WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

B́nh luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

Vioxx (rofecoxib) - CHẤT ỨC CHẾ CHUYÊN BIỆT COX-2 TRONG ĐIỀU TRỊ cơn ĐAU CẤP và THOÁI HÓA KHỚP


Ngày 4/7/2001 Hội thấp khớp học TP.Hồ Chí Minh và công ty dược phẩm Merck Sharp Dohme tổ chức hội thảo về "Vioxx (rofecoxib) - chất ức chế chuyên biệt cox-2 trong điều trị cơn đau cấp và thoái hóa khớp". Tham dự hội thảo có Bác sĩ Peter Jones, chuyên về Bệnh Thấp Khớp và Phục Hồi Chức Năng, khoa thấp khớp bệnh viện Queen Elizabeth Rotorua, New Zealand.

Theo BS Peter Jones, thuốc kháng viêm không steriod (KVKS) được xem là cách điều trị hiệu quả đối với chứng đau và cứng khớp của bệnh thoái hóa khớp. Nhưng giảm triệu chứng phải trả bằng cái giá là những tác dụng ngoại ư, cụ thể là trên đường tiêu hóa và thận. Nguy cơ nhập viện v́ các biến chứng đường tiêu hóa nặng như loét chảy máu, tắc nghẽn hoặc thủng ở người dùng KVKS cao hơn 4 lần so với không dùng KVKS. Biện pháp bảo vệ khỏi tác hại trên đường tiêu hóa do KVKS gây ra là không hoàn hảo. Chất đối kháng H2 không bảo vệ được, và các loại thuốc như Misoprostol, bảo vệ được phần nào, nhưng lại gây ra các phản ứng phụ như tiêu chảy ở một tần suất cao không thể chấp nhận được. Tuy nhiên, nguyên nhân chính khiến BN tránh sử dụng KVKS là sự xuất hiện các tác dụng phụ gắn liền với việc sử dụng thuốc như khó tiêu, buồn nôn và đau bụng. Mặc dù các tác dụng phụ này phần lớn là không liên quan đến nguy cơ của các tác hại lớn trên đường tiêu hóa, nhưng chúng làm cho BN sợ thuốc và do đó bị đau và hạn chế cử động nhiều hơn. Nhờ vào kết quả của chương tŕnh nghiên cứu khoa học và lâm sàng, giờ đây đă có một nhóm thuốc KVKS an toàn hơn - các thuốc ức chế chuyên biệt COX-2 (coxibs).

Trong 3 mô h́nh nghiên cứu đau cấp tính, Vioxx đă được chứng minh là có hiệu quả tương đương với các KVKS. Trong cơn đau sau phẫu thuật răng, 75% BN đă đánh giá Vioxx giảm đau tốt hoặc rất tốt, so với 20% ở BN dùng giả dược. Sử dụng sau phẫu thuật chỉnh h́nh, Vioxx cũng tốt như naproxen. Trong? nghiên cứu khác, dùng Vioxx trước và sau mổ đă làm giảm liều morphin sử dụng để giảm đau sau mổ. Trong? nghiên cứu ở các BN đau lưng mạn tính, ngay ngày đầu sử dụng, Vioxx đă có hiệu quả đến buổi tối khi BN đi ngủ.

Trong các nghiên cứu bệnh thoái hóa khớp từ 1 tuần đến 1 năm, Vioxx đă có tác dụng lâm sàng tương đương với liều cao của các thuốc KVKS đem so sánh (ibuprofen, diclofenac, nabumeton). Trong các nghiên cứu 1 tuần và 12 tuần, Vioxx cũng tốt như naproxen 500mg dùng 2 lần một ngày, và tốt hơn hẳn so với giả dược để làm giảm cơn đau về đêm, cứng khớp vào buổi sáng và đau khi đi bộ trên đường bằng phẳng. Trong một nghiên cứu 12 tháng Vioxx cũng tốt như diclofenac 75mg dùng 2 lần mỗi ngày.

Vioxx được so sánh với celecoxib 200mg dùng ngày 1 lần hay paracetamol (acetaminophen) 1000mg dùng ngày 1 lần trong một nghiên cứu về bệnh thoái hóa khớp ở khớp gối. Sau 6 tuần điều trị, Vioxx 12,5mg dùng ngày 1 lần có hiệu quả tốt hơn giả dược và tương đương với celecoxib 200mg dùng ngày 1 lần. Vioxx 25mg dùng ngày 1 lần hiệu quả hơn hẳn so với celecoxib hoặc giả dược đối với các triệu chứng đau về đêm, cứng khớp vào buổi sáng và đau khi đi bộ. Trong nghiên cứu này, tỉ lệ BN đánh giá Vioxx 12,5mg hoặc 25mg dùng ngày 1 lần cho hiệu quả tốt hoặc rất tốt hơn so với celecoxib (61% so với 45%).

Tính an toàn trên đường tiêu hóa của Vioxx đă được cải thiện tốt hơn nhiều. Trong một thử nghiệm lâm sàng trên 1500 BN bị bệnh thoái hóa khớp, tỉ lệ loét dạ dày-tá tràng qua nội soi ở nhóm rofecoxib tương tự như nhóm giả dược. Nội soi dạ dày tá tràng được thực hiện từ mức khởi điểm, tuần thứ 6, 12, và 24 trên các BN sử dụng rofecoxib 25mg và 50mg mỗi ngày, ibuprofen 2400mg mỗi ngày, hoặc giả dược. Xuất độ của các ổ loét > 3mm vào tuần lễ thứ 12 là: 7,3% với giả dược, 4,7% với rofecoxib 25mg, 8,1% % với rofecoxib 50mg, và 28,5% với ibuprofen. Xuất độ của thủng đường tiêu hóa trên, loét hoặc xuất huyết nặng (PUBs) được đánh giá trong một tổng phân tích 8 thử nghiệm lâm sàng về rofecoxib trong bệnh thoái hóa khớp (n=5435), sử dụng nhiều loại KVKS khác nhau. Các biến chứng nặng trên đường tiêu hóa như thủng, loét và xuất huyết (PUBs) ở nhóm điều trị với rofecoxib được ghi nhận ít hơn nhiều cũng như ít có trường hợp ngưng thuốc do tác dụng ngoại ư so với các nhóm điều trị với các KVKS khác. Creatinin huyết thanh không thay đổi sau 12 tháng điều trị, tuy nhiên có một ít ảnh hưởng trên chức năng thận dưới dạng giữ muối và nước. Phù ngoại biên và sự gia tăng nhẹ huyết áp có thể xảy ra.

Để khẳng định tính an toàn trên đường tiêu hóa của rofecoxib, một thử nghiệm lâm sàng tiền cứu, ngẫu nhiên được thực hiện đánh giá xuất độ các tai biến lâm sàng trên đường tiêu hóa trên -nghiên cứu VIGOR. Nhóm BN có nguy cơ cao được chọn trong nghiên cứu đánh giá về hậu quả trên đường tiêu hóa là những BN viêm khớp dạng thấp tuổi > 50 (>40 nếu đang dùng prednison) được uống hoặc Vioxx liều cao (50mg; ngày 1 lần) hoặc naproxen 500mg; 2 lần /ngày. Nhận xét về hiệu quả lâm sàng cho thấy có sự cải thiện tương đương về độ nặng của viêm khớp theo đánh giá chung của BN và bác sĩ. Xuất độ các tai biến lâm sàng trên đường tiêu hóa trên (loét có triệu chứng, xuất huyết, tắc nghẽn hoặc thủng) là: naproxen 4,5; Vioxx 2,1 trên 100 BN/năm. Xuất độ các biến chứng nặng (thủng, xuất huyết nặng hoặc tắc nghẽn) là: naproxen 1,4; Vioxx 0,6 trên 100 BN/năm. Các yếu tố như tuổi trên 65 tuổi, sử dụng steroid và không sử dụng KVKS trước đó gắn liền với nguy cơ tai biến cao hơn. Nói chung Vioxx làm giảm từ 54% đến 62% tỉ lệ các tai biến nặng trên lâm sàng mà có thể gây nguy hiểm thực sự cho BN, 41 BN nên được điều trị với Vioxx thay v́ naproxen trong 1 năm để tránh 1 tai biến nặng.?


HỘI THẦN KINH HỌC TP.Hồ Chí Minh HOẠT ĐỘNG NGÀY MỘT VỮNG CHẮC


Hội được thành lập từ tháng 9 năm 1996, do GS Lê Văn Thành làm Chủ tịch và Thư kư Thường trực là BS Lê Minh. Trải qua gần 5 năm hoạt động Hội Thần Kinh Học đă có nhiều bước tiến đáng kể trong tổ chức và họat động.

Với số lượng hội viên ban đầu chỉ 120 người, đến nay đă tăng lên gần gấp đôi (220 người). Ban Chấp Hành nhiệm kỳ II (1999 - 2002) gồm 15 vị, là những người thực sự hoạt động và gắn bó với Hội. Vấn đề tổ chức và quản lư hội viên của Hội Thần kinh khá chặt chẽ; BCH Hội đề ra quy định rơ ràng về quyền lợi và trách nhiệm của hội viên. Ban Thư kư luôn theo dơi và cập nhật danh sách hội viên một cách quy củ (đặc biệt là vấn đề theo dơi danh sách hội viên hành nghề tư, trong việc thực hiện Nghị quyết liên tịch giữa Bộ Y Tế và Tổng Hội Y Dược Học Việt Nam về quản lư hành nghề y tế tư nhân); Những hội viên mới gia nhập đều được tổ chức đăng kư và ra mắt trong các buổi sinh hoạt của Hội; Tổ chức tốt việc thu hội phí và phát thẻ hội viên cũng như trích nộp hội phí lên Hội Y Dược Học Thành Phố một cách đều đặn.

Về mặt hoạt động, Hội Thần Kinh TP HCM c̣n làm chức năng của một Hội khu vực, bao gồm:

- Sinh hoạt KHKT: định kỳ, đều đặn, có kế hoạch; các đề tài báo cáo và công tŕnh NCKH có tính chọn lọc, giúp cập nhật kiến thức và gắn kết giữa các hội viên.

- Thông tin báo chí: Hội có ra được tập san chuyên ngành, phát hành phục vụ đều đặn đến các hội viên.

- Đào tạo bồi dưỡng: Tổ chức mời chuyên gia trong nước và nước ngoài tham gia giảng dạy, nâng cao kiến thức cho hội viên.

- Tham vấn phản biện: Đóng góp ư kiến tổ chức và hoạt động lên Tổng Hội, ư kiến xây dựng ngành.

- Hoạt động xă hội như đóng góp xây nhà t́nh thường - nhà t́nh nghĩa, tổ chức nhiều đoàn khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, dân ở vùng sâu vùng xa, ủng hộ đồng bào vùng thiên tai lũ lụt .

- Quan hệ Quốc tế: Hội đă liên hệ đến nhiều tổ giúp đỡ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và chuyên môn. Cử hội viên đi dự các Hội nghị KHKT quốc tế.

Ngày 5/7/2001 vừa qua, Hội Thần Kinh Học TP HCM đă tổ chức sinh hoạt KHKT định kỳ lần thứ 2 (ba tháng/ lần) tại Hội trường lớn của bệnh viện Chợ Rẫy. Tham dự buổi sinh hoạt có khoảng 150 hội viên, có 04 đề tài được báo cáo.

Bài sơ lược tổng quan về EEG Biofeedback cho thấy một hướng mới về điều trị luyện tập năo bộ tương tác thông qua EEG. EEG Biofeedback là một cách thức học tập, có thể làm cho người nào đó tự thay đổi những sóng năo bộ của chính anh ta bằng một phương pháp luyện tập có điều kiện được lập tŕnh sẵn. Trong khi luyện tập, thông tin về đặc tính sóng năo bộ của anh ta được biểu hiện cho anh ta biết và anh ta có thể tác động để tự thay đổi. EEG Biofeedback được sử dụng trong các trường hợp: rối loạn khiếm khuyết sự chú ư, rối loạn giấc ngủ ở trẻ em, trầm cảm ở trẻ em, rối loạn lo âu và những cơn hoảng loạn, đau đầu mạn tính, migrain và những loại đau đầu căng thẳng, rối loạn khả năng học tập đặc biệt chứng khó học, rối loạn đường máu, hội chứng tiền kinh nguyệt - măn kinh, đau mạn tính, rối loạn hành vi, chấn thương đầu, những rối loạn giấc ngủ ở người lớn, tật nghiến răng, trầm cảm đơn cực nguyên phát, rối loạn ám ảnh cưỡng bức, hội chứng mệt mỏi mạn tính, động kinh, nghiện rượu-thuốc, phơi nhiễm độc tố trước sinh, chấn thương sọ năo, ù tai, rối loạn tự miễn, rối loạn lưỡng cực, những rối loạn ăn uống, đột quỵ, tổn thương hóa chất, bại năo, rối loạn căng thẳng chấn thướng, giật cơ ban đêm, sa sút trí tuệ, xơ cứng rải rác, rối loạn phản xạ giao cảm, khó thở khi ngủ, hội chứng chân không nghỉ, chứng ngủ rũ. Theo BS Đàm Quốc Phối, việc luyện tập EEG Biofeedback là quá tŕnh học tập, kết quả dần dần được củng cố và h́nh thành, cần phải trải qua thời gian nhất định để nhận thấy được; đa số cải thiện sau 10 lần tập. EEG Biofeedback ngày càng phát triển mạnh mẽ đang trở thành phương pháp điều trị đơn giản, không xâm nhập không có tác dụng phụ nghiêm trọng, không phụ thuộc thuốc, có lợi ích đáng kể được minh chứng bằng hiệu quả lâm sàng, tuy cơ chế nền tảng, cở sở sinh lư chính xác của quá tŕnh chưa được hiểu biết rơ ràng.

Hầu hết các kết quả đạt được bằng phương pháp dùng thuốc tâm thần cũng có thể thành công bằng phướng pháp EEG Biofeedback. Hơn nữa, những kết quả này có thể lâu bền. Những trường hợp nặng như phụ thuộc thuốc liều cao không chấp nhận được hoặc có tác dụng phụ nặng nề với thuốc đang sử dụng hoặc kháng với những phương pháp điều trị khác, tốt nhất nên được xử trí bằng phối hợp EEG Biofeedback với sử dụng thuốc được giảm liều.

BS Lê Thiện Anh Tuấn


Đặc điểm lâm sàng HIV/AIDS trẻ em tại BV Nhi đồng 1-

đề xuất hướng pḥng ngừa


Ngày 8/6/2001 tại BV Nhi đồng 1 tổ chức hội thảo "Đặc điểm lâm sàng HIV/AIDS trẻ em tại BV Nhi đồng 1- đề xuất hướng pḥng ngừa"

Theo BS Trần Tấn Trâm hiện nay trên thế giới cho đến hết năm 2000 có 36,1 triệu người mắc HIV/AIDS và 21,8 triệu người chết từ lúc có dịch. Trong năm 2000, có 3 triệu người chết và 5,3 triệu người mới mắc. Tại Việt Nam, cho đến hết năm 1999 có tổng cộng 28.661 trường hợp HIV/AIDS (theo UBQG PC HIV/AIDS) và WHO và UBQG PC HIV/AIDS dự đoán:

1. Tổng số người lớn và trẻ em mắc HIV/AIDS cho đến cuối năm 1999 là 100.000 (trong đó: 99.000 đàn ông, 20.000 phụ nữ và 2.500-trẻ em)?????????

2. Trong năm 1999, số tử vong v́ AIDS là 2.500.

3. Tổng số trẻ em mồ côi đến cuối năm 1999 là 3.200, số c̣n sống sót: 2.772

4. Cho đến hết tháng 4 năm 2001, theo UNICEF có tổng cộng 34.445 trường hợp mắc HIV/AIDS.

Sau hội nghị toàn quốc về HIV/AIDS tại TPHCM cuối năm 1999, vấn đề HVI/ AIDS ở trẻ em chưa được nghiên cứu nhiều về lâm sàng, yếu tố dịch tể lâm sàng, đặc biệt là các biện pháp pḥng chống chưa đặt thành vấn đề cấp bách để có lời giải.

Trước t́nh h́nh bệnh HIV/AIDS ngày càng gia tăng theo thời gian và từ đó số lượng trẻ em nhiễm HIV/AIDS tăng theo, đ̣i hỏi có những can thiệp kịp thời và thích hợp về mặt chẩn đoán điều trị cũng như pḥng chống.

Hội thảo được nghe các báo cáo về đặc điểm dịch tễ, dạng lâm sàng của trẻ em VN bị HIV/AIDS được thực hiện tại BV Nhi đồng 1 trong 3 năm 1998 - 2000 như: bệnh lư hô hấp của trẻ nhiễm HIV/AIDS, h́nh ảnh bệnh lư phổi trong hội chứng AIDS trẻ em, các biểu hiện vùng lồng ngực trong hội chứng AIDS trẻ em, xét nghiệm chẩn đoán HIV/AIDS tại BV Nhi đồng 1, một số kinh nghiệm trong tham vấn HIV/AIDS ở trẻ em.

Qua đó, hội thảo đưa ra hướng dẫn lâm sàng gợi ư chẩn đoán HIV/AIDS ở trẻ em và đề xuất các biện pháp pḥng chống như sau:

1. Hoạt động can thiệp "tránh lan truyền từ mẹ sang con" (MTCT)

2. CT tự nguyện được tham vấn và thử máu (VCT)

3. Vấn đề săn sóc các cháu bị bệnh và các cháu mồ côi.

4. Phong trào quần chúng pḥng chống HIV/AIDS.

5. Chuẩn bị ứng dụng tiêm chủng (Vaccin)

BS Lê Anh Bá

ĐẠI HỘI GÂY MÊ HỒI SỨC TP.HỒ CHÍ MINH LẦN THỨ III


Ngày 05 tháng 5 năm 2001 tại hội trường lớn bệnh viện Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh; Hội? Gây Mê Hồi Sức TP. Hồ Chí Minh đă tổ chức đại hội lần thứ III để bầu ban chấp hành nhiệm kỳ 2001 - 2005. Tới dự đại hội có BS. Trương Xuân Liễu, Giám đốc Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh. BS. Nguyễn Thế Dũng, Phó giám đốc kiêm bí thư Đảng ủy Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh. GS. Ngô Gia Hy, Phó chủ tịch hội Y Dược? TP. Hồ Chí Minh, PGS. Vơ Thành Phụng, Phó chủ tịch hội Y Dược? TP. Hồ Chí Minh, DS. Huỳnh Văn Nhiệm, Tổng thư kư hội Y Dược TP. Hồ Chí Minh, PGS. Chu Mạnh Khoa, Phó chủ tịch hội Gây Mê Hồi Sức Việt Nam. BS. Vũ Thị Nhung, Phó giám đốc BV. Hùng Vương TP.Hồ Chí Minh.

Cùng về dự đại hội có các đại diện các cơ quan thông tin, các hội chuyên ngành, các bệnh viện tỉnh phía nam và hơn 300 hội viên hội Gây mê Hồi sức TP. Hồ Chí Minh.

Đại hội đă nghe ban chấp hành cũ báo cáo công tác trong nhiệm kỳ qua và phương hướng hoạt động trong nhiệm kỳ tới cùng các phát biểu của các đại biểu.

Đại hội đă bầu ra ban chấp hành nhiệm kỳ mới 2001 - 2005, gồm 15 người đắc cử, và trong cuộc họp ban chấp hành mới đă bầu:


PGS.TS. Nguyễn Văn Chừng, Chủ tịch Hội Gây Mê Hồi sức TP. Hồ Chí Minh.

Th.S. Nguyễn Thị Quư, Phó chủ tịch.

BS. Tô Văn Th́nh, Phó chủ tịch.

Th.S. Phan Thị Minh Tâm, Thư kư.

Địa chỉ liên lạc Hội Gây mê Hồi sức TP.Hồ Chí Minh:

Khoa - Bộ môn Gây mê Hồi sức BV. B́nh Dân.

?371 Điện Biên Phủ Q.3, TP. Hồ Chí Minh.

ĐT: 8394747. E. mail: chungman@saigonnet.vn

?Trong phần sinh hoạt khoa học đă có 11 đề tài khoa học được báo cáo gồm những vấn đề chuyên môn được các hội viên quan tâm như :

- Gây mê Hồi sức cho những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường,

- Gây mê Hồi sức trong mổ bệnh gan mật.

- Gây tê ngoài màng cứng để phẫu thuật và giảm đau sau mổ ở trẻ em, ở người bệnh mổ bệnh tim.

?- Gây tê ngoài màng cứng kết hợp với gây tê tủy sống ở?sản phụ khoa để giảm đau khi sinh.

- Những tiến bộ về gây mê hồi sức ở Thái lan.

Hội nghị kết thúc lúc 16 giờ cùng ngày sau một ngày làm việc nghiêm túc.

PGS TS Nguyễn Văn Chừng


 

[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net