa hoặc bị viêm mũi mạn do thuốc thông mũi loại co mạch.

Khám thực thể thấy xương mũi dăn rộng với các polưp tḥ ra khỏi mũi trong các truờng hợp nặng. Ngoài ra có thể quan sát polưp bằng soi mũi hoặc nội soi mũi. Đó là những tổn thương nhẵn, bóng, màu xám nhạt, có chân cuống nhỏ, ấm mềm, di động, không đau nhức. Thường có nhiều polưp mọc thành chùm ở cả hai bên mũi với nhiều kích thước khác nhau.

Mặc dù polưp mũi là khối u lành tính thường gặp nhất trong hố mũi nhưng cần phân biệt một số u khác có thể gặp là túi màng năo (meningoceles) hoặc túi tuỷ màng năo (meningomyeloceles) lồi vào mũi qua một chỗ khuyết của mảnh đứng xương sáng, hoặc một u nang b́. Các u lành khác có thể gặp là u mạch máu hoặc u mạch sợi (angiofobromas). Ngoài ra các u nhú mũi, cacxinom gai bào (squamous cell carcinomas)? và saccom có thể có các đặc điểm tương tự như polưp mũi. Tuy nhiên các u ác tính thường chỉ hiện diện một bên mũi, mật độ chắc và chảy máu tự nhiên.

Điều trị polưp mũi gồm 2 cách: nội khoa và ngoại khoa, hoặc phối hợp cả hai. Mục đích của xử trí nội khoa là loại bỏ polưp và các triệu chứng viêm mũi, tái lập việc thở bằng mũi và phục hồi khứu giác, đồng thời dự pḥng tái phát.

Nền tảng của điều trị nội khoa là sử dụng các steroid tại chỗ. Có bằng chứng cho thấy các phản ứng viêm trong hen phế quản, viêm mũi dị ứng và polưp mũi là do các lympho T và các cytokin tạo nên. Các sản phẩm cytokin và hoạt hoá rất nhạy cảm với steroid. Các nghiên cứu cho thấy steroid làm giảm số lượng tế bào lympho T ở mô polưp mũi, giảm số lượng tế bào ái toan đă hoạt hóa, nhưng ít có ảnh hưởng đến số lượng dưỡng bào. Steroid c̣n có tác dụng chống tiết dịch viêm gián tiếp qua ức chế việc thành lập các chất trung gian hóa học và cytokin, bằng chứng là nồng độ albumin của dịch tiết mũi sau một thời gian điều trị với steroid đều giảm.

Nhiều nghiên cứu có đối chứng cho thấy steroid tại chỗ (xịt mũi, khí dung) làm thông mũi, làm giảm 50% các triệu chứng viêm mũi. Tác dụng này có thể kéo dài trên một năm, nhưng nếu ngưng điều trị, các triệu chứng sẽ có lại dần dần.? cao

Mất khứu giác (anosmia) là một triệu chứng rất khó chịu trên đa số bệnh nhân. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy đáp ứng trị liệu của steroid tại chỗ kém hơn so với steroid đường toàn thân trong trường hợp này.

Kết quả của nhiều nghiên cứu có đối chứng cho thấy Steroid tại chỗ làm giảm đáng kể kích thước polưp ngay cả làm polưp hoàn toàn biến mất. Việc giảm kích thước polưp làm bệnh nhân hết triệu chứng nhưng các polưp nhỏ có thể vẫn c̣n tồn tại ở mũi trên. Do đó tái phát chỉ được tính khi polưp quan sát được qua soi mũi có triệu chứng.

Các tác dụng phụ hiếm gặp: chảy máu cam, nhức đầu, ngầy ngật. Thuốc hấp thụ toàn thân ở mức tối thiểu và liều dùng rất thấp so với liều độc ức chế thượng thận. Điều trị bằng steroid toàn thân cũng cho kết quả tốt nhưng không có chỉ địng sử dụng thường qui, thường bắt đầu với liều prednisolone 40-60mg/ngày trong 3-4 ngày, sau đó giảm liều dần.

Điều trị phẫu thuật là hướng chọn lựa dành cho những bệnh nhân có chất lượng cuộc sống bị trở ngại, những bệnh nhân thất bại với điều trị nội khoa hoặc có chống chỉ định điều trị nội khoa. Ngoài ra cũng c̣n tùy thuộc vào việc có hen phế quản kèm theo hay không, v́ hen phế quản làm tăng liều steroid sử dụng. Có nhiều kỹ thuật mổ: cắt polưp đơn thuần bằng tḥng lọng hoặc forcep dưới gây tê tại chỗ, mổ xoang sàng trong hố mũi, mổ xoang sàng bướm và khuynh hướng hiện nay là mổ nội soi mũi xoang chức năng (functional endoscopic sinus surgery). Jan Kowski (1992) khi thực hiện phẫu thuật mổ sàng nội soi cho 50 bệnh nhân trong đó có 30 bệnh nhân bị hen, 12 bệnh nhân trong số đó không dung nạp aspirin, cho biết có 91% bệnh nhân giảm cơn suyễn, giảm liều corticosteroid sử dụng so với trước khi mổ, và trong 20 bệnh nhân bị polưp mũi đơn thuần không có ca nào lên cơn hen hậu phẫu. Tuy phẫu thuật không trị dứt được polưp mũi nhưng nhiều nghiên cứu mới đây cho thấy dùng steroid tại chỗ lâu dài sau mổ có thể giảm được độ nặng của việc tái phát bệnh. Tóm lại, có thể kiểm soát bệnh là mục tiêu lâu dài có tính thực tế hơn là cố trị khỏi bệnh.

Theo Jayson Greenberg: Current management of nasal polyposis, 1998


Lamivudin trong điều trị viêm gan siêu vi B (phần 1: điều trị 1 năm)


Hàng năm ở châu Âu có ít nhất 900.000 đến 1 triệu người nhiễm siêu vi viêm gan B (HBV). Hậu quả là có khoảng 90.000 trở thành người mang HBV mạn tính ở châu Âu. Đây là một phần trong số ước tính khoảng 350 triệu người mang mầm bệnh mạn tính trên thế giới, trong đó hơn ba phần tư là những người ở châu Á.

Lamivudin (ZeffixTM) là thuốc kháng siêu vi dạng uống đầu tiên được công nhận để dùng điều trị viêm gan B mạn tính. Lamivudin là một chất tương đồng nucleotid có khả năng ức chế nhanh chóng và mạnh mẽ sự sao chép HBV thông qua tác dụng ức chế sự tổng hợp DNA siêu vi. Nội dung dưới đây sẽ giới thiệu tóm tắt những kết quả chủ yếu của chương tŕnh nghiên cứu lâm sàng về lamivudin, tập trung vào hiệu quả trị liệu của thuốc sau thời gian điều trị tối thiểu là một năm.

Dược lư học lâm sàng của lamivudin

Những nghiên cứu dược động học với lamivudin cho thấy thuốc được hấp thu nhanh sau khi uống, đạt nồng độ cực đại trong ṿng 0,5-1 giờ. Khoảng 70% liều uống được thải trừ qua thận dưới dạng không thay đổi. Khoảng 5-10% được bài tiết dưới dạng chất chuyển hóa trans-sulphoxid. Đánh giá dược động học của lamivudin trên những nhóm bệnh nhân khác nhau chứng tỏ việc chỉnh liều chỉ cần thiết đối với bệnh nhân trẻ em và bệnh nhân suy thận từ vừa đến nặng. Lamivudin không gắn nhiều với protein huyết tương và không tương tác với bất cứ thuốc nào được thử nghiệm.

Nghiên cứu xác định khoảng liều

Những thử nghiệm lâm sàng ban đầu cho thấy lamivudin có hoạt tính chống siêu vi mạnh đối với các trường hợp nhiễm HBV mạn tính ở người. Lamivudin liều 100 mg mỗi ngày một lần tạo được đáp ứng chống siêu vi cực đại. Lamivudin được dung nạp tốt và chỉ có những báo cáo về tác dụng phụ nhẹ. Do đó, liều 100 mg được chọn để đánh giá thêm trong các thử nghiệm lâm sàng qui mô lớn. Những nghiên cứu ban đầu chỉ dùng thuốc trong thời gian từ 4 đến 24 tuần và thường không đem lại sự cải thiện kéo dài về mặt virút-học hoặc các dấu ấn của bệnh khi ngưng điều trị. Do vậy, các nghiên cứu giai đoạn III được tiến hành trong một thời gian dài hơn (tối thiểu là một năm).

Thiết kế nghiên cứu lâm sàng giai đoạn III????

Bảng I tŕnh bày tổng quan về thiết kế của các nghiên cứu giai đoạn III. Tất cả các nghiên cứu này đều là nghiên cứu ngẫu nhiên, có đối chứng và mù đôi, ngoại trừ hai nghiên cứu so sánh với interferon-a (IFN-a). Hai nghiên cứu đó không hoàn toàn được làm mù v́ lư do y đức cấm dùng giả dược dạng tiêm.

Tiêu chuẩn nhận vào các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III được thiết kế để chọn bệnh nhân trưởng thành có bằng chứng bệnh gan viêm-hoại tử không mất bù do nhiễm HBV mạn tính. Các tiêu chuẩn đặc hiệu bao gồm chẩn đoán viêm gan B mạn tính có bằngchứng đang sao chép siêu vi (kháng nguyên bề mặt viêm gan B [HBsAg] dương tính ít nhất là 6 tháng; HBV DNA dương tính và kháng nguyên e viêm gan B [HBeAg] dương tính khi tầm soát và tồn tại ít nhất một tháng trước khi tầm soát) cũng như tăng alanin aminotransferase (ALT) vừa phải (thường là từ 1,3 đến 10 lần giới hạn trên của khoảng trị b́nh thường (ULN) và/hoặc có bằng chứng mô học của bệnh gan viêm-hoại tử. Bệnh nhân viêm gan B mạn tính có anti-HBe dương tính (được giả định là có đột biến pre-core), và bệnh nhân trước đây không c̣n đáp ứng với liệu pháp IFN-a cũng được nghiên cứu trong các thử nghiệm riêng biệt.

Các nghiên cứu đối chứng với giả dược trong viêm gan B mạn tính có HBeAg (+)

Có ba nghiên cứu đối chứng với giả dược đánh giá hiệu quả của một năm điều trị lamivudin trên tổng số 808 bệnh nhân viêm gan B mạn tính với HBeAg (+). Trong nghiên cứu của Schalm và cộng sự, nhóm được điều trị lamivudin c̣n có thêm số liệu về đáp ứng với đơn liệu pháp lamivudin.

Đáp ứng vi-rút học

Trong số bệnh nhân dùng lamivudin, nồng độ trung b́nh của HBV DNA giảm nhanh, tối thiểu là giảm c̣n 94% dưới trị số trước điều trị trong suốt thời gian nghiên cứu. Sự ức chế HBV DNA huyết thanh tương tự nhau trên bệnh nhân người Hoa và người phương Tây, và trên bệnh nhân chưa hề được điều trị. Trong tất cả các nghiên cứu, HBV DNA giảm xuống mức không c̣n phát hiện được ít nhất là một lần trong quá tŕnh điều trị ở hơn 89% số bệnh nhân dùng lamivudin.

Sự chuyển đổi huyết thanh HBeAg (không c̣n phát hiện được HBeAg và xuất hiện anti-HBe) trên bệnh nhân chưa hề điều trị được dùng lamivudin xảy ra với một tỉ lệ cao có ư nghĩa so với giả dược (p<0,04). Kết quả cũng tương tự khi so sánh liệu pháp lamivudin một năm với liệu tŕnh chuẩn bằng IFN-a. Tỉ lệ bệnh nhân dùng lamivudin một năm đạt được sự chuyển đổi huyết thanh đều tương tự nhau trong các nghiên cứu này. Sự chuyển đổi huyết thanh vẫn ổn định ở ít nhất là 91% số bệnh nhân sau khi đă ngưng dùng lamivudin một thời gian là 6 tháng (thời gian theo dơi trung vị).

Bảng I. Tổng quan các nghiên cứu lâm sàng giai đoạn III về lamivudin

Tác giả, năm

Địa điểm

Điều trị

Số BN

Lai và cs, 1998

Châu Á

Lamivudin 100 mg; 25 mg;

(1 năm) Giả dược?

358

Liaw và cs, 2000, 1998

Châu Á

Lamivudin 100 mg; 25 mg; (2 năm) Giả dược?

334

Leung và cs, 1999, 1999

Châu Á

Lamivudin 100 mg; 25 mg

(3 năm) Giả dược ?

334

Dienstag và cs, 1999

Hoa Kỳ

Lamivudin 100 mg;

Giả dược?

143

Schalm và cs, 2000

Châu Âu, Canada

Lamivudin 100 mg; IFN;

Lamivudin và IFN

229

Schiff và cs, 1998

Châu Âu, Hoa Kỳ

Lamivudin 100 mg; Giả dược; Lamivudin và IFN

238

Tassopoulos và cs, 1999

Châu Âu

Lamivudin 100 mg;

Giả dược?

125

IFN = interferon-a

1Thất bại với IFN

2Viêm gan B mạn tính với HBeAg (-), anti-HBe (+) (giả định có đột biến pre-core)

Tỉ lệ dồn của chuyển đổi huyết thanh HBeAg cao hơn trên bệnh nhân có nồng độ ALT cao trước điều trị. Ví dụ, trong nghiên cứu ở châu Á, sự chuyển đổi huyết thanh HBeAg xảy ra ở 5% của 87 bệnh nhân dùng lamivudin có nồng độ ALT trước điều trị dưới 2 lần ULN, ở 34% của 53 bệnh nhân có nồng độ ALT trước điều trị trên 2 lần ULN, và ở 64% của 11 bệnh nhân có nồng độ ALT trước điều trị trên 5 lần ULN. Tỉ lệ tương ứng ở nhóm giả dược, theo thứ tự, là 2%, 7%, và 14%.

Cải thiện bệnh gan

Mô học gan được đánh giá bằng hai phương pháp. Phương pháp thứ nhất là so sánh điểm số của chỉ số hoạt lực mô học Knodell (HAI) trước và điều trị. "Cải thiện" được qui định là điểm số HAI giảm ? 2 điểm; "diễn biến xấu" là tăng ?2 điểm. Phương pháp thứ hai là xếp hạng mù về kết quả cặp sinh thiết trước và sau điều trị của mỗi bệnh nhân, đánh giá độ nặng của hoạt độ viêm-hoại tử và xơ hóa gan.

Trong các nghiên cứu đối chứng với giả dược, mô học gan được cải thiện với một tỉ lệ cao có ư nghĩa trên bệnh nhân dùng lamivudin so với bệnh nhân dùng giả dược (67% so với 30% [Dienstag và cộng sự, 1999], và 62% so với 30% [Lai và cộng sự, 1998]; p<0,001). Đồng thời bệnh gan diễn biến xấu ít hơn trên bệnh nhân dùng lamivudin, so với giả dược. Sự cải thiện mô học gan tương tự nhau trên bệnh nhân người Hoa và bệnh nhân phương Tây, và trên bệnh nhân chưa hề được điều trị so với bệnh nhân trước đó đă dùng liệu pháp IFN-a. Một nghiên cứu lâm sàng khác trên bệnh nhân người Nhật cũng cho kết quả tương tự: mô học gan được cải thiện ở 19/20 (95%) bệnh nhân ít nhất là cách biệt hai điểm sau một năm điều trị lamivudin (Suzuki và cộng sự, 1999).

Những kết quả thu được qua so sánh sự thay đổi điểm số Knodell tương ứng mật thiết với kết quả xếp hạng mù cặp tiêu bản sinh thiết gan trước và sau điều trị. Trong cách phân tích này, hoại tử và viêm được cải thiện ở một tỉ lệ cao hơn trên bệnh nhân dùng lamivudin so với bệnh nhân dùng giả dược.

Trong thử nghiệm ở châu Á, 44% số bệnh nhân có ALT b́nh thường trước điều trị đă được cải thiện mô học gan sau một năm điều trị lamivudin. Tỉ lệ đáp ứng mô học với lamivudin hơi cao hơn (56%) ở bệnh nhân có nồng độ ALT cao trước điều trị, có lẽ do phạm vi cải thiện lớn hơn trên bệnh nhân có bệnh nặng hơn. Mặc dù vậy, kết quả này chỉ ra rằng một số bệnh nhân có ALT b́nh thường nhưng có bệnh gan viêm-hoại tử hoạt động có thể được cải thiện với lamivudin.????????

Liệu pháp lamivudin có thể cải thiện mô học gan cho dù có xảy ra mất HBeAg hay chuyển đổi huyết thanh hay không. Trong nghiên cứu của Lai và cộng sự, mô học gan được cải thiện ở 46% số bệnh nhân vẫn c̣n HBeAg (+) khi kết thúc một năm điều trị với lamivudin. Thậm chí mô học gan được cải thiện ở một tỉ lệ bệnh nhân lớn hơn không c̣n phát hiện được HBeAg (64%). Như vậy, trong điều kiện trị liệu với lamivudin, mất HBeAg thường dẫn đến sự cải thiện đồng thời về mô học, thậm chí mô học gan cũng có thể được cải thiện khi không mất HBeAg hoặc không có chuyển đổi huyết thanh.

Xơ hóa ở gan có thể dẫn đến xơ gan và suy gan, và một mục tiêu trị liệu chủ yếu đối với bệnh nhân viêm gan B mạn tính là đảo ngược sự xơ hóa hoặc chặn đứng sự tiến triển của nó. Tác dụng của lamivudin trên xơ hóa gan được đánh giá bằng cách so sánh mù các tiêu bản sinh thiết trước và sau điều trị. Trong hai nghiên cứu đối chứng với giả dược về đơn liệu pháp lamivudin trên bệnh nhân chưa hề được điều trị, xơ hóa diễn biến xấu thấp hơn một cách có ư nghĩa trên bệnh nhân dùng lamivudin so với bệnh nhân dùng giả dược (3% và 6% số bệnh nhân dùng lamivudin có diễn biến xấu so với 15% và 27% bệnh nhân dùng giả dược, theo thứ tự, trong các nghiên cứu tại Hoa Kỳ và châu Á, p<0,01).

Nhiều bệnh nhân (34-47%) dùng lamivudin được cải thiện về xơ hóa gan trong thời gian một năm điều trị. Một tỉ lệ cải thiện tương tự (35%) cũng được ghi nhận trong một nghiên cứu trên bệnh nhân người Nhật. Tuy sự cải thiện xơ hóa không được phân tích thống kê trong những nghiên cứu này, nhưng số liệu gợi ư rằng sự ức chế siêu vi do lamivudin có thể đảo ngược t́nh trạng xơ hóa sẵn có trên một số bệnh nhân, cũng như giảm tiến triển xơ hóa.??

Phân tích hồi cứu các số liệu tích hợp của giai đoạn III cho thấy bệnh nhân dùng lamivudin i? phát triển xơ gan hơn một cách có ư nghĩa so với bệnh nhân dùng giả dược (1,8% so với 7,1%; p=0,04; Goodman và cs, 1999). Phát triển xơ gan trong phân tích này được định nghĩa là sự tiến triển của điểm số Knodell trước điều trị từ 0, 1, 2, 3 lên đến 4 sau điều trị.

Trong số bệnh nhân có nồng độ ALT tăng cao khi nhận vào, sự b́nh thường hóa ALT kéo dài xảy ra ở bệnh nhân dùng lamivudin nhiều hơn một cách có ư nghĩa so với giả dược (p<0,001 trong mỗi nghiên cứu đối chứng với giả dược). Kết quả tích hợp của các nghiên cứu giai đoạn III cho thấy liệu pháp lamivudin thường dẫn đến sự cải thiện ALT huyết thanh trong vài tháng đầu điều trị, với nồng độ ALT trung b́nh đạt giới hạn b́nh thường trong ṿng 6 tháng. Những kết quả tương tự được báo cáo trong một nghiên cứu lớn về lamivudin tại Trung Quốc, gồm 429 bệnh nhân. Sau một năm dùng lamivudin, sự b́nh thường hóa ALT kéo dài xảy ra ở 60% số bệnh nhân nhóm lamivudin, so với 28% ở nhóm giả dược (p<0,01) (Yao và cs, 1999).

Nghiên cứu viêm gan B mạn tính với HBeAg (-)

Một nghiên cứu đối chứng giả dược cho thấy ngoài đáp ứng HBeAg, kết quả đáp ứng với lamivudin cũng tương tự với bệnh nhân viêm gan B có HBeAg (-), anti-HBe (+) (được giả định là có đột biến pre-core), so với bệnh nhân nhiễm HBV (thể hoang dại) có HBeAg (+) được nhận vào trong các nghiên cứu giai đoạn III khác (Tassopoulos và cs, 1999). Nồng độ HBV DNA huyết thanh giảm rơ rệt khi khởi trị, và vẫn thấp hoặc không phát hiện được trong suốt 6 tháng nghiên cứu mù đôi. Sau 6 tháng, tỉ lệ bệnh nhân có nồng độ ALT b́nh thường và HBV DNA không phát hiện được trong huyết thanh ở nhóm dùng lamivudin (63%) nhiều hơn so với nhóm giả dược (6%; (p<0.01). trong số bệnh nhân dùng lamivudin 12 tháng, có 55% được cải thiện mô học, tương tự như trong các nghiên cứu lâm sàng trên những nhóm bệnh nhân khác. Sự b́nh thường hóa kéo dài ALT huyết thanh trong khi điều trị xảy ra ở nhóm dùng lamivudin 12 tháng nhiều hơn một cách có ư nghĩa so với người dùng giả dược (67% so với 5%; p<0,001).

Mất HBeAg và chuyển đổi huyết thanh không phải là kết cục đánh giá trị liệu trên bệnh nhân viêm gan B có HBeAg (-), v́ nồng độ anti-HBe phát hiện được trong huyết thanh là đặc trưng của t́nh trạng này. Cũng v́ lư do đó, HBeAg không phải là dấu ấn huyết thanh có ích để tiên đoán thời gian kéo dài đáp ứng điều trị. Mặc dù vậy, ngưng dùng lamivudin sau một năm điều trị, những lợi ích trị liệu vẫn tồn tại trên một số bệnh nhân khi kết thúc 4 tháng theo dơi định kỳ sau điều trị (Tassopoulos và cs, 1999); HBV DNA vẫn âm tính ở 43% số bệnh nhân và ALT vẫn b́nh thường ở 24%, trong khi có 16% số bệnh nhân đồng thời có cả hai đáp ứng này. Do vậy, nên xét đến việc điều trị dài hạn trên bệnh nhân viêm gan B mạn tính mà HBeAg(-).

Liệu pháp phối hợp: lamivudin với IFN-a

Có hai nghiên cứu giai đoạn III đánh giá hiệu quả lamivudin dùng phối hợp với IFN-a để điều trị viêm gan B mạn tính (Schiff và cs, 1998 và Schalm và cs, 2000). Cơ sở lư luận của hai nghiên cứu này dựa vào cơ chế tác động khác nhau của IFN-a và lamivudin, và khả năng có thể tương tác hiệp lực với nhau của chúng (Bảng I). Không nghiên cứu nào cho thấy một ưu điểm rơ rệt của liệu pháp phối hợp so với lamivudin đơn thuần.

Liệu pháp lamivudin một năm làm mất HBeAg và chuyển đổi huyết thanh HBeAg tương tự như kết quả của một liệu tŕnh chuẩn với IFN-a. Trên bệnh nhân chưa hề điều trị, tỉ lệ chuyển đổi huyết thanh của liệu pháp phối hợp lamivudin/IFN-a (29%) cao hơn so với đơn liệu pháp lamivudin (20%) hoặc IFN-a (21%). Những khác biệt này không có ư nghĩa thống kê trong phân tích theo dự tính điều trị ban đầu. Tuy nhiên, một phân tích hồi cứu theo đề cương nhận thấy một sự khác biệt có ư nghĩa (p=0,02) giữa liệu pháp phối hợp lamivudin/IFN-a (36%) và đơn liệu pháp lamivudin (19%). Trong nghiên cứu trên bệnh nhân không đáp ứng với IFN-a (Schiff và cs, 1998), liệu pháp phối hợp không ích lợi hơn lamivudin đơn thuần xét về mặt chuyển đổi huyết thanh HBeAg.

Theo Dixon J.S. và Boehme R. E.,

Acta Gastroenterol Belg 2000;63:348-358)


Tổng phân tích? về TĂNG LIỀU STEROID HÍT HOẶC THÊM VÀO SALMETEROL TRONG ĐIỀU TRỊ HEN PHẾ QUẢN CÓ TRIỆU CHỨNG


Hướng dẫn điều trị hen phế quản của Anh quốc năm 1997 công nhận nghiên cứu bước ngoặt của Greening và CS(Lancet 1994; 344: 523-529) và khuyến cáo salmeterol như một thuốc thay thế cho việc tăng liều corticosteroid hít ở bệnh nhân có triệu chứng đang dùng beclometason dipropionat (hoặc budesonid) 100-400 mg (hoặc fluticason 50-200 mg) 2lần/ngày. Nhưng có rất ít hướng dẫn về hướng lựa chọn điều trị có lợi cho bệnh nhân nhất, do thiếu các dữ liệu được công bố. T́nh trạng lưỡng lự đến nay vẫn không thay đổi. Các nghiên cứu trước đây vẫn thường dùng các số đo đặc trưng cho sự cải thiện chức năng hô hấp (lưu lượng đỉnh thở ra PEF hoặc thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu FEV1) như là các biến số chủ yếu, nhưng một nghiên cứu mới đây đă đề xuất sử dụng tỉ lệ các cơn hen trở nặng để đo lường kết quả chính yếu.

Trong tổng phân tích này, các tác giả tổng hợp các nghiên cứu việc thêm salmeterol so với sự tăng (ít nhất gấp đôi) liều steroid hít (ở những bệnh nhân có triệu chứng dù đang sử dụng liều steroid hít từ thấp đến trung b́nh) để xem việc thêm salmeterol ảnh hưởng thế nào đến tỉ lệ các cơn trở nặng.

Phương pháp

Truy cập tất cả các nghiên cứu phù hợp với tiêu chí chọn lựa từ năm 1985 đến nay dù thể hiện bằng ngôn ngữ nào. Việc phân tích bắt đầu từ tháng 1/1998. Tiêu chí chọn là các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, với thiết kế so sánh trực tiếp giữa việc thêm salmeterol vào liều steroid hít hiện tại và sự gia tăng (ít nhất gấp đôi) liều hít steroid hiện tại trong thời gian ít nhất 12 tuần, bệnh nhân là người lớn hoặc trẻ? ?12 tuổi vẫn bị triệu chứng hen phế quản dù hiện dùng steroid hít.

Kết quả

Trong số 2005 thử nghiệm về điều trị bằng salmeterol, chọn được 9 nghiên cứu thiết kế nhóm song song với thời gian kéo dài >12 tuần, bao gồm 3685 bệnh nhân tuổi ?12 tuổi, có triệu chứng hen phế quản dù đang sử dụng steroid hít. So với nhóm tăng liều steroid, nhóm dùng thêm salmeterol có số trung b́nh lưu lượng đỉnh PEF buổi sáng cao hơn sau ba tháng (khác biệt 22,4 l/phút, khoảng tin cậy 95%:15,0-30,0 l/phút, p < 0,001) và sau sáu tháng (khác biệt 27,7 (19,0-36,4)l/phút, p<0,001). Thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu FEV1 cũng tăng sau ba tháng (0,10 (0,04-0,16) lít p< 0,001) và sau sáu tháng (0,08 (0,02-0,14)lít p<0,001). Tỷ lệ phần trăm trung b́nh ngày và đêm không có triệu chứng cũng tăng như vậy (ba tháng: ngày -12% (9% đến 15%), đêm -5% (5% đến 7%), sáu tháng: ngày -15% (12% đến 18%), đêm -5% (3% đến 7%); (tất cả P <0,001).


H́nh 1: độ chênh lệch về tỷ lệ có ?1 cơn trở nặng (với khoảng tin cậy 95%). Độ chênh dương cho thấy lợi ích của điều trị khi thêm salmeterol

Tỷ lệ trung b́nh ngày và đêm không cần phải điều trị cứu cấp (ba tháng: ngày -17% (14% đến 20%), đêm -9% (7% đến 11%); sáu tháng: -20% (17 đến 23%), đêm 8% (6% đến 11%) p<0,001).

Tỷ lệ bệnh nhân có cơn trở nặng trong nhóm salmeterol cũng ít hơn (chênh lệch 2,73% (0,43% đến 5,04%) p=0,02 ) và tỉ lệ bệnh nhân có cơn trở nặng mức độ vừa và nặng cũng ít hơn (2,42% (0,24% đến 4,6%) p=0,03) (cơn trở nặng mức độ vừa: cần tăng liều hít steroid, cơn trở nặng mức độ vừa, nặng: cần uống steroid viên hoặc nhập viện).

Bàn luận

Hen phế quản hiện nay được định nghĩa là một bệnh lư viêm mạn tính đường dẫn khí và liệu pháp kháng viêm được xem như là một trị liệu nền tảng. Mặc dù đă dùng corticosteroid hít để điều trị t́nh trạng viêm, nhưng nhiều bệnh nhân vẫn phải tiếp tục chịu đựng các triệu chứng của cơn hen. Dù việc thêm salmeterol vào trị liệu hít steroids có cải thiện chức năng hô hấp và ức chế triệu chứng, nhưng các công tŕnh trưóc đây đă không đề cập đến tác dụng trên các cơn trở nặng vốn có thể được xem như chỉ để của t́nh trạng viêm đường dẫn khí tiềm tàng.

Trong tổng phân tích này, các tác giả đă chứng minh rằng, so với việc tăng liều steroid hít, việc trị liệu thêm với salmeterol ở các bệnh nhân hen phế quản có triệu chứng đang sử dụng steroid hít liều từ thấp đến trung b́nh đă cho thấy những cải thiện đáng kể về chức năng hô hấp và triệu chứng, đồng thời giảm nhu cầu điều trị cấp cứu. Hơn nữa, các tác giả cũng không t́m thấy chứng cứ nào về sự gia tăng các cơn trở nặng, do vậy việc kiểm soát t́nh trạng viêm đường hô hấp không bị tổn hại bởi phương pháp điều trị này. Đối với tất cả hoặc cơn trở nặng trung b́nh hay nghiêm trọng số lượng cần điều trị là 40, gợi ư rằng so với việc tăng gấp đôi liều steroid, thêm salme-terol trong điều trị 40 bệnh nhân có triệu chứng được sẽ giúp ngăn ngừa cơn trở nặng xảy ra ở một bệnh nhân được thêm salmeterol.

Nhưng phương pháp dùng để chọn bệnh nhân vào nghiên cứu ở riêng từng nghiên cứu nhỏ cho thấy tổng phân tích này chỉ đại diện cho một so sánh giữa một dân số xác định gồm những bệnh nhân người lớn hoặc thanh thiếu niên mắc hen phế quản mà phần lớn có đáp ứng với chất chủ vận beta và là những người vẫn c̣n triệu chứng dù là dùng steroid hít. Trong dân số này, những người tăng liều steroid hít có đáp ứng kém hơn so với những người được dùng thêm vào salmeterol. Đây là điều có thể gây tranh căi dù rằng đó không phải là một khám phá đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên những tiêu chuẩn chọn vào này cũng là nhằm làm sáng tỏ hướng chọn lựa xử trí vốn đă làm các thầy thuốc trong thực tế điều trị hàng ngày hết sức khó xử.

Kết luận

Cho thêm salmeterol ở những bệnh nhân có triệu chứng đang dùng corticosteroid hít mỗi ngày sẽ làm chức năng phổi tốt hơn, kiểm soát triệu chứng tốt hơn, giảm sự cần thiết phải dùng thuốc cấp cứu và có ít cơn trở nặng hơn so với tăng liều steroid hít.

Theo Stephen Shrewsbury (BMJ 2000;320;1368-73)

Meta-analysis of increased dose of inhaled steroid or addition of salmeterol in symptomatic asthma (MIASMA)


HIỆU QUẢ CỦA lIỆU PHÁP CHELAT HÓA VỚI SUCCIMER TRÊN SỰ PHÁT TRIỂN THẦN KINH-TÂM LƯ Ở TRẺ EM BỊ PHƠI NHIỄM VỚI CH̀


Hằng ngàn trẻ em, đặt biệt là trẻ em nghèo đang sống trong các khu nhà đô thị tồi tàn, bị phơi nhiễm với một lượng ch́ đủ để gây ra tổn thương nhận thức. Người ta không rơ liệu các liệu pháp làm giảm nồng độ ch́ trong máu có pḥng tránh hoặc giảm tổn thương này hay không.

Các tác giả chọn 780 trẻ có nồng độ ch́ trong máu từ 20 - 44 mcg/dL (1,0 đến 2,1 mmol/L) đưa vào một nghiên cứu ngẫu nhiên, có đối chứng với giả dược, mù đôi, gồm 3 đợt điều trị với succimer, một chất chelat (chelator = chất tạo một phức hợp không hoạt tính với kim loại) đường uống tạo phức với ch́, mỗi đợt 26 ngày. Các trẻ trong nghiên cứu đều sống trong những khu nhà ổ chuột nội ô tuổi từ 12 đến 33 tháng tuôỉ ; 77% là da đen, 5% là người nói tiếng Tây Ban Nha. Khám theo dơi bao gồm trắc nghiệm về các chức năng nhận thức, vận động hành vi và thần kinh tâm lư trong thời gian 36 tháng.

Kết quả trong 6 tháng đầu của nghiên cứu, nồng độ ch́ trung b́nh trong máu ở các trẻ uống succimer là 4.5 mg/dL (0,2 mmol/L) thấp hơn nồng độ trung b́nh ở trẻ uống giả dược (KTC 95%? 3.7- 5.3 mcg/dL ). Sau thời gian theo dơi 36 tháng, điểm số IQ (chỉ số thông minh ) trung b́nh của trẻ uống succimer thấp hơn 1 điểm so với trẻ uống giả dược và hành vi của ttẻ uống succimer được cha mẹ trẻ đánh giá là hơi tệ hơn trước. Tuy nhiên trẻ uống succimer? có điểm số tốt hơn một chút qua đánh giá bằng Deve-lopmental Neuropsychological Assessment, một bộ trắc nghiệm được thiết kế để định lượng các khiếm khuyết thần kinh - tâm lư được cho là làm trở ngại việc học tập. Tất cả các khác biệt này đều nhỏ và đều không có ư nghĩa thống kê.

Điều trị bằng succimer có làm giảm nồng độ ch́ trong máu nhưng không cải thiện điểm số của các trắc nghiệm về nhận thức, hành vi và chức năng thần kinh - tâm lư ở những trẻ có nồng độ ch́ trong máu < 45 mcg/dL. V́ succimer hiệu quả cũng chỉ bằng với các chất chelat ch́ hiện có, liệu pháp chelat hóa không được chỉ định cho các trẻ có nồng độ ch́ trong máu tương tự như trên.

Theo Walter J, et al. N Engl J Med 2001;344:1421-6


FLUVOXAMIN TRONG ĐIỀU TRỊ CÁC RỐI LOẠN LO ÂU Ở TRẺ EM VÀ THIẾU NIÊN


Các dược phẩn ức chế chọn lọc sự tái thu hồi (reuptake) serotonin có hiệu quả trong điều trị các rối loạn lo âu và khí sắc ở người lớn, nhưng có rất ít dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của các thuốc này trong điều trị trẻ em bị các rối loạn lo âu.

Các tác giả nghiên cứu 128 trẻ từ? 6 đến 17 tuổi đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán về ám ảnh sợ xă hội, rối loạn lo âu chia ly, hoặc rối loạn lo âu toàn thể và đă được trị liệu tâm lư trong 3 tuần nhưng không có cải thiện. Những trẻ này được phân bố ngẫu nhiên hoặc uống Fluvoxamin (tối đa 300mg một ngày) hoặc uống giả dược trong 8 tuần, sau đó được đánh giá bằng các thang điểm phân loại được thiết kế để định lượng mức độ lo âu và tổn thương.

Kết quả cho thấy về các triệu chứng lo âu, các trẻ trong nhóm fluvoxamin có độ giảm điểm trung b́nh (? độ lệch chuẩn) là 9,7 ? 6,9 điểm dựa trên thang điểm Pediatric Anxiety Rating Scal (có phổ điểm từ 0 đến 25, điểm càng cao mức độ lo âu càng nhiều) so với nhóm giả dược độ giảm điểm là 3,1 ? 4,8 điểm ( p<0,001) Về đánh giá mức độ cải thiện tổng thể, dựa trên thang điểm Clinical Global Impressions-Improvement Scale (khung thang điểm là 8 ,trẻ có điểm số 3 là có cải thiện, điểm số 2: cải thiện nhiều, điểm số 1 :không có triệu chứng). 48/63 trẻ trong nhóm fluvoxamin (79%) có đáp ứng với điều trị (có điểm số dưới 4 ) so với 19/65 trong nhóm giả dược (29%, p<0,001), Năm trẻ trong nhóm fluvoxamin (8%) gián đoạn trị liệu v́ các tác dụng ngoại ư so với 1 trẻ trong nhóm giả dược (1%).

Fluvoxamin là một liệu pháp có hiệu quả cho trẻ em và thiếu niên có các vấn đề về ám ảnh sợ xă hội, rối loạn lo âu chia ly hoặc rối loạn lo âu tổng thể.

Theo The research Unit on pediatric psychopharma-cology anxiety study group.

N Engl J Med 2001;344:1279-85


HIỆU LỰC CỦA VACXIN KẾT HỢP SALMONELLA TYPHI Vi Ở TRẺ TỪ 2 ĐẾN 5 TUỔI


Sốt thương hàn là bệnh phổ biến ở các nước đang phát triển. Các vacxin thương hàn hiện được phép lưu hành chỉ tạo miễn dịch được 70%, không bảo vệ được trẻ nhỏ và không được sử dụng cho tiêm chủng thường quy. Một vacxin kết hợp mới được điều chế gồm kháng nguyên vỏ polysaccharid Vi của Salmonella typhi gắn với? ngoại độc tố A Pseudomonas aeruginosa tái tổ hợp không độc lực (rEPA), đă tăng cường tính sinh miễn dịch ở người lớn và ở trẻ từ? 5 đến 14 tuổi và có đáp ứng mũi tiêm nhắc ở trẻ từ 2-4 tuổi.

Đây là một nghiên cứu mù đôi, ngẫu nghiên, có đối chứng giả dược, các tác giả lượng giá tính an toàn, tính sinh miễn dịch và hiệu lực của vacxin Vi - rEPA ở trẻ từ 2 đến 5 tuổi tại 16 xă thuộc tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam. Mỗi trẻ trong số 11,091 trẻ đều được tiêm 2 mũi hoặc vacxin Vi-rEPA hoặc giả dược. Các trường hợp sốt thương hàn được chẩn đoán bằng phân lập S.typhi bằng cách cấy máu sau ngày sốt thứ 3 (nhiệt độ ?37,5oC), được t́m thấy qua sự tầm soát tích cực trong khoảng thời gian 27 tháng. Ước tính hiệu lực vacxin bằng cách so sánh tỉ lệ nhiễm bệnh thương hàn trong nhóm vacxin với nhóm giả dược.

Kết quả cho thấy 4 trường hợp S.typhi được phân lập trong số 5525 trẻ được tiêm ngừa vacxin Vi-rEPA đầy đủ và 47 trường hợp S.typhi trong số 5566 trẻ được tiêm hai mũi giả dược (hiệu lực 91,5%, KTC 95%: 77,1 - 96,6%, p<0,001). Trong số 771 trẻ chỉ tiêm có một mũi, có một trường hợp thương hàn trong nhóm vacxin và 8 trường hợp trong nhóm giả dược. Các trường hợp thương hàn được phân bố bằng nhau trong các nhóm tuổi. Không có phản ứng phụ nghiêm trọng nào được ghi nhận. Trong tất cả 36 trẻ được khảo sát 4 tuần sau hai mủi tiêm vacxin thứ hai nồng độ kháng thể IgG Vi đă tăng gấp hơn 10 lần.

Vacxin thương hàn kết hợp Vi-rEPA an toàn, có tính sinh miễn dịch và có hiệu lực trên 90% ở trẻ từ 2 đến 5 tuổi. Các đáp ứng kháng thể và tính hiệu quả gợi ư rằng vacxin này tối thiểu cũng có hiệu lực bảo vệ 5 tuổi.

Theo Feng Ying C, Vo Anh Ho, Ha Ba Khiem.

N Engl J Med 2001;344:1263-9


DỰ PH̉NG TÁI PHÁT XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA TRÊN Ở NHỮNG BỆNH NHÂN BỊ NHIỄM KHUẨN HELICOBACTER PYLORI HIỆN ĐANG DÙNG ASPIRIN LIỀU THẤP HOẶC NAPROXEN


Nhiều bệnh nhân từng bị xuất huyết tiêu hóa trên vẫn tiếp tục dùng aspirin liều thấp để dự pḥng các bệnh tim mạch hoặc dùng các thuốc kháng viêm không steroid khác (KVKS) để điều trị đau cơ xương. Đây là nhóm bệnh nhân nguy cơ rất cao bị xuất huyết tái phát. Hiện chưa có liệu pháp dự pḥng nào hữu hiệu. Các dữ liệu dịch tễ gần đây cho thấy điều trị cùng lúc với thuốc ức chế bơm proton giảm được nguy cơ xuất huyết ở những bệnh nhân này. Tuy nhiên giá thành lâu dài của liệu pháp này rất đáng kể. Do đó cần có một phương cách khác, đó là điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori. Nhưng liệu nhiễm? H.pylori có là yếu tố? nguy cơ của xuất huyết tiêu hóa ở những bệnh nhân này hay không là điều chưa chắc chắn.

Các tác giả đưa vào nghiên cứu những bệnh nhân có tiền căn xuất huyết tiêu hóa trên đă bị nhiễm H.pylori và đang dùng aspirin liều thấp hoặc thuốc KVKS khác. Các tác giả cũng lượng giá xem liệu việc diệt khuẩn hoặc liệu pháp omeprazol có hiệu quả hơn trong dự pḥng tái phát xuất huyết không. Tuyển chọn những bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa trên có tổn thương được xác định qua nội soi. Các vết loét được điều trị với omeprazol 20 mg mỗi ngày trong 8 tuần hoặc lâu hơn cho đến khi lành hẳn. Sau đó, những bệnh nhân nào trước đây đă dùng aspirin sẽ được cho aspirin 80mg mỗi ngày và những người trước đây dùng KVKS khác sẽ được cho 500 mg Naproxen hai lần một ngày trong 6 tháng. Những bệnh nhân của mỗi nhóm sau đó sẽ được phân bố ngẫu nhiên và riêng rẽ hoặc dùng omeprazol 20 mg mỗi ngày trong 6 tháng hoặc dùng liệu pháp tiệt trừ gồm 120 mg bismuth subcitrate, 500mg tetracyclin, 400 mg metronidazol, tất cả đều uống 4 lần một ngày trong một tuần, tiếp theo là giả dược cho đủ 6 tháng.

Có tất cả 400 bệnh nhân thu nhận vào nghiên cứu (250 dùng aspirin và 150 dùng một KVKS khác). Trong nhóm dùng aspirin, xác suất xuất huyết tái phát trong ṿng 6 tháng là 1,9% đối với bệnh nhân dùng liệu pháp tiệt trừ và 0,9% đối với bệnh nhân dùng omeprazol (độ chênh tuyệt đối 1,00%, khoảng tin cậy 95%, -1.9 đến 3.9%). Trong nhóm dùng KVKS, xác suất tái phát xuất huyết là 18,8% ở bệnh nhân dùng liệu pháp tiệt trừ và 4,4% ở bệnh nhân dùng omeprazol (độ chênh tuyệt đối 14,4%, 95% khoảng tin cậy, 4,4 - 24,4%, P= 0,005).

Trong số những bệnh nhân nhiễm khuẩn H.pylori và có tiền căn xuất huyết tiêu hóa trên hiện đang dùng aspirin liều thấp, việc tiệt trừ H.pylori tương đương với điều trị bằng omeprazol trong dự pḥng xuất huyết tái phát. Nhưng trong những bệnh nhân đang sử dụng một KVKS khác, như naproxen chẳng hạn, omeprazol vượt trội hơn so với điều trị tiệt trừ H.pylori trong dự pḥng xuất huyết tái phát.

Theo Francis K.L.Chan và CS

N Engl J Med, 2001;344; 967-73


NGƯNG HÚT THUỐC LÁ Ở NHỮNG BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MạN TÍNH :MỘT NGHIÊN CỨU NGẪU NHIÊN, MÙ ĐÔI, CÓ ĐỐI CHỨNG với GIẢ DƯỢC


 

Hút htuốc lá có kết hợp với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) trong hơn 80% trường hợp. Mục tiêu của các tác giả là khảo sát hiệu quả của bupropion giải phóng chậm (amfebutamon SR) trong việc thúc đẩy cai thuốc ở bệnh nhân COPD .

Đây là một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược gồm 404 bệnh nhân COPD ở mức độ nhẹ hoặc trung b́nh, hút thuốc ?15 điếu một ngày, được phân bố hoặc dùng bupropion SR (150mg ? 2 lần/ngày) hoặc giả dược trong 12 tuần. Tất cả bệnh nhân đều được tham vấn về ngưng thuốc lá. Thuốc nghiên cứu được dùng một tuần trước khi bệnh nhân thử ngưng thuốc lá. Chỉ số đánh giá cuối về hiệu quả là cai thuốc hoàn toàn và liên tục từ đầu tuần thứ 4 đến cuối tuần thứ 7. Bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu được theo dơi đến tháng thứ 6. Phân tích dựa trên bệnh nhân được điều trị theo dự tính.

Kết quả: Tất cả bệnh nhân đều là người nghiện thuốc lâu năm với tiền căn hút thuốc vào khoảng 51 gói-năm. Tỉ lệ cai thuốc liên tục từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 7 ở những người dùng bupropion SR cao hơn đáng kể so với những người dùng giả dược (28% [57/204] so với 16% [32/200]; p=0,003). Tỉ lệ cai thuốc liên tục ở những người dùng bupropion SR từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 12 (18% [36/204] so với 10% [20/200]) và từ tuần 4 đến 26 (16% [32/204] vs 9% [18/200]) cao hơn so với nhóm giả dược (p<0,05). Thêm nữa, các triệu chứng của hiện tượng thèm thuốc và của hội chứng cai thuốc ở nhóm dùng bupropion SR cũng nhẹ hơn. Có 7 bệnh nhân ngừng thuốc v́ các tác dụng ngoại ư.

Bupropion SR là một dược phẩm hỗ trợ được dung nạp tốt và có hiệu quả trong việc ngưng thuốc lá ở những bệnh nhân COPD mức độ nhẹ hoặc trung b́nh.

Theo Tashkin DP. Lancet 2001;357:1571-75


 

 

[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này