Theo tư liệu nước ngoài, u năo nguyên phát
lành tính và ác tính chiếm tỉ lệ 11,8/100.000 dân, riêng u ác tính là
6,5/100.000 dân.(1) Đứng đầu u ác tính là glioblastoma và u lành tính
là u màng năo. U ác tính tăng theo tỉ lệ thuận với tuổi. U đại năo thường thấy ở
người lớn, ngược lại u tiểu năo thường thấy ở trẻ em.
Ở miền trung, trường hợp u năo đầu tiên
được mổ tại Tổng Y Viện Duy Tân năm 1972(6) trên người đàn bà có thai
ở tháng thứ 6. Chẩn đoán thời bấy giờ dựa vào động mạch năo đồ hay năo thất đồ.
Năm 1997, BV Đà Nẵng được trang bị CT Scan và nhờ đó việc chẩn đoán trở nên dễ
dàng hơn.
Bài này đúc kết một số kinh nghiệm
về chẩn đoán lâm sàng và điều trị phẫu thuật u năo được thực hiện tại khoa phẫu
thuật Thần kinh, bệnh viện Đà Nẵng.
Phương pháp nghiên cứu
1/ Thiết kế nghiên cứu:
Hồi cứu, mô tả.
2/ Số liệu: Trong 6 năm từ 1994 -
1999, có 83 trường hợp u năo tuổi từ? 3 đến 68. Trong số này, 63 trường hợp được
mổ như sau:
?
Đại năo: 49 trường hợp
?
Tiểu năo: 09 trường hợp
?
Tuyến yên: 02 trường hợp
?
Năo thất III: 01 trường hợp
?
Năo thất II: 01 trường hợp
?
Năo thất IV: 01 trường hợp
Phân loại theo vị trí:
?
Trán: 16 trường hợp
?
Liềm năo: 04 trường hợp
?
Đỉnh: 16 trường hợp
?
Thái dương: 10 trường hợp
?
Chẩm: 03 trường hợp
?
Năo thất III: 01 trường hợp
?
Năo thất II: 01 trường hợp
?
Năo thất IV: 01 trường hợp
?
Tuyến Yên: 02 trường hợp
?
Tiểu năo: 09 trường hợp
C̣n những trường hợp không mổ có thể do
khối u ở những vùng không thể can thiệp phẫu thuật, được người nhà xin về hoặc
được chuyển lên tuyến trên.
Kết quả
1/ Chẩn Đoán :
a/ Lâm Sàng: Đa số bệnh nhân được
chẩn đoán ở giai đoạn rất muộn và khối u đă phát triển lớn. Những dấu chứng liệt
kín đáo như rối loạn ư thức thường bị bỏ qua (90%) ở tuyến trước.
- Nhức đầu phù gai thị, thờ ơ cũng không
được chú ư hoặc bệnh nhân được chẩn đoán như là bệnh tâm thần (20%). Thông
thường nhức đầu vào buổi sáng hoặc khi ho rặn và có thể khu trú ở một bán cầu.
Đôi khi bệnh nhân đến trong t́nh trạng hôn mê, động kinh liên tục được chuyển
vào pḥng Hồi sức trung tâm để chống động kinh và phù năo trước khi phẫu thuật
(3 trường hợp).
- Động kinh thường xảy ra đối với những
bệnh nhân có khối u phát triển chậm chiếm 70%. Ngược lại chỉ có 30% - 40% đối
với những khối u phát triển nhanh như glioblastoma.(1)
U ở vùng trán, bệnh nhân giảm khả năng về
trí tuệ, mất khả năng tập trung hay diễn đạt (16 trường hợp, có 2 trường hợp mù
trước mổ).
U ở vùng thái dương thường gây động kinh
và suy giảm nhanh thị lực. Nếu u ở bán cầu chính, bệnh nhân có thể nói khó hay
thất ngôn, đôi lúc bị ảo thị, ảo thanh hoặc ảo khứu (10 trường hợp).
U ở vùng chẩm, bệnh nhân có thể bị mù hoặc
không phân biệt được những vật thông thường.
U ở vùng đỉnh, có thể bị rối loạn cảm giác
và vận động, đôi khi không viết được hoặc nhận ra mặt chữ đặc biệt ở bán cầu
chính (16 trường hợp).
Nếu khối u ở vùng giữa hai bán cầu gần đồi
thị th́ thường có biểu hiện tăng áp lực nội sọ v́ năo úng thuỷ (4 trường hợp).
U tiểu năo thường có nhức đầu, cứng cổ,
buồn nôn, rung giật nhăn cầu. Đặc biệt ở trẻ em chẩn đoán khó khăn hơn dễ nhầm
lẫn với các dấu chứng như viêm năo màng năo, năo úng thủy (li b́, nhức đầu, nôn
mữa).
U năo cũng có những triệu chứng bất thường
khác như chóng mặt, nấc cụt. Đặc biệt u góc cầu tiểu năo bệnh nhân giảm thính
lực một thời gian rất lâu, có khi đau buốt thần kinh tam thoa, tê dại 1/2 mặt (1
trường hợp).
b/ Chẩn đoán h́nh ảnh: Thực hiện
động mạch năo đồ hay năo thất đồ 13 trường hợp và CT Scan 70 trường hợp.
c/ Giải Phẫu bệnh lư: Kết quả như
sau:
?
Meningioma: 26 trường hợp
?
Glioma: 13 trường hợp
?
Astrocytoma 1-2: 07 trường hợp
?
Medulloblastoma: 03 trường hợp
?
Craniopharyngioma: 02 trường hợp
?
Ependymoma 02: trường hợp
?
Oligodentroglioma: 01 trường hợp
?
Sarcoma: 01 trường hợp
?
Hemangioblastoma? 1 trường hợp?
?
K di căn: 02 trường hợp
?
U nang: 4 trường hợp
?
Không xác định: 01 trường hợp
2/ Gây mê và phẫu thuật.
Tất cả những bệnh nhân đều được gây mê nội
khí quản. Thời gian phẫu thuật trung b́nh từ 4 đến 5 tiếng.
Lượng máu trung b́nh từ? 4 - 5 đơn vị phải
được dự trữ trước khi mổ. Có những t́nh huống đă phải dùng đến 7 - 8 đơn vị máu.
Riêng đối với các u tiểu năo vẫn được mổ ở
tư thế bệnh nhân nằm sấp, tuy không thuận lợi cho phẫu thuật viên nhưng có ít
biến chứng hơn so với gây mê mổ ngồi (cần có thiết bị và gây mê giỏi, kinh
nghiệm).
Dựa theo tiêu chuẩn Simpson(4),
phẫu thuật u màng năo được chia ra nhiều độ:
Độ 1: Mổ lấy hết u + màng năo và phần
xương bị thâm nhiễm (16 trường hợp).
Độ 2: Lấy hết u + chỉ đốt điện màng năo
liên hệ (4 trường hợp).
Độ 3: Lấy hết u + nhưng không cắt bỏ hoặc
đốt màng cứng và phần xương kế cận (6 trường hợp).
Độ 4: Cắt 1 phần u màng năo.(0 trường hợp
)
Độ 5: Mổ giải áp mà thôi (0 trường hợp).
3/ Kết quả phẫu thuật:
Trong số 63 trường hợp mổ, không có trường
hợp nào tử vong trong lúc mổ hay trong giai đoạn hậu phẫu.
- Đại đa số u năo ở đây đều vào viện rất
muộn, khối u đă phát triển rất lớn. Đặc biệt là u màng năo, phẫu thuật rất khó
khăn, chảy máu nhiều nếu không hạ huyết áp chỉ huy. Trong số 23 trường hợp u
màng năo, có 6 trường hợp u màng năo có nang (cystic menigioma) loại u này rất
dễ nhầm với lymphoma hoặc astrocytoma và ít khi lấy được hết khối u. Trong 6
năm, có 5 trường hợp u màng năo tái phát, trong đó có 1 trường hợp phải mổ lại
đến lần thứ 3.
- Đối với các loại u ác tính như
glioblastoma mặc dù kết hợp phẫu thuật và tia xạ, nhưng khả năng sống của bệnh
nhân chỉ trong ṿng 6 tháng, so với thống kê ở Mỹ là 10 - 12 tháng.(2)
- 1 trường hợp ependymoma sống lâu nhất là
3 năm.
- Đa số các khối u medulloblastoma ở trẻ
em sau mổ chừng 1 - 2 năm hay bị di căn nơi khác, đặc biệt là ở tủy sống mặc dù
đă kết hợp với tia xạ. Bệnh nhân chết trong t́nh trạng nhiễm trùng đường tiểu
hay hô hấp.
- Đối với các trường hợp u sọ hầu ở trẻ em
trong giai đoạn hậu phẫu, thường gặp những biến chứng nội tiết như tụt huyết áp,
hạ đường huyết, rối loạn điện giải v́ bệnh viện chưa đo được các yếu tố nội tiết
trước khi mổ như là 17 ketosteroid.
- Đối với các trường hợp? u ở tiểu năo, u
nang ở hố năo sau thường được dẫn lưu năo thất - màng bụng trước khi mổ lấy u
hoặc nối u nang vào năo thất IV hoặc bể sau (cisterna magna).
- Riêng đối với các khối u lành tính sau
hậu phẫu, bệnh nhân hồi phục khá tốt (theo bậc thang Karnofky từ 70 điểm đến 100
điểm). Đặc biệt với các khối u màng năo (26 trường hợp) hay astrocystoma độ 1 -
độ 2 (2 trường hợp): Tri giác hồi phục rất nhanh, giảm động kinh, chỉ có 2 bệnh
nhân u năo ở vùng trán và đỉnh trước mổ đă mù, sau mổ thị lực vẫn không cải
thiện.
Bàn LUẬN
1/ Về
chẩn đoán: Có thể nói CT Scan là một tiến bộ
vượt bực trong việc chẩn đoán u năo. Nhưng nếu so với cộng hưởng từ hạt nhân
(MRI) th́ CT Scan kém hơn trong việc chẩn đoán chi tiết, 3 chiều và bệnh nhân ít
bị nhiễm xạ. MRI c̣n đánh giá rơ ràng hơn về kết quả phẫu thuật và hoá trị, phân
biệt được h́nh ảnh giả artifact và tổ chức năo lành hoặc hoại tử.(1)
Ở các nước tiên tiến, CT là bước chẩn đoán
gạn lọc (screening) kế đến là MRI, động mạch năo đồ và PET (Positron Emission
Topogaphy).
C̣n vai tṛ của động mạch năo đồ giúp phân
biệt u màng năo, dị dạng mạch máu năo hay giả u. Và qua động mạch năo đồ người
ta có thể làm thuyên tắc động mạch nuôi, giúp phẫu thuật bớt chảy máu đặc biệt
đối với các khối u màng năo lớn.
Phân loại khối u của khảo sát này cũng phù
hợp với Trần Văn Khánh (bệnh viện Chợ Rẫy, 1978). Đa số là u năo ác tính kế đến
u màng năo lành tính, u lao, u thần kinh, dị dạng mạch máu năo, giả u, di căn
năo.(3)
Theo nguyên tắc, mọi khối u năo đều làm
sinh thiết trước khi mổ "triệt để" ngoại trừ u màng năo thường thấy rất rơ trên
CT hay MRI.
Ở những trung tâm lớn như Chợ Rẫy, Việt
Đức và nhiều nước tiên tiến trên thế giới có thể làm sinh thiết các khối u nhỏ
nằm sâu trong nhu mô bằng stereotaxie. Có một số u không thể làm sinh thiết được
như các astro-cytoma grade 2, grade 3 ở thân năo cầu năo hay tủy sống ,tiên
lượng thường rất xấu. Tuy nhiên sinh thiết và chẩn đoán mô học rất cần thiết
giúp tiên lượng được diễn tiến của khối u và chọn lượng tia xạ và hoá chất.(2)
Ví dụ các loại u pinaloma, germinoma năo thất 3 có thể làm sinh thiết qua nội
soi và điều trị bằng tia xạ hay hoá chất.
2/ Về
phẫu thuật: Đối với những khối u lành tính như
u màng năo, không những phải cố gắng lấy hết khối u, màng năo mà c̣n cả phần
xương kế cận bị thâm nhiễm để tránh dùng tia xạ sau mổ cũng như tránh tái phát
đặc biệt là trẻ em và người lớn tuổi.(1)
Do bệnh viện chưa có kính hiển vi phẫu
thuật và laser, đa phần các u màng năo vùng đỉnh, trán nông là có thể tiến hành
phẫu thuật độ 1, độ 2, đối với những khối u nằm giữa 2 bán cầu, liềm năo sát nền
sọ: phẫu thuật độ 3.
Đối với những khối u ác tính, trước đây
được phẫu thuật lấy tối đa thể tích khối u,(2) tránh các vùng năo có
chức năng cao - mục đích là giảm áp. Nhưng gần đây người ta đă chứng minh khả
năng sống lâu hơn nếu khối u được lấy hết (surgical cure) so với những khối u
chỉ lấy một phần hay chỉ làm sinh thiết đơn thuần.(1)
Kết quả phẫu thuật trong báo cáo này chưa
được như ư muốn bởi v́:
- Bệnh nhân thường đến trễ, chẩn đoán muộn
ngay cả u lành tính, thường phải đối phó với những khối u quá lớn chảy máu nhiều
và không thể nào tránh được tổn thương nhu mô năo lành kế cận. Thời gian mổ lâu
có khi 6 - 7 tiếng.(4)
- Thiếu thầy thuốc chuyên khoa chăm sóc
hậu phẫu.
Hiện nay phẫu thuật chỉ mới giải quyết
được vấn đề cơ học. Điều trị triệt để u năo cần có sự hỗ trợ của xạ trị (tại
bệnh viện Đà Nẳng dùng Cobalt), tia xạ tại chỗ (Brachy therapy) như ở các nước
tiên tiến đặt 125I vào khối u. Mổ bằng tia gamma (Radiosurgery) là
hướng các nguồn tia xạ tập trung vào một đích (target) như cobalt hay proton 80.
Ngoài ra c̣n sử dụng hoá trị như
nitrosureas đơn độc hoặc phối hợp với những hoá chất khác procarbasine,
cyclophosphamide, vincristine v.v.. Tamoxifene để điều trị các u ác tính, có thể
truyền tĩnh hoặc động mạch có kèm với Mannitol hay không.
Người ta cũng có thể dùng hoá chất đặt tại
chỗ sau phẫu thuật hoặc đưa thẳng vào khối u qua stereotaxie để tránh sự hạn chế
của hàng rào máu năo (qua các polymer wafer).(1) Khuynh hướng dùng
hoá trị đối với những bệnh nhân trên 50 tuổi đặc biệt trong trường hợp khối u
c̣n sót lại nhiều sau phẫu thuật. Những khối u phát triển nhanh trên chẩn đoán
h́nh ảnh bất luận tuổi tác cũng được khuyên dùng hoá trị. Có vài loại u nhạy cảm
với hoá chất như oligodendroglioma nhưng với astrocytoma th́ ít bị tác dụng.(1)
Một số u năo đă liên quan đến di truyền
như Heman-gioblastoma (Von Hippel Lindau) nhiễm sắc thể 3p25-26. Tuberous
sclerosis với 9q3416p13. Neurofibroma với 17q11. Meningioma với nhiễm sắc thể 22
v.v...Như vậy có lẽ trong một tương lai không xa, u năo có thể được điều trị
bằng gen.
KẾT LUẬN
CT Scan đă góp phần chẩn đoán sớm hầu hết
các trường hợp u năo do đó số lượng bệnh nhân càng ngày càng tăng. Nhưng tiếc
thay đa số bệnh nhân không có khả năng đi tuyến trên.
Để đáp ứng với nhu cầu thực tế ngoài việc
đầu tư trang thiết bị chẩn đoán và pḥng mổ, c̣n phải phát triển đồng bộ các
chuyên khoa khác như: gây mê hồi sức, chẩn đoán h́nh ảnh, giải phẫu bệnh lư, hoá
trị, xạ trị ... đặc biệt là đào tạo dài hạn trong hoặc ngoài nước cho đội ngủ
chuyên khoa Phẫu thuật Thần kinh.
tóm tắt
Trong số 83 trường hợp u năo được chẩn
đoán tại bệnh viện Đà nẵng, 63 trường hợp được phẫu thuật trong 6 năm. Trong đó
13 trường hợp được chẩn đoán bằng động mạch năo đồ hay năo thất đồ, 70 trường
hợp được chẩn đoán bằng CT Scan.
Phần lớn bệnh nhân đến muộn, khối u rất
lớn, có những trường hợp rối loạn tri giác, hôn mê, động kinh liên tục. Những
bệnh nhân trên đều được mổ và theo dơi trong ṿng 3 năm trên cùng 1 kíp mổ. Mặc
dù trang thiết bị c̣n thiếu thốn, nhân lực chưa đồng bộ, chưa có tử vong trong
lúc mổ và hậu phẫu. Đa số bệnh phẩm đều được đọc và so sánh với 2 hoặc 3 BS giải
phẫu bệnh. Những trường hợp ác tính và u màng năo lành tính mổ sót đều được điều
trị bằng tia cobalt. Thời gian sống sót không cách biệt với các báo cáo trong
nước đối với các khối u ác tính.
SUMMARY
Brain Tumors at Danang General Hospital
Among 83 brain tumors encountered at Danang general
hospital, 63 cases have been operated during 6 years, 13 cases were detected by
carotid angiography or ventriculography, 70 cases by CT Scan. Most of patients
came to the hospital very late with a huge intracranial mass. Some of them were
admitted in a drowsy, comatose or epilepticus state. These patients were
operated and then followed up over 3 years by the same team. Despite the lack of
medical equipment and facilities in operating room, mortality during the
operation and postoperative period was nil. Almost pathological specimens were
read by 2 or 3 pathologists in order to get a consistent diagnosis. Malignant
cases continued undergoing radiotherapy including few cases of menigiomas which
were not totally removed. The survival time and the quality of life seems to be
similar to others reports in Vietnam.
Tài liệu tham khảo
1. Michael D. Prados, Mitchell s. Berger,
Charles Wilson. Central nervous system tumors. Advances in knowledge and
treatment. November - December 1998 p. 331 - 357, Vol 48
2. Lê Xuân Trung. Brains tumors in Ho Chi
Minh city. Journal of? clinical Neuroscience. Harcourt Brace & Co Ltd
3. Trần Văn Khánh. Vài nhận xét về chẩn
đoán & điều trị bướu năo tại khoa Thần Kinh Giăi phẫu bệnh viện Chợ Rẫy. Nội san
bệnh viện Chợ Rẫy 1978 trang 119 - 125
4. Lê Điền Nhi. U màng năo 1993 - 1997.
Báo cáo tại Hội nghị Việt - Pháp về Giải phẫu Thần Kinh năm 1997.
5. Mc Cathy BJ. Davis FG. Factors
associated with survival in patients with meningiomas. J. Neurosurg 88: 831-839
1996.
6. Giải phẫu bướu năo tại Tổng Y Viện Duy
Tân. Báo SaiGon 13/6/1972