Herpes, theo chữ Hy Lạp cổ có nghĩa ḅ hoặc trườn, là tên của một họ virut trong
đó có virut herpes simplex 1 (HSV-1) và virut herpes simplex 2 (HSV-2) là hai
tác nhân gây bệnh cho người quan trọng. HSV-1 thường gây các nhiễm virut vùng
miệng, mặt và viêm năo, trái lại? HSV-2 thường gây các nhiễm virut sinh dục và
có thể lây truyền từ mẹ sang trẻ sơ sinh. Cả hai virut đều gây nhiễm virut tiềm
ẩn tại các nơron cảm giác, và một khi được tái hoạt, sẽ tạo nên những tổn thương
ở gần hoặc ngay nơi virut xâm nhập vào cơ thể.
CẤU TRÚC
Virion của HSV gồm 4 phần: giữa là nhân chứa 2 sợi DNA thẳng,
một capsid h́nh khối, một màng bao chung quanh capsid gồm một lớp protein vô
định h́nh, và ngoài cùng là một vỏ bọc.
Để gây nhiễm, HSV phải gắn vào ít nhất 3 lớp thụ thể
bề mặt tế bào khác nhau và ḥa nhập lớp vỏ bọc của nó với màng bào tương. Khối
capsid sau khi mất vỏ bọc được vận chuyển qua các lỗ trên màng nhân vào trong
nhân. Tại đây, DNA của virut được giải phóng. HSV sao chép và phiên mă thành
những protein sớm: a protein (thật sớm) điều ḥa tự sao chép virut, b protein
(sớm) tổng hợp và đóng gói DNA, và 1 protein muộn: g protein? mà phần lớn là các
protein của virion (Forrester A, et al. 1992; & Fricker J. 1996).
CHỨC NĂNG CỦA VIRUT
Các giai đoạn của chu tŕnh sao chép virut và các protein
sản sinh tương ứng là đề tài cho nhiều nghiên cứu về bệnh lư ở người và liệu
pháp kháng virut. Ví dụ, những glycoprotein ở bề mặt virut trung gian cho việc
gắn và xâm nhập của virut vào tế bào đồng thời kích thích các đáp ứng miễn dịch
ở kư chủ. Có 11 glycoprotein được biết cho đến nay (B-M) và dự đoán có thêm
glycoprotein thứ 12 (gpN). Hai trong số này (gB hoặc gD hoặc cả hai) được dùng
trong văcxin tiểu phân đơn vị. Các văcxin khiếm khuyết sao chép được chế tạo từ
những virut thiếu một hoặc nhiều các gien quan trọng.
Một số protein virut như thymidine kinase, ribonucleotide
reductase; dUTPase và uracyl DNA glucosylase, kiểm soát chuyển hóa acid nucleic
của virut và là mục tiêu hiện đại (như polymuase và thymidine kinase) hoặc tiềm
năng của liệu pháp kháng virut. Protease cũng là một mục tiêu kháng virut có
tiềm năng quan trọng nhờ vào khả năng cắt đoạn các HSV protein đóng gói DNA
virut vào khối capsid đă được định h́nh trước đó.
HSV có cả một hệ thống phức tạp để ức chế đáp ứng với nhiễm
virut của kư chủ. Tế bào kư chủ làm thái hóa các protein của virut. Peptide (sản
phẩm thái hóa) được vận chuyển đến hệ lưới nội bào và được tŕnh diện như kháng
nguyên bởi các protein MHC lớp I (MHC: phức hợp chủ yếu ḥa hợp mô-Major histo).
HSV ức chế việc tŕnh diện các peptid compatibility complex bằng cách mă hóa ICP
47, một protein phân tử nhỏ gắn kết với các protein vận chuyển TAP1 hoặc TAP2,
do đó ngăn không cho chúng vận chuyển peptide đến hệ lưới nội bào.
H́nh 1: Virut herpes simplex trưởng thành (mũi tên chỉ
virion)
Một cách bảo vệ kư chủ khác là sự chết tế bào theo chương
tŕnh, HSV ngăn chận được điều này nhờ 3 protein Us3, gJ và gD. Sau cùng, cũng
giống như các virut khác, HSV có thể tạo các RNA bổ sung có khả năng bắt cặp và
kích hoạt protein kinase R của kư chủ-Enzym này dẫn đến việc ức chế toàn bộ sự
tổng hợp protein. Cũng vậy, tế bào không thể đáp ứng với nhiễm virut v́ HSV phá
hủy mRNA tế bào, ức chế phiên mă, và ngăn chận sự cắt nối (splicing) của mRNA.
CÁC ĐẶC TÍNH SINH HỌC
Các đặc tính sinh học kiểm soát tiến tŕnh nhiễm virut ở
người của HSV là: tính xâm lấn hệ thần kinh (khả năng xâm nhập năo bộ), tính gây
độc cho hệ thần kinh (khả năng tăng sinh và phá hủy năo bộ); và tính tiềm ẩn
(khả năng duy tŕ dưới dạng không sao chép tại các nơron của các hạch rễ lưng
(dorsal root ganglid và hệ thần kinh tự chủ).
HSV-1 và HSV-2 được vận chuyển ngược ḍng dọc theo sợi trục
nối từ điểm xâm nhập ban đầu đến nhân của các nơron cảm giác. Tại đó nó ở trạng
thái tiềm ẩn suốt? cuộc đời của kư chủ. Các nguyên nhân làm tái hoạt virut là:
các stress thực thể hoặc stress cảm xúc, sốt, ánh sáng tử ngoại, chấn thương.
T́nh trạng tiềm ẩn được h́nh thành như thế nào th́ chưa được rơ. Rất có khả năng
là do việc thiếu C1, một protein tế bào cần cho biểu hiện gien của virut, và có
những chất kiềm hăm (repressors) tế bào chưa xác định được ngăn chận biểu hiện
gien ở mức độ ngay bản thân gien (thay đổi cấu trúc nhiễm sắc hoặc phân tử DNA).
DỊCH TỄ HỌC
HSV gây nhiễm qua bề mặt niêm mạc hoặc chỗ da trầy xước.
Những cá thể cảm thụ (nghĩa là những người có huyết thanh âm tính với HSV) bị
nhiễm "tiên phát" (primary). Sau tiếp xúc lần đầu với HSV-1 hoặc HSV-2. Nhiễm
"ban đầu" (initial) khi một cá thể có kháng thể với một trong hai virut HSV-1 và
HSV-2 lại bị nhiễm virut lần đầu tiên với tưp virut c̣n lại.
Những virut này có mặt ở khắp thế giới, không biến thiên theo
mùa và người là kư chủ tự nhiên duy nhất. Nhiễm virut HSV ít khi gây tử vong.
Người ta phần lớn đă nhiễm và mang virut HSV tiềm ẩn, do đó có cả một nguồn lây
nhiễm cực lớn cho những cá thể cảm thụ.
C̣n nhiều yếu tố dân số học ảnh hưởng đến mức độ nhiễm virut
HSV-1. Tại các quốc gia kém phát triển, kháng thể xuất hiện khá sớm ở khoảng 1/3
trẻ đến 5 tuổi, và khoảng 70-80% lứa tuổi thanh thiếu niên. C̣n các quốc gia
phát triển ở tầng lớp trung lưu và thượng lưu, tỉ lệ kháng thể dương tính là 20%
ở trẻ dưới 5 tuổi, sau đó tỉ lệ này tăng không đáng kể, cho đến lứa tuổi 20-40,
tỉ lệ mới tăng vọt lên 40-60%. Ở Mỹ, sắc tộc cũng có ảnh hưởng đến việc nhiễm
HSV-1. Trên 35% trẻ Mỹ gốc Phi Châu 5 tuổi bị nhiễm HSV-1 so với 18% trẻ Mỹ da
trắng. Tỷ lệ nhiễm mới trong sinh viên các trường đại học vào khoảng 5-10% hàng
năm (Nahmias AJ, et al. 1990).
HSV-2 luôn luôn lây truyền qua đường t́nh dục. Phần lớn
Herpes sinh dục có nguyên nhân là HSV-2, tuy nhiên hiện đang có sự gia tăng tỉ
lệ herpes sinh dục do HSV-1. Nhiễm virut HSV-1 sinh dục, thường nhẹ hơn và ít
tái phát hơn so với nhiễm HSV-2. Tỉ lệ hiện có kháng thể huyết thanh với HSV-2
là 20-30% ở lứa tuổi 15-29, và 35-60% ở tuổi 60 (Nahmias AJ, et al. 1990 &
Fleming DT, et al. 1997). Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thụ đắc nhiễm virut HSV-2
gồm giới tính (thường gặp ở phụ nữ hơn), sắc tộc (thường gặp ở người Mỹ gốc Phi
Châu hơn), t́nh trạng hôn nhân, số bạn t́nh, và nơi thường trú (đô thị có tỉ lệ
bệnh cao hơn nông thôn). Tỉ lệ bệnh lưu hành có kháng thể với HSV-2 cao nhất ở
gái mại dâm (73%) và đồng tính nam (83%) (Nahmias AJ, et al. 1990).
Cũng như nhiễm virut HSV-1 ở miệng. Nhiễm virut HSV-2 có thể
không có triệu chứng. Mức độ tái phát khác nhau giữa nam giới và nữ giới, lần
lượt là 2,7 lần và 1,9 lần cho mỗi 100 ngày.
Đặc trưng tế bào học của nhiễm virut HSV tiên phát hoặc tái
phát là sự chết tế bào qua trung gian virut và đáp ứng viêm kết hợp. Nhiễm virut
làm cho các tế bào (thường là các tế bào cận đáy và ở lớp giữa của biểu mô) căng
phồng lên với chất nhiễm sắc cô đặc lại trong nhân, tiếp theo là sự thoái hóa
nhân. Màng bào tương vỡ ra và các tế bào bị nhiễm virut tạo thành những tế bào
khổng lồ nhiều nhân (multinucleated giant cells).
CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán xác định dựa vào sự phân lập virut trong nuôi cấy
tế bào hoặc xét nghiệm PCR t́m HSV-DNA. Nuôi cấy tế bào ít tốn kém hơn PCR
(Lakeman FD, Whitley RJ, 1995) và có thể định tưp virut được. Lấy bệnh phẩm bằng
cách cạo các mụn rộp ở da. Kết quả có sau 24-48 giờ. Chẩn đoán huyết thanh chỉ
có giá trị xác nhận đă có tiếp xúc với HSV. Với các trường hợp nhiễm virut HSV ở
năo, phân tích PCR dịch năo tủy là phương pháp chẩn đoán được ưa thích. Dịch năo
tủy cho kết quả PCR (+) trong suốt một tuần ở phần lớn bệnh nhân.
Dấu hiệu và triệu chứng
Thời gian ủ bệnh của HSV-1 và HSV-2 là khoảng 4 ngày (từ 2-12
ngày). Thời gian thải virut trong nhiễm virut HSV-1 miệng hầu và HSV-2 sinh dục
có thể đến 23 ngày (trung b́nh từ 7-10 ngày). Viêm miệng hầu có triệu chứng gồm
các tổn thương ở viêm mạc miệng và lợi (kéo dài 2-3 tuần) và sốt 38,3 - 40oC.
Những tổn thương loét trong miệng cho biết đó là nhiễm virut tiên phát; trái lại
tổn thương ở môi gợi ư nhiễm virut tái phát.
H́nh 2: Nhiễm HSV môi-miệng tái phát
Trong viêm môi-miệng tái phát, bệnh nhân cảm thấy đau, bứt
rứt, ớn lạnh hoặc ngứa thường kéo dài đến 6 giờ, sau đó các mụn rộp nổi lên ở
vùng nối da niêm của môi (H́nh 2). Thường có từ 3-5 mụn rộp, tồn tại trong 48
giờ, sau đó thành mụn mủ hoặc vết loét rồi đóng vảy trong ṿng 72-96 giờ. Các
tổn thương lành hoàn toàn sau 8-10 ngày. Đau nhức nhiều nhất là lúc khởi bệnh và
rồi khỏi dần trong 96-120 giờ. Một số nhiễm virut HSV-1 da khác là: chàm do
Herpes ở các bệnh nhân sẵn có chàm thể tạng, các tổn thương lan rộng kết hợp với
hội chứng Darier và Sézary. HSV tưp nào cũng có thể kích phát hồng ban đa dạng.
Herpes sinh dục tiên phát gồm các tổn thương dát, sẫn, tiếp
theo là mụn rộp, mụn mủ và loét (Corey L, et al. 1983). Các biến chứng ở nam
giới rất hiếm; viêm màng năo vô trùng và bí tiểu thường gặp ở phụ nữ hơn. Các
biến chứng khác ở nam lẫn nữ là cảm giác tê và đau buốt ở chân và hội âm, đái
khó, viêm hạch bẹn và mệt mỏi. Nhiễm virut HSV-2 quanh hậu môn và viêm trực
tràng gặp thường nhất ở đồng tính luyến ái nam. Nhiễm virut sinh dục ban đầu
(initial) có triệu chứng nhẹ hơn nhiễm virut tiên phát (primary) (ít tổn thương
hơn, ít đau và ít có biến chứng hơn). Kháng thể với HSV-1 làm giảm độ trầm trọng
của bệnh do HSV-2 gây ra.
Tổn thương của herpes sinh dục tái phát ở nam giới là các mụn
rộp (từ 3-5 mụn) nổi lên ở thân dương vật hoặc ở phụ nữ là mụn rộp và loét âm
hộ. Bệnh kéo dài 8-10 ngày, khoảng 1/3 bệnh nhân tái phát trên 6 lần/năm, 1/3
khác 2 lần một năm, 1/3 c̣n lại th́ hiếm khi có tái phát. HSV có thể lây truyền
cho bạn t́nh dù BN có hay không có triệu chứng (Mertz GJ, et al. 1992).
Herpes sinh dục hiếm khi truyền từ mẹ sang con trong thai kỳ,
nhưng khi lây truyền được nó tác hại đến nhiều cơ quan nội tạng, gây viêm gan
hoại tử có hoặc không có giảm tiểu cầu, đông máu nội mạch lan tỏa và viêm năo. Ở
Bắc Mỹ tỉ lệ nhiễm virut của thai vào khoảng một trên 300.000 trẻ sơ sinh c̣n
sống. Các dấu chứng kết hợp là chứng đầu nhỏ, sẹo da, và viêm vơng mạc.
Ở Mỹ, Herpes sơ sinh có tỉ lệ mắc mới vào khoảng 1/2000
-1/5000 trẻ được sinh hàng năm. Có ít nhất ba yếu tố ảnh hưởng đến sự lây truyền
từ mẹ sang thai nhi. Mẹ bị nhiễm tiên phát hoặc sơ phát có tỉ lệ lây truyền
30-50% cho các trẻ sinh bằng đường âm đạo, nếu mẹ bị nhiễm tái phát tỉ lệ này
chỉ c̣n là 3% hoặc ít hơn. Các kháng thể của mẹ đi qua nhau nếu không thật sự
ngăn được sự lây truyền th́ cũng làm giảm được độ nặng của nhiễm virut. Vỡ ối
kéo dài trên 6 giờ làm tăng nguy cơ nhiễm virut. Nhiễm virut sơ sinh có thể xảy
ra trong tử cung (5% nhiễm virut), trong lúc sinh (khoảng 80%) hoặc hậu sản.
Nhiễm virut hầu như đều có triệu chứng và thường gây tử vong. Bệnh có thể xuất
hiện tại chỗ ở da, mắt hoặc miệng (40% trẻ), gây viêm năo có hoặc không nhiễm
virut da kèm theo (35%) hoặc nhiễm virut lan tỏa (25%).
Hàng năm tại Mỹ có đến 300.000 trường hợp herpes mắt được
chẩn đoán. Viêm kết-giác mạc herpes kết hợp với viêm kết mạc một hoặc hai mắt.
Loét giác mạc h́nh bản đồ là thể bệnh nặng. Bệnh thường tái phát. Ở các bệnh
nhân suy giảm miễn dịch như các bệnh nhân được ghép cơ quan, nguy cơ bị nhiễm
HSV thể nặng rất cao. Những bệnh nhân này có thể mắc các bệnh tiến triển ở đường
hô hấp, thực quản và đường tiêu hóa.
Viêm năo do HSV là một tai họa và được xem là nguyên nhân
thường gặp nhất của các trường hợp viêm năo lẻ tẻ có gây tử vong. Trên 70% bệnh
nhân không điều trị bị tử vong và chỉ có 2,5% trong số bệnh nhân sống sót phục
hồi được chức năng thần kinh b́nh thường. HSV tác động đến tất cả các vùng của
hệ thần kinh, gây viêm màng năo, viêm năo và viêm rễ thần kinh. HSV c̣n được
phân lập ở đường hô hấp của các bệnh nhân bị hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển
và co thắt phế quản cấp. Trong t́nh huống này, nó là gia tăng mức độ nặng và tử
vong.
ĐIỀU TRỊ
Thuốc dùng
Aciclovir (Zovirax),
một chất đồng đẳng purin-ucleosid tổng hợp, là trị liệu chuẩn của nhiễm virut
HSV (Whitley RJ, Gnann JW. 1993) và giúp kiểm soát tốt các triệu chứng. Các tiền
dược của nó như Valaciclovir (biến đổi thành aciclovir) và famciclovir (biến đổi
thành penciclovir) đă được phép lưu hành và có sinh khả dụng đường uống lần lượt
tốt hơn aciclovir và penciclovir (Balfour HH Jr. 1999).
Herpes niêm mạc
Nhiễm virut HSV miệng hoặc sinh dục ban đầu có thể được điều
trị bằng aciclovir thoa tại chỗ, đường uống hoặc đường tiêm tĩnh mạch. Thuốc
dùng tại chỗ kém hiệu quả hơn thuốc uống hoặc tiêm mạch. Mặc dù aciclovir tiêm
mạch là trị liệu hiệu quả nhất đối với herpes sinh dục nhiễm lần đầu, nhưng trị
liệu aciclovir đường uống, 200mg, năm lần trong ngày, vẫn được ưa chuộng hơn.
Valaciclovir và famciclovir có lợi ích tương tự aciclovir. Cả aciclovir đường
uống lẫn tiêm mạch đều không làm giảm tần suất tái phát. Viêm miệng-lợi ở trẻ em
có thể được điều trị bằng aciclovir uống dạng dịch treo.
Trong herpes sinh dục tái phát, aciclovir đường uống rút ngắn
thời gian thải virut và thời gian lành tổn thương (6 ngày nếu điều trị so với 7
ngày nếu không điều trị) nếu được bắt đầu trong ṿng 24 giờ. Sau khi bệnh khởi
phát, khoảng thời gian tính đến tái phát dài ngắn không có ảnh hưởng ǵ
(Reichman RC, 1984). Valaciclovir có thể uống một lần trong ngày trong khi
Faciclovir phải dùng 2 lần trong ngày (Diaz-Mitoma F, et al. 1998). Chỉ những
trường hợp herpes môi tái phát mức độ nặng mới cần điều trị. Điều trị tại chỗ
bằng penciclovir sẽ gia tốc việc lành tổn thương trong ṿng một ngày-Aciclovir
uống làm giảm thời gian bong vảy từ 7 đến 8 ngày nhưng không thay đổi được
khoảng thời gian tồn tại của cơn đau hoặc thời gian lành hẳn tổn thương.
Aciclovir, valaciclovir, famciclovir uống ḱm hăm được các
cơn tái phát của bệnh nhân bị herpes sinh dục. Aciclovir uống mỗi ngày làm giảm
tần suất tái phát đến 80% và ngừa được tái phát trong 25-30% bệnh nhân. Điều
chỉnh liều aciclovir nhằm thiết lập một liều dùng nhỏ nhất có hiệu quả và kinh
tế (Saral R, et al. N Engl J Med 1981). Việc thải virut mà không có triệu
chứng có thể xảy ra mặc dù điều trị ức chế với aciclovir trên lâm sàng có hiệu
quả, do đó việc lây truyền người sang người vẫn có thể có được.
Aciclovir uống hoặc tiêm mạch làm giảm tỉ lệ có triệu
chứng ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch khoảng 70% đến 5-20% (Whitley RJ, et
al. 1986); famciclovir và valaciclovir cũng có tác dụng tương đương. Liều uống
từ 200mg ? 3 lần trong ngày đến 800mg ? 2 lần trong ngày đều đạt kết quả tốt.
Các chủng HSV kháng aciclovir thường được t́m thấy ở những BN ghép tủy hoặc BN
AIDS sau một đợt điều trị với aciclovir hơn là trong trị liệu dự pḥng, các
chủng này cũng kháng cả với famciclovir hoặc penciclovir hoặc cả hai. Aciclovir
là điều trị chính cho bệnh nhân suy giảm miễn dịch nhiễm HSV.
Bảng 1: Chỉ định điều trị aciclovir trên bệnh nhân nhiễm
herpes simplex
|
Bệnh nhiễm
|
Đường dùng, liều dùng*??
|
Bàn luận
|
|
Herpes sinh dục
|
|
|
Giai đoạn ban đầu
|
|
|
?? Aciclovir
|
200mg uống 5 lần/ngày trong 7-10 ngày???
|
những kư chủ b́nh thường
|
|
|
5mg/kg tiêm tĩnh mạch mỗi 8 giờ trong 5-7 ngày
|
chỉ dùng cho trường hợp nặng
|
|
|
400mg uống 3 lần/ngày
|
|
|
?? Valaciclovir
|
1g uống 2 lần /ngày trong 7-10 ngày
|
|
|
?? Famciclovir
|
250 mg uống 3 lần /ngày trong 5-10 ngày
|
|
|
Giai đoạn tái phát
|
|
|
?? Aciclovir
|
400mg uống 2 lần / ngày trong 5 ngày
|
lợi ích lâm sàng hạn chế
|
|
?? Valaciclovir
|
500mg uống 2 lần /ngày trong 5 ngày
|
|
|
?? Famciclovir
|
125-250mg uống 2 lần /ngày trong 5 ngày
|
|
|
Điều trị khống chế
|
|
|
?? Aciclovir
|
400mg uống 2 lần mỗi ngày
|
điều chỉnh liều khi cần
|
|
?? Valaciclor
|
500-1000mg uống một lần /ngày
|
|
|
? ?Famciclovir
|
250mg uống 2 lần mỗi ngày
|
|
|
Herpes da -niêm mạc ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch
|
|
?? Aciclovir
|
200-400mg uống 5 lần/ngày chỉ dùng trong 10 ngày nếu là
sang thương nhẹ
|
|
|
|
5mg/kg tiêm mạch mỗi 8 giờ trong 7-14 ngày
|
|
|
|
400mg uống 5 lần/ngày trong 7-14 ngày
|
|
|
?? Valaciclovir
|
500mg 2 lần/ngày, uống
|
|
|
?? Famciclovir
|
250mg 3 lần/ngày, uống
|
|
|
Viêm năo hsv
|
|
|
?? Aciclovir
|
10-15mg/kg tiêm mạch mỗi 8 giờ trong 14-21 ngày
|
|
|
Hsv sơ sinh**
|
|
|
?? Aciclovir
|
20mg/kg tiêm mạch mỗi 8 giờ trong 14-21 ngày
|
|
Ghi chú: * Liều dùng ở đây là liều dùng của người lớn có chức
năng thận b́nh thường. **Hiện chưa được US.FDA chấp thuận.??????????
Nhiễm virut hsv khác
Aciclovir tiêm mạch giảm tỉ lệ tử vong của viêm năo herpes
tại thời điểm 3 tháng từ 70% c̣n 19%, 38% BN được điều trị có lại được chức năng
thần kinh b́nh thường. Điều trị này cũng dùng cho trị herpes sơ sinh.
ở bệnh da khu trú, tử vong là 0%, ở viêm năo là 5% và bệnh lan nhiều chỗ
là 25%. Tuy nhiên có những trẻ rơ ràng bệnh chỉ khu trú ngoài da nhưng lại có
PCR dịch năo tủy dương tính với HSV-DNA, mặc dù các test sinh hóa t́m HSV âm
tính. PCR HSV dương tính sau khi hoàn tất điều trị cho thấy có tổn thương thần
kinh.
Aciclovir cũng thành công trong điều trị các bệnh nhiễm HSV
khác như: viêm gan, nhiễm trùng phổi, viêm thực quản, viêm trực tràng, chàm
Herpes, hồng ban đa dạng và viêm mé móng herpes (herpetic whitlow). Herpes mắt
có thể điều trị hữu hiệu với aciclovir hoặc trifluridine.
Đề kháng của virut
Cơ chế đề kháng của HSV với aciclovir là hiện tượng đột biến
gien mă hóa thymidine kinase của virut - bằng cách tăng sinh các gien đột biến
có thymidine kinase không phosphoryl hóa aciclovir được. Phần lớn các chủng
kháng HSV trên lâm sàng đều thiếu thymidine kinase. Hiện tượng kháng thuốc được
cho là hiếm và các chủng kháng thuốc được nghĩ là có khả năng sinh bệnh kém hơn,
cho đến khi các chủng kháng aciclovir được t́m thấy trên các bệnh nhân AIDS
(Erlich KS, et al. 1989). Những chủng đột biến này đều thiếu thymidine-kinase
(thymidine kinase cần cho việc phosphoryl hóa acyclovir để aciclovir trở thành
dạng hoạt động). Các chủng kháng aciclovir được xác định là nguyên nhân của viêm
phổi, viêm năo, viêm thực quản, các nhiễm virut da niêm trong các BN suy giảm
miễn dịch.
Độc tính
Aciclovir, valaciclovir và famciclovir ít có tác dụng ngoại
ư. Có thể gặp rối loạn chức năng thận ở những BN được cho những liều lớn
aciclovir truyền mạch nhanh; nhưng điều này hiếm và thường có thể phục hồi. Có
thể giảm nguy cơ gây độc cho thận bằng cách truyền mạch aciclovir chậm và bù
dịch đầy đủ. Aciclovir uống, ngay cả ở liều 800mg năm lần một ngày, cũng không
gây rối loạn chức năng thận. Aciclovir tiêm mạch có thể gây rối loạn hệ thần
kinh trung ương như kích động, ảo giác, mất định hướng, run và co giật cơ. Trong
thập kỷ vừa qua việc điều trị liên tục với aciclovir đă không gây một độc tính
lâu dài nào.
Văcxin HSV
V́ HSV vẫn tái phát dù BN đă có miễn dịch dịch thể lẫn miễn
dịch tế bào, chủng ngừa bằng văcxin, nên việc dùng văcxin pḥng ngừa khó có thể
đạt kết quả (Burke RL. 1993). Hai loại văcxin sử dụng gB và gD như kháng nguyên
cho thấy không có hiệu lực pḥng ngừa hoặc trị liệu (Corey L, et al. 1999).
Trong một nghiên cứu khác về văcxin gD, chủng ngừa có vẻ bảo vệ được phụ nữ
nhưng với nam giới th́ không (Spruance SL, 2000).
Liệu pháp gien
HSV mất đoạn gien *-1 34-5 không sao chép được trong tế bào
năo hậu gián phân. Những virut đột biến này có thể cấy vào khối u của BN bị U
nguyên bào thần kinh đệm mà không gây viêm năo. Do đó các HSV đột biến mất một
hoặc nhiều đoạn gien chủ yếu có thể được sử dụng như những vectơ mang bản sao
lành của các gien bị mất hoặc hư hại của tế bào đưa vào hệ thần kinh trung ương.
Các HSV đột biến này có tính tiềm ẩn và có khả năng biểu hiện gien tế bào trong
một thời gian dài.
BS Nguyễn
Hoàng Tuấn dịch theo Richard J Whitley,
Lancet
2001;357:1513-18: Herpes simplex virus infection.