|
Vioxx (rofecoxib) - CHẤT ỨC CHẾ CHUYÊN BIỆT COX-2 TRONG
ĐIỀU TRỊ cơn ĐAU CẤP và THOÁI HÓA KHỚP
Ngày 4/7/2001 Hội thấp khớp học TP.Hồ Chí
Minh và công ty dược phẩm Merck Sharp Dohme tổ chức hội thảo về "Vioxx
(rofecoxib) - chất ức chế chuyên biệt cox-2
trong điều trị cơn đau cấp và thoái hóa khớp". Tham dự hội thảo
có Bác sĩ Peter Jones, chuyên về Bệnh Thấp Khớp và Phục Hồi Chức Năng, khoa thấp
khớp bệnh viện Queen Elizabeth Rotorua, New Zealand.
Trong 3 mô h́nh nghiên cứu đau cấp tính,
Vioxx đă được chứng minh là có hiệu quả tương đương với các KVKS. Trong cơn đau
sau phẫu thuật răng, 75% BN đă đánh giá Vioxx giảm đau tốt hoặc rất tốt, so với
20% ở BN dùng giả dược. Sử dụng sau phẫu thuật chỉnh h́nh, Vioxx cũng tốt như
naproxen. Trong? nghiên cứu khác, dùng Vioxx trước và sau mổ đă làm giảm liều
morphin sử dụng để giảm đau sau mổ. Trong? nghiên cứu ở các BN đau lưng mạn
tính, ngay ngày đầu sử dụng, Vioxx đă có hiệu quả đến buổi tối khi BN đi ngủ.
Trong các nghiên cứu bệnh thoái hóa khớp
từ 1 tuần đến 1 năm, Vioxx đă có tác dụng lâm sàng tương đương với liều cao của
các thuốc KVKS đem so sánh (ibuprofen, diclofenac, nabumeton). Trong các nghiên
cứu 1 tuần và 12 tuần, Vioxx cũng tốt như naproxen 500mg dùng 2 lần một ngày, và
tốt hơn hẳn so với giả dược để làm giảm cơn đau về đêm, cứng khớp vào buổi sáng
và đau khi đi bộ trên đường bằng phẳng. Trong một nghiên cứu 12 tháng Vioxx cũng
tốt như diclofenac 75mg dùng 2 lần mỗi ngày.
Vioxx được so sánh với celecoxib 200mg
dùng ngày 1 lần hay paracetamol (acetaminophen) 1000mg dùng ngày 1 lần trong một
nghiên cứu về bệnh thoái hóa khớp ở khớp gối. Sau 6 tuần điều trị, Vioxx 12,5mg
dùng ngày 1 lần có hiệu quả tốt hơn giả dược và tương đương với celecoxib 200mg
dùng ngày 1 lần. Vioxx 25mg dùng ngày 1 lần hiệu quả hơn hẳn so với celecoxib
hoặc giả dược đối với các triệu chứng đau về đêm, cứng khớp vào buổi sáng và đau
khi đi bộ. Trong nghiên cứu này, tỉ lệ BN đánh giá Vioxx 12,5mg hoặc 25mg dùng
ngày 1 lần cho hiệu quả tốt hoặc rất tốt hơn so với celecoxib (61% so với 45%).
Tính an toàn trên đường tiêu hóa của Vioxx
đă được cải thiện tốt hơn nhiều. Trong một thử nghiệm lâm sàng trên 1500 BN bị
bệnh thoái hóa khớp, tỉ lệ loét dạ dày-tá tràng qua nội soi ở nhóm rofecoxib
tương tự như nhóm giả dược. Nội soi dạ dày tá tràng được thực hiện từ mức khởi
điểm, tuần thứ 6, 12, và 24 trên các BN sử dụng rofecoxib 25mg và 50mg mỗi ngày,
ibuprofen 2400mg mỗi ngày, hoặc giả dược. Xuất độ của các ổ loét > 3mm vào tuần
lễ thứ 12 là: 7,3% với giả dược, 4,7% với rofecoxib 25mg, 8,1% % với rofecoxib
50mg, và 28,5% với ibuprofen. Xuất độ của thủng đường tiêu hóa trên, loét hoặc
xuất huyết nặng (PUBs) được đánh giá trong một tổng phân tích 8 thử nghiệm lâm
sàng về rofecoxib trong bệnh thoái hóa khớp (n=5435), sử dụng nhiều loại KVKS
khác nhau. Các biến chứng nặng trên đường tiêu hóa như thủng, loét và xuất huyết
(PUBs) ở nhóm điều trị với rofecoxib được ghi nhận ít hơn nhiều cũng như ít có
trường hợp ngưng thuốc do tác dụng ngoại ư so với các nhóm điều trị với các KVKS
khác. Creatinin huyết thanh không thay đổi sau 12 tháng điều trị, tuy nhiên có
một ít ảnh hưởng trên chức năng thận dưới dạng giữ muối và nước. Phù ngoại biên
và sự gia tăng nhẹ huyết áp có thể xảy ra.
Để khẳng định tính an toàn trên đường tiêu
hóa của rofecoxib, một thử nghiệm lâm sàng tiền cứu, ngẫu nhiên được thực hiện
đánh giá xuất độ các tai biến lâm sàng trên đường tiêu hóa trên -nghiên cứu
VIGOR. Nhóm BN có nguy cơ cao được chọn trong nghiên cứu đánh giá về hậu quả
trên đường tiêu hóa là những BN viêm khớp dạng thấp tuổi > 50 (>40 nếu đang dùng
prednison) được uống hoặc Vioxx liều cao (50mg; ngày 1 lần) hoặc naproxen 500mg;
2 lần /ngày. Nhận xét về hiệu quả lâm sàng cho thấy có sự cải thiện tương đương
về độ nặng của viêm khớp theo đánh giá chung của BN và bác sĩ. Xuất độ các tai
biến lâm sàng trên đường tiêu hóa trên (loét có triệu chứng, xuất huyết, tắc
nghẽn hoặc thủng) là: naproxen 4,5; Vioxx 2,1 trên 100 BN/năm. Xuất độ các biến
chứng nặng (thủng, xuất huyết nặng hoặc tắc nghẽn) là: naproxen 1,4; Vioxx 0,6
trên 100 BN/năm. Các yếu tố như tuổi trên 65 tuổi, sử dụng steroid và không sử
dụng KVKS trước đó gắn liền với nguy cơ tai biến cao hơn. Nói chung Vioxx làm
giảm từ 54% đến 62% tỉ lệ các tai biến nặng trên lâm sàng mà có thể gây nguy
hiểm thực sự cho BN, 41 BN nên được điều trị với Vioxx thay v́ naproxen trong 1
năm để tránh 1 tai biến nặng.?
HỘI THẦN KINH HỌC TP.Hồ Chí Minh HOẠT ĐỘNG NGÀY MỘT VỮNG
CHẮC
Hội được thành lập từ tháng 9 năm 1996, do
GS Lê Văn Thành làm Chủ tịch và Thư kư Thường trực là BS Lê Minh. Trải qua gần 5
năm hoạt động Hội Thần Kinh Học đă có nhiều bước tiến đáng kể trong tổ chức và
họat động.
Với số lượng hội viên ban đầu chỉ 120
người, đến nay đă tăng lên gần gấp đôi (220 người). Ban Chấp Hành nhiệm kỳ II
(1999 - 2002) gồm 15 vị, là những người thực sự hoạt động và gắn bó với Hội. Vấn
đề tổ chức và quản lư hội viên của Hội Thần kinh khá chặt chẽ; BCH Hội đề ra quy
định rơ ràng về quyền lợi và trách nhiệm của hội viên. Ban Thư kư luôn theo dơi
và cập nhật danh sách hội viên một cách quy củ (đặc biệt là vấn đề theo dơi danh
sách hội viên hành nghề tư, trong việc thực hiện Nghị quyết liên tịch giữa Bộ Y
Tế và Tổng Hội Y Dược Học Việt Nam về quản lư hành nghề y tế tư nhân); Những hội
viên mới gia nhập đều được tổ chức đăng kư và ra mắt trong các buổi sinh hoạt
của Hội; Tổ chức tốt việc thu hội phí và phát thẻ hội viên cũng như trích nộp
hội phí lên Hội Y Dược Học Thành Phố một cách đều đặn.
Về mặt hoạt động, Hội Thần Kinh TP HCM c̣n
làm chức năng của một Hội khu vực, bao gồm:
- Sinh hoạt KHKT: định kỳ, đều đặn, có kế
hoạch; các đề tài báo cáo và công tŕnh NCKH có tính chọn lọc, giúp cập nhật
kiến thức và gắn kết giữa các hội viên.
- Thông tin báo chí: Hội có ra được tập
san chuyên ngành, phát hành phục vụ đều đặn đến các hội viên.
- Đào tạo bồi dưỡng: Tổ chức mời chuyên
gia trong nước và nước ngoài tham gia giảng dạy, nâng cao kiến thức cho hội
viên.
- Tham vấn phản biện: Đóng góp ư kiến tổ
chức và hoạt động lên Tổng Hội, ư kiến xây dựng ngành.
- Hoạt động xă hội như đóng góp xây nhà
t́nh thường - nhà t́nh nghĩa, tổ chức nhiều đoàn khám chữa bệnh miễn phí cho
người nghèo, dân ở vùng sâu vùng xa, ủng hộ đồng bào vùng thiên tai lũ lụt .
- Quan hệ Quốc tế: Hội đă liên hệ đến
nhiều tổ giúp đỡ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và chuyên môn. Cử hội viên đi
dự các Hội nghị KHKT quốc tế.
Ngày 5/7/2001 vừa qua, Hội Thần Kinh Học
TP HCM đă tổ chức sinh hoạt KHKT định kỳ lần thứ 2 (ba tháng/ lần) tại Hội
trường lớn của bệnh viện Chợ Rẫy. Tham dự buổi sinh hoạt có khoảng 150 hội viên,
có 04 đề tài được báo cáo.
Bài sơ lược tổng quan về EEG Biofeedback
cho thấy một hướng mới về điều trị luyện tập năo bộ tương tác thông qua EEG. EEG
Biofeedback là một cách thức học tập, có thể làm cho người nào đó tự thay đổi
những sóng năo bộ của chính anh ta bằng một phương pháp luyện tập có điều kiện
được lập tŕnh sẵn. Trong khi luyện tập, thông tin về đặc tính sóng năo bộ của
anh ta được biểu hiện cho anh ta biết và anh ta có thể tác động để tự thay đổi.
EEG Biofeedback được sử dụng trong các trường hợp: rối loạn khiếm khuyết sự chú
ư, rối loạn giấc ngủ ở trẻ em, trầm cảm ở trẻ em, rối loạn lo âu và những cơn
hoảng loạn, đau đầu mạn tính, migrain và những loại đau đầu căng thẳng, rối loạn
khả năng học tập đặc biệt chứng khó học, rối loạn đường máu, hội chứng tiền kinh
nguyệt - măn kinh, đau mạn tính, rối loạn hành vi, chấn thương đầu, những rối
loạn giấc ngủ ở người lớn, tật nghiến răng, trầm cảm đơn cực nguyên phát, rối
loạn ám ảnh cưỡng bức, hội chứng mệt mỏi mạn tính, động kinh, nghiện rượu-thuốc,
phơi nhiễm độc tố trước sinh, chấn thương sọ năo, ù tai, rối loạn tự miễn, rối
loạn lưỡng cực, những rối loạn ăn uống, đột quỵ, tổn thương hóa chất, bại năo,
rối loạn căng thẳng chấn thướng, giật cơ ban đêm, sa sút trí tuệ, xơ cứng rải
rác, rối loạn phản xạ giao cảm, khó thở khi ngủ, hội chứng chân không nghỉ,
chứng ngủ rũ. Theo BS Đàm Quốc Phối, việc luyện tập EEG Biofeedback là quá tŕnh
học tập, kết quả dần dần được củng cố và h́nh thành, cần phải trải qua thời gian
nhất định để nhận thấy được; đa số cải thiện sau 10 lần tập. EEG Biofeedback
ngày càng phát triển mạnh mẽ đang trở thành phương pháp điều trị đơn giản, không
xâm nhập không có tác dụng phụ nghiêm trọng, không phụ thuộc thuốc, có lợi ích
đáng kể được minh chứng bằng hiệu quả lâm sàng, tuy cơ chế nền tảng, cở sở sinh
lư chính xác của quá tŕnh chưa được hiểu biết rơ ràng.
Hầu hết các kết quả đạt được bằng phương
pháp dùng thuốc tâm thần cũng có thể thành công bằng phướng pháp EEG
Biofeedback. Hơn nữa, những kết quả này có thể lâu bền. Những trường hợp nặng
như phụ thuộc thuốc liều cao không chấp nhận được hoặc có tác dụng phụ nặng nề
với thuốc đang sử dụng hoặc kháng với những phương pháp điều trị khác, tốt nhất
nên được xử trí bằng phối hợp EEG Biofeedback với sử dụng thuốc được giảm liều.
BS Lê Thiện Anh Tuấn
Đặc điểm lâm sàng HIV/AIDS trẻ em tại BV Nhi đồng 1-
đề xuất hướng pḥng ngừa
Ngày 8/6/2001 tại BV Nhi đồng 1 tổ chức
hội thảo "Đặc điểm lâm sàng HIV/AIDS trẻ em tại BV Nhi đồng 1- đề xuất
hướng pḥng ngừa"
Theo BS Trần Tấn Trâm hiện nay trên thế
giới cho đến hết năm 2000 có 36,1 triệu người mắc HIV/AIDS và 21,8 triệu người
chết từ lúc có dịch. Trong năm 2000, có 3 triệu người chết và 5,3 triệu người
mới mắc. Tại Việt Nam, cho đến hết năm 1999 có tổng cộng 28.661 trường hợp
HIV/AIDS (theo UBQG PC HIV/AIDS) và WHO và UBQG PC HIV/AIDS dự đoán:
1. Tổng số người lớn và trẻ em mắc
HIV/AIDS cho đến cuối năm 1999 là 100.000 (trong đó: 99.000 đàn ông, 20.000 phụ
nữ và 2.500-trẻ em)?????????
2. Trong năm 1999, số tử vong v́ AIDS là
2.500.
3. Tổng số trẻ em mồ côi đến cuối năm 1999
là 3.200, số c̣n sống sót: 2.772
4. Cho đến hết tháng 4 năm 2001, theo
UNICEF có tổng cộng 34.445 trường hợp mắc HIV/AIDS.
Sau hội nghị toàn quốc về HIV/AIDS tại
TPHCM cuối năm 1999, vấn đề HVI/ AIDS ở trẻ em chưa được nghiên cứu nhiều về lâm
sàng, yếu tố dịch tể lâm sàng, đặc biệt là các biện pháp pḥng chống chưa đặt
thành vấn đề cấp bách để có lời giải.
Trước t́nh h́nh bệnh HIV/AIDS ngày
càng gia tăng theo thời gian và từ đó số lượng trẻ em nhiễm HIV/AIDS tăng theo,
đ̣i hỏi có những can thiệp kịp thời và thích hợp về mặt chẩn đoán điều trị cũng
như pḥng chống.
Hội thảo được nghe các báo cáo về đặc điểm
dịch tễ, dạng lâm sàng của trẻ em VN bị HIV/AIDS được thực hiện tại BV Nhi đồng
1 trong 3 năm 1998 - 2000 như: bệnh lư hô hấp của trẻ nhiễm HIV/AIDS, h́nh ảnh
bệnh lư phổi trong hội chứng AIDS trẻ em, các biểu hiện vùng lồng ngực trong hội
chứng AIDS trẻ em, xét nghiệm chẩn đoán HIV/AIDS tại BV Nhi đồng 1, một số kinh
nghiệm trong tham vấn HIV/AIDS ở trẻ em.
Qua đó, hội thảo đưa ra hướng dẫn lâm sàng
gợi ư chẩn đoán HIV/AIDS ở trẻ em và đề xuất các biện pháp pḥng chống như sau:
1. Hoạt động can thiệp "tránh lan truyền
từ mẹ sang con" (MTCT)
2. CT tự nguyện được tham vấn và thử máu
(VCT)
3. Vấn đề săn sóc các cháu bị bệnh và các
cháu mồ côi.
4. Phong trào quần chúng pḥng chống
HIV/AIDS.
5. Chuẩn bị ứng dụng tiêm chủng (Vaccin)
BS Lê Anh Bá
ĐẠI HỘI GÂY MÊ HỒI SỨC TP.HỒ CHÍ MINH LẦN THỨ III
|