|

WHO
definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and
not merely the absence of disease or infirmity.
|
|
ĐIỀU TRỊ hormon thay thế SAU MĂN KINH
Bệnh nhân số 1 là một phụ nữ 52
tuổi có nguy cơ trung b́nh đối với bệnh ung thư vú và loăng xương và có những
triệu chứng liên quan đến măn kinh như cơn nóng bừng và giấc ngủ bị xáo trộn.
Bệnh nhân số 2 là một phụ nữ 58 tuổi, bệnh loăng xương và có bà mẹ bị bệnh ung
thư vú. Bệnh nhân số 3 là một phụ nữ 65 tuổi, có bệnh sử tái tạo động mạch vành
và bệnh loăng xương. Mỗi phụ nữ nói trên đều muốn biết xem điều trị hormon thay
thế (HTT) có hợp với họ không?
Vấn đề lâm sàng
Tổng quan
Một trong những quyết định phức tạp và khó
khăn nhất trong chăm sóc sức khỏe phụ nữ là liệu họ có nên dùng HTT sau măn kinh
hay không? Tại Hoa Kỳ cuộc sống trung b́nh phụ nữ kéo dài khoảng 30 năm sau khi
măn kinh, một giai đoạn cuộc sống thường kèm theo gánh nặng ngày càng tăng về
bệnh mạn tính, bao gồm bệnh tim mạch, ung thư, loăng xương, và rối loạn nhận
thức.
Trị liệu bằng HTT, được kê toa lúc ban đầu
để làm giảm bớt những triệu chứng vận mạch, th́ ngày càng được xem xét như một
chiến lược có khả năng pḥng ngừa và tŕ hoăn vài bệnh mạn tính. Mặc dù nhiều
phụ nữ tin cậy vào bác sĩ chăm sóc để có câu trả lời dứt khoát về quyết định xem
họ có nên dùng HTT sau măn kinh, đánh giá sự cân bằng về lợi ích và tác hại đối
với từng bệnh nhân là một thách thức cấp bách đối với bác sĩ điều trị, dù là
người có nhiều kinh nghiệm nhất.
Có khoảng 38% phụ nữ sau măn kinh
ở Hoa Kỳ sử dụng HTT. Tuy sử dụng HTT phổ biến nhưng lại có ít những dữ liệu kết
luận liên quan đến những lợi ích và những tác hại của phương pháp này. Dẫu rằng
đă có nhiều nghiên cứu quan sát ủng hộ cho việc sử dụng HTT, những thử nghiệm
ngẫu nhiên gần đây đ̣i hỏi những dữ liệu hợp lư cho việc kê toa HTT trong việc
pḥng ngừa bệnh tim mạch và nổi lên khả năng là HTT có thể dẫn tới sự gia tăng
những tác hại trong thời hạn ngắn. Những lợi ích được nhận thấy qua những nghiên
cứu quan sát lớn có thể một phần là do những khác biệt giữa những phụ nữ chọn
HTT sau măn kinh và những phụ nữ không chọn, bao gồm những khác biệt về tŕnh độ
giáo dục, khả năng tiếp cận với chăm sóc y tế, những yếu tố về lối sống, và sự
tuân thủ trị liệu đă được kê toa (Manson JE. 1994 &
Barrett-Connor E, Grady D. 1998).
Bằng chứng hiển nhiên có liên quan đến
những lợi ích và tác hại của trị liệu HTT được xác định từ 2 thử nghiệm ngẫu
nhiên, lớn đang tiến hành- Đó là thử nghiệm Đề Xướng Sức Khỏe Phụ Nữ tại
Hoa Kỳ (Women?s Health Initiative) dự kiến đến năm 2005 có kết quả và Nghiên
Cứu Quốc Tế về Sử Dụng Lâu Dài Oestrogen sau Măn Kinh (Women?s
International Study Of Long Duration Oestrogen after Menopause) tại 14 quốc gia
dự kiến đến năm 2012 có kết quả. Cho tới đó, hàng triệu phụ nữ và các bác sĩ của
họ phải vật lộn với quyết định về vấn đề sử dụng HTT sau măn kinh.
Câu đố về bệnh tim mạch
Phần lớn nhiệt t́nh cho việc sử dụng HTT
là do tác dụng có thể bảo vệ tim mạch. Có tới hơn 40 nghiên cứu quan sát trong
ṿng 3 thập niên qua, gộp chung đă đề xuất rằng những phụ nữ dùng estrogen có
nguy cơ mắc bệnh động mạch vành thấp hơn từ 35 đến 50% so với những phụ nữ không
sử dụng estrogen (Barrett-Connor E, 1998; Grodstein F, et al. 2000). Một sự kết
hợp như vậy có vẻ như hợp lư về mặt sinh học. Những thử nghiệm ngẫu nhiên cho
thấy trị liệu bằng estrogen làm giảm nồng độ lipoprotein tỷ trọng thấp trong
huyết tương từ 10 đến 14% và làm gia tăng nồng độ lipoprotein tỷ trọng cao trong
huyết tương từ 7 đến 8%, sự thay đổi này được biết là có liên quan đến giảm nguy
cơ bệnh tim mạch (JAMA 1995;273:199-208). Estrogen cũng chứng tỏ làm giảm nồng
độ lipoprotein Lp(a), ức chế oxy-hoá lipoprotein có tỷ trọng thấp, cải thiện
chức năng của thành nội mạch và đảo ngược quá tŕnh gia tăng sau măn kinh của
fibrinogen và chất ức chế kích hoạt tưp 1 plasminogen, những thay đổi này cũng
có thể làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch (Chae CU, et al. 1999). Tuy nhiên, trị
liệu bằng estrogen đồng thời có thể gây bất lợi trên những chất đánh dấu sinh
học tim mạch như gia tăng nồng độ triglycerid, kích hoạt đông máu do gia tăng
yếu tố VII, prothrombin đoạn 1 và 2 và fibrinopeptid A10; và gia tăng
nồng độ c-reactive protein, một chất đánh dấu của hiện tượng viêm
thường kết hợp với sự gia tăng nguy cơ biến cố tim mạch.
Những thử nghiệm ngẫu nhiên về estrogen
trên những phụ nữ mắc bệnh động mạch vành từ trước đă không công nhận lợi ích về
tim mạch như được báo cáo qua các nghiên cứu quan sát. Trong nghiên cứu Tim
và Điều Trị Thay Thế bằng Estrogen/Progestin (Heart and estrogen/ progestin
Replacement study-HERS), một thử nghiệm đầu tiên về ngăn ngừa thứ phát được
thiết kế để đánh giá tác dụng của HTT (kết hợp giữa estrogen và progestin) trên
nguy cơ về biến cố lâm sàng tim mạch ở 2763 phụ nữ đă có bệnh động mạch vành th́
tỷ lệ tử vong chung do mạch vành và nhồi máu cơ tim không tử vong th́ giống nhau
ở nhóm có điều trị HTT và nhóm uống giả dược (Hulley S, et al. 1998). Hơn nữa,
trong một năm đầu nghiên cứu, thấy gia tăng 50% nguy cơ về biến cố bệnh động
mạch vành ở những phụ nữ được điều trị bằng HTT nhưng cuối cùng lại được bù đắp
bằng sự giảm nguy cơ bệnh động mạch vành. Mô h́nh này có thể là hệ quả của sự
tăng tỷ lệ biến cố trên phụ nữ nhạy cảm, c̣n lại là nhóm phụ nữ có nguy cơ thấp
hơn khi tiếp tục theo dơi.
Trong thử nghiệm Xơ Vữa Động Mạch và
Điều Trị Thay Thế bằng Estrogen có đối chứng với giả dược, estrogen đơn
thuần hay kết hợp với progestin đều không ảnh hưởng đến tiến tŕnh xơ vữa động
mạch vành (Herrington DM, et al. 2000). Những dữ liệu sơ bộ thu thập được từ
nghiên cứu Điều Trị HTT trong Xơ Vữa Động Mạch của Papworth, đánh giá tác dụng
của estro-gen đơn thuần qua da hoặc estrogen kết hợp với nor-ethinchon cũng cho
thấy không có lợi ích nào của điều trị HTT và có thể có gia tăng nhỏ về tỷ lệ
biến cố tim mạch trong ṿng 2 năm đầu của thử nghiệm (Clarke S, 2000).
Như vậy, dựa trên cơ sở những dữ liệu từ
những thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, trị liệu bằng HTT có vẻ như không làm giảm
nguy cơ bệnh tim mạch ở những phụ nữ đă mắc bệnh động mạch vành. Những nhóm nhỏ
phụ nữ có nồng độ lipoprotein (Lpa) cao từ khởi đầu nghiên cứu có thể có lợi
(Shlipak MG, et al. 2000); trong khi nhóm những phụ nữ có huyết áp cao và biến
thể prothrombin đặc biệt có thể nguy cơ cao (Psaty BM, et al. 2001), dẫu rằng
những điều này và đánh dấu sinh học cần được nghiên cứu nhiều hơn nữa.
Điều trị bằng HTT có giảm được nguy cơ
biến cố tim mạch ở phụ nữ sau măn kinh mà không mắc bệnh động mạch vành hay
không, vẫn c̣n là vấn đề không rơ. Một phân tích tổng hợp 22 thử nghiệm ngắn hạn
nhằm đánh giá những tác dụng khác của HTT cho thấy có gia tăng không ư nghĩa
thống kê về nguy cơ biến cố tim mạch ở phụ nữ được chọn ngẫu nhiên sử dụng HTT
(Hemminki E, et al. 1997). Một phân tích tạm thời của nghiên cứu đang tiến hành
Đề Xướng Chăm Sóc Sức Khoẻ Phụ Nữ cũng gợi ư rằng có gia tăng nhỏ về số bệnh
nhồi máu cơ tim, đột quỵ, và biến cố huyết khối tắc mạch trong ṿng một hoặc 2
năm đầu ở nhóm phụ nữ có sử dụng HTT so với nhóm dùng giả dược (Lenfant C.
2000).
Chiến thuật và bằng chứng
Dữ liệu từ những nghiên cứu quan sát và
những thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên xác nhận việc sử dụng HTT làm dịu bớt những
triệu chứng măn kinh và gia tăng mật độ xương, trong khi đó lại làm tăng nguy cơ
chứng huyết khối thuyên tắc tĩnh mạch và ở phụ nữ tử cung nguyên vẹn dùng
estrogen đơn thuần (estrogen không kết hợp progestin) có nguy cơ ung thư nội mạc
tử cung. (Bảng 1)
Những lợi ích rơ ràng
triệu
chứng măn kinh
Tại Hoa Kỳ, từ 50 đến 80% phụ nữ báo cáo
những triệu chứng liên quan đến măn kinh như cơn nóng bừng, đổ mồ hôi đêm, khô
âm đạo, mất ngủ, thay đổi tâm trạng, và trầm cảm. Có bằng chứng hiển nhiên bao
gồm những dữ liệu từ những thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, chứng tỏ điều trị
bằng estrogen là một tiếp cận hiệu quả rất cao nhằm kiểm soát những triệu chứng
vận mạch và niệu sinh dục. Những tiếp cận khác -như sử dụng clonidin, chất ức
chế tái thu nạp serotonin chọn lọc hoặc sinh tố E hoặc dùng thực phẩm có chứa
đậu nành hoặc phytoestrogen (estrogen có nguồn gốc thực vật)- có thể làm giảm
bớt những triệu chứng vận mạch, dẫu rằng chúng dường như kém hiệu quả hơn so với
trị liệu HTT. Đối với những triệu chứng niệu-sinh dục, hiệu quả của estrogen qua
đường âm đạo là tương đương với estrogen uống hoặc qua da.
loăng xương
Estrogen ức chế sự mất chất xương có liên
quan đến tuổi trên hầu hết những phụ nữ sau măn kinh. Những nghiên cứu quan sát
cho thấy sử dụng estrogen làm giảm nguy cơ găy đốt sống khoảng 50% và nguy cơ
găy cổ xương đùi từ 25 đến 30% (Barrett-Connor E. 1998). Sự khác biệt này có ư
nghĩa là giảm tỷ lệ bệnh mới của găy cổ xương đùi từ 574 xuống c̣n 402 / 100.000
phụ nữ-năm. Do lợi ích giảm một khi ngưng dùng estrogen, một mô h́nh dự đoán
rằng nguy cơ găy xương có thể giảm 73% ở phụ nữ tuổi từ 75 đến 85 nếu sử dụng
estrogen liên tục sau thời kỳ măn kinh, nguy cơ găy xương có thể giảm từ 57 đến
69% đối với những phụ nữ bắt đầu sử dụng HTT vào tuổi 65 và nguy cơ găy xương có
thể giảm 23% đối với những phụ nữ bắt đầu sử dụng HTT ngay sau khi măn kinh
nhưng lại ngưng vào tuổi 65 (Ettinger B, Grady D. 1994). Thật là không may khi
những dữ liệu từ những thử nghiệm ngẫu nhiên có liên quan đến hiệu quả tác dụng
estrogen đối với găy xương lại hạn chế (Bảng 2). Cả 2 chất bisphosphonat và
raloxifen, chất điều biến chọn lọc thụ thể estrogen, đă cho thấy làm tăng mật độ
xương và giảm tỷ lệ găy xương. Gia tăng hoạt động thể lực và ăn đầy đủ lượng
calcium và sinh tố D có thể giúp làm giảm nguy cơ găy xương do loăng xương.
Những tác hại được xác định
Ung
thư nội mạc tử cung
Hơn 30 nghiên cứu quan sát đă chứng minh
sử dụng lâu dài estrogen đơn thuần (estrogen không kèm với medroxyprogesteron
acetat) làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung lên từ 8 đến 10 lần, hệ quả là
có hơn 46 trường hợp ung thư/ 10.000 phụ nữ dùng estrogen ít nhất 10 năm (Grady
D, et al. 1995). Những dữ liệu này được ủng hộ bởi những phát hiện từ thử nghiệm
ngẫu nhiên Can Thiệp bằng Estrogen và Progestin sau Măn Kinh (JAMA 1995;
273:199-208), trong đó tăng sản nội mạc tử cung không điển h́nh, tổn thương tiền
ác tính, xảy ra ở 24% phụ nữ đă được dùng estrogen trong ṿng 3 năm, so với 1%
phụ nữ dùng giả dược. Cho thêm một lượng vừa đủ progestin, chất đối kháng với
estrogen trên niêm mạc tử cung, th́ loại bỏ được những nguy cơ kể trên và có thể
là một thành phần cần thiết cho HTT ở phụ nữ có tử cung nguyên vẹn.
Bảng 1: Lợi ích và tác hại của hormon thay thế
|
BIẾN SỐ
|
Tác dụng
|
LỢI ÍCH HOẶC Tác hại
TƯƠNG ĐỐI??????????????????? TUYỆT ĐỐI
|
NGUỒN DỮ LIỆU
|
|
Những lợi ích rơ ràng
|
|
|
|
|
|
Những triệu chứng măn kinh (TC vận mạch niệu -sinh dục).
|
Cải thiện rơ
|
Giảm > 70 đến 80%
|
|
Nghiên cứu quan sát và thử nghiệm ngẫu nhiên
|
|
Loăng xương
|
Tăng mật độ xương, có thể giảm nguy cơ găy xương
|
Tăng mật độ xương 2 - 5%. Giảm nguy cơ găy xương 25 - 50%.
|
Giảm 172 trường hợp găy cổ xương đùi (402 so với 574)/
100.000 phụ nữ-năm
|
Nghiên cứu quan sát và những dữ liệu giới hạn từ những thử
nghiệm ngẫu nhiên.
|
|
Những tác hại được xác định
|
|
|
|
|
Ung thư nội mạc tử cung
|
Tác hại đă được xác định khi sử dụng estrogen đơn thuần,
không có nguy cơ khi sử dụng Estrogen kết hợp với Progestin.
|
Nguy cơ gia tăng gấp 8 đến 10 lần nếu sử dụng estrogen đơn
thuần
?10 năm; không gia tăng
nguy cơ khi sử dụng estrogen kết hợp với progestin.
|
Có hơn 46 trường hợp (52 so với 6)/100.000 phụ nữ-năm khi
sử dụng estrogen đơn thuần ?10
năm; không tăng nguy cơ khi sử dụng kết hợp estrogen với progestin.
|
Nghiên cứu quan sát và thử nghiệm ngẫu nhiên.
|
|
Huyết khối thuyên tắc tĩnh mạch
|
Gia tăng nguy cơ rơ
|
Nguy cơ gia tăng gấp 2,7 lần
|
Pḥng ngừa thứ phát: hơn 390 trường hợp/ 100.000 phụ nữ
-năm.
Pḥng ngừa tiên phát: hơn 20 trường hợp/100.000 phụ nữ-năm
|
Nghiên Cứu Tim và Trị Liệu Thay Thế bằng Estrogen/
Progestin
|
|
Những nguy cơ có thể tăng
|
|
|
|
|
Ung thư vú
|
Có thể tăng nguy cơ khi sử dụng estrogen dài hạn (?5 năm)
|
Tăng nguy cơ chung 1,35 lần khi sử dụng HTT trong
?5 năm.
|
Có hơn 20 trường hợp /100.000 phụ nữ dùng HTT trong 5 năm.
Hơn 60 trường hợp / 100.000 phụ nữ dùng HTT trong 10 năm. 120 trường hợp sau
15 năm trị liệu
|
Tổng phân tích của 51 nghiên cứu quan sát
|
|
Bệnh túi mật
|
Có thể tăng nguy cơ
|
Nguy cơ tăng gấp 1,4 lần
|
Hơn 360 trường hợp /100.000 phụ nữ-năm
|
Nghiên Cứu Tim và Trị Liệu bằng Estrogen /Progestin
|
|
Những lợi ích và tác hại không chắc chắn
|
|
|
|
|
Bệnh tim mạch
|
|
|
|
|
|
- Pḥng ngừa tiên phát
|
Có thể xếp loại từ lợi ích thật sự đến tác hại thật sự
|
Không chắc chắn
|
Không chắc chắn
|
Những nghiên cứu quan sát và thử nghiệm ngẫu nhiên*
|
|
- Pḥng ngừa thứ phát
|
Có thể gia tăng sớm nguy cơ
|
Không chắc chắn
|
Không chắc chắn
|
Những nghiên cứu quan sát và thử nghiệm ngẫu nhiên*
|
|
Ung thư kết trực tràng
|
Có thể nhưng không chứng minh được
|
Giảm 20%
|
Ít hơn 24 trường hợp (96 so với 120) /100.000 phụ nữ-năm
|
Những nghiên cứu quan sát
|
|
Suy giảm nhận thức
|
Giảm nguy cơ nhưng không chứng minh được (những kết quả
không đồng nhất)
|
Không chắc chắn
|
Không chắc chắn
|
Những nghiên cứu quan sát và thử nghiệm ngẫu nhiên
|
Huyết
khối thuyên tắc tĩnh mạch (venous thromboembolism)
Những nghiên cứu quan sát cho
thấy sử dụng estrogen sau măn kinh làm tăng nguy cơ huyết khối thuyên tắc tĩnh
mạch sâu từ 2 đến 3,5 lần. Nghiên cứu của Grady D, et al. (2000) phát hiện nguy
cơ huyết khối tắc mạch tăng 2,7 lần ở phụ nữ dùng estrogen-progestin. Do huyết
khối thuyên tắc tĩnh mạch vô căn ít gặp ở phụ nữ trên 50 tuổi, nên nguy cơ tuyệt
đối kết hợp với sử dụng estrogen sau măn kinh là tương đối nhỏ, ước tính vào
khoảng 20 trường hợp/ 100.000 phụ nữ-năm.
Tác hại có thể tăng
Ung
thư vú
Một tổng phân tích bao gồm 51 nghiên cứu
thuần tập và bệnh-đối chứng của hơn 52.000 người phụ nữ bị ung thư vú trên thế
giới thấy không có tăng nguy cơ ung thư vú khi dùng HTT ngắn hạn (<5 năm)
(Lancet 1995;346: 1575-1582). Ngược lại, nguy cơ ung thư vú tăng 35% ở phụ nữ
dùng estrogen trên 5 năm (bảng 1). Những dữ liệu mới đây gợi ư kết hợp estrogen
và progestin có thể tăng nguy cơ ung thư vú hơn là dùng estrogen đơn thuần
(Lancet 1995;346:1582-1588).
Bảng 2: Kết quả của thử nghiệm lâm
sàng ngẫu nhiên về hiệu quả trị liệu trong việc pḥng ngừa và điều trị loăng
xương
|
Điều trị
|
Tác dụng trên mật độ xương
|
Hiệu quả trên găy xương
|
B́nh luận
|
|
Điều trị hormon thay thế
|
Giảm tỷ lệ mất xương, làm tăng mật độ xương sống và xương
hông
|
Giảm nguy cơ găy đốt sống khoảng 50%; làm giảm nguy cơ găy
xương hông, cổ tay và không phải đốt sống từ 25-30%
|
Dữ liệu hạn chế từ thử nghiệm ngẫu nhiên; có kết quả tương
tự khi dùng kết hợp, phác đồ khác nhau; lợi ích có thể giảm ở phụ nữ
?60 tuổi
|
|
Biphosphat (alendronat, risedronat)
|
Làm tăng mật độ xương sống, mấu chuyển và cổ xương đùi
|
Làm giảm 50% nguy cơ găy đốt sống, xương hông, và những
xương khác không phải đốt sống
|
Có thể gây tác dụng phụ về dạ dày-ruột và thực quản
|
|
Chất điều biến thụ thể estrogen chọn lọc (raloxifen)
|
Tăng mật độ xương đốt sống và cổ xương đùi
|
Giảm nguy cơ găy xương đốt sống mới 30% ở phụ nữ có hay
không găy xương trước đó; không có tác dụng trên găy xương không phải đốt
sống
|
Có thể làm tăng cơn nóng bừng; tăng nguy cơ huyết khối
thuyên tắc tĩnh mạch; có thể giảm nguy cơ ung thư vú, không như estrogen
thuốc này không làm tăng HDL cholesterol nhưng lại giống estrogen ở chỗ làm
giảm cholesterol toàn phần và LDL cholesterol
|
|
Calcitonin
|
Tăng mật độ xương sống, xương quay và cổ xương đùi
|
Làm giảm 30% nguy cơ găy đốt sống hoặc không phải đốt sống
|
Dữ liệu c̣n hạn chế từ thử nghiệm ngẫu nhiên, nhưng được
chấp thuận để điều trị, không dùng để pḥng ngừa loăng xương, tác dụng có
thể giảm khi dùng lâu dài
|
|
Bổ sung calcium và vitamin D, và luyện tập thể lực
|
Nói chung có khả năng duy tŕ hoặc tăng mật độ xương tại
nhiều chỗ
|
Có thể giảm tỷ lệ găy xương, nhưng dữ liệu từ thử nghiệm
ngẫu nhiên c̣n hạn chế
|
Cần thiết để duy tŕ xương và ngăn ngừa sự gia tăng mất
chất xương, thêm những lợi ích khác cho sức khoẻ
|
Những vấn đề chưa chắc chắn
Những thông tin cần có về hiệu quả của các
công thức khác nhau, liều lượng, phác đồ và đường sử dụng HTT và hiệu quả của
chất điều biến thụ thể estrogen chọn lọc và phytoestrogen trên tim mạch và các
hệ quả khác. Những dữ liệu quan sát gợi ư rằng sử dụng HTT thường kết hợp với
nhiều hệ quả sức khoẻ khác. Tuy nhiên, những dữ liệu hiện có th́ không hằng
định, c̣n những dữ liệu từ thử nghiệm ngẫu nhiên th́ thiếu hoặc trái ngược với
những kết quả từ nghiên cứu quan sát.
Bệnh mạch vành tim
Như đă bàn ở trên, hiệu quả của HTT trên
nguy cơ tim mạch c̣n chưa chắc chắn.
Ung thư trực-đại tràng
Những nghiên cứu quan sát gợi ư rằng HTT
là giảm nguy cơ của ung thư trực-đại tràng. Tuy nhiên, tổng phân tích của những
nghiên cứu này lại cho kết quả không hằng định: như từ làm giảm 33% nguy cơ có ư
nghĩa thống kê (Nanda K, et al. 1999) đến giảm 8% không ư nghĩa thống kê
(MacLennan SC, et al. 1995).
Rối loạn nhận thức
Mặc dù có một số nghiên cứu quan sát gợi ư
rằng rối loạn nhận thức hoặc bệnh Alzheimer dường như ít xảy ra ở phụ nữ dùng
estrogen sau măn kinh, nhiều nghiên cứu quan sát mới đây lại không ủng hộ giả
thuyết này (Grodstein F, et al. 2000), và một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mới
đây chứng tỏ không có lợi ích nào của estrogen trên bệnh Alzheimer thể nhẹ đến
nặng (Mulnard RA, et al. 2000). Nghiên cứu về Sức khoẻ Phụ nữ đang đánh giá vai
tṛ của estrogen trong việc pḥng ngừa sự mất trí nhớ và suy giảm nhận thức.
Ung thư buồng trứng và những rối loạn khác
Những dữ liệu quan sát c̣n hạn chế gợi ư
rằng HTT có thể kết hợp với tăng nguy cơ ung thư buồng trứng và vài bệnh
collagen mạch máu nhưng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tưp 2. Tuy nhiên
mối tương quan này cần được làm rơ.
Hướng dẫn
Những hướng dẫn và phân tích về lợi ích và
tác hại của trị liệu HTT đă có sẵn (Col NF, et al. 1999) để thầy thuốc cố vấn
cách sử dụng HTT sau măn kinh. Một số điều này trích dẫn những khuyến nghị của
Hội Sản Phụ Khoa Hoa Kỳ (ACOG Educational bulletin 247. Washington, D.C.1998) và
Sở Y tế Dự pḥng Hoa Kỳ (Report of the U.S. Preventive Services Task Force. 2nd
ed. Baltimore: Williams & Wilkins, 1996) đă được h́nh thành trước khi có những
kết quả từ những thử nghiệm ngẫu nhiên, rộng lớn về HTT. Tuy nhiên, ngay cả
những kết quả được công bố từ dữ liệu của nghiên cứu Tim và Trị Liệu Thay Thế
bằng Estro-gen/Progestin (HERS) đă có sẵn th́ không cung cấp những hướng dẫn
nhất quán và minh bạch (Circulation 1999;99:2480-2484; Am J Prev Med
1999;17:250-254. Endocr Pract 1999; 5:355-366. Menopause 2000;7:76-86). Tất cả
hướng dẫn khuyến nghị rằng việc đánh giá về tác hại và lợi ích phải được cá nhân
hóa, trong khi một vài hướng dẫn vẫn c̣n nhấn mạnh vào tầm quan trọng của bệnh
động mạch vành trong xét đoán. Những hướng dẫn của Viện Sức Khoẻ Phụ Nữ Jacobs
phối hợp với Hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ, Hội Măn Kinh Bắc Mỹ và Ủy Ban Quốc Gia Bảo
Đảm Chất Lượng không tuyên bố trực tiếp vấn đề của estrogen và bệnh tim mạch, và
cho rằng c̣n cần thêm nhiều nghiên cứu nữa (2000).
|
|
Sử dụng HTT ngắn hạn (<5 năm)
|
|
|
|
Sử dụng HTT dài hạn (?5 năm)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Triệu chứng của măn kinh
|
|
|
|
Tăng nguy cơ loăng xương?
|
|
|
   ?
|
Không??????? có
|
|
|
|
Không???????? ????Có
|
|
|
|
Không dùng HTT
Đánh giá lại hàng năm
|
|
Chống chỉ định của HTT?
|
|
Không dùng HTT;
Đánh giá lại hàng năm
|
|
Chống chỉ định của HTT?
|
|
|
   
|
??? Không
|
Có
|
|
|
Không
|
Có
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Có bệnh mạch vành tim?
|
|
Xem xét dùng đậu nành, clonidin, ức chế tái thu nạp
|
|
Tăng nguy cơ ung thư vú?
|
|
Xem xét dùng biph-osphonat, raloxifen
|
|
|
   
Không
|
??
????? có
|
serotonin hoặc tiếp cận khác; đánh giá lại hàng năm
|
|
??? Không
|
?Có
|
hoặc các tiếp cận thay thế
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Có bệnh mạch vành tim?
|
|
Xem xét dùng biphosphonat, raloxifen hoặc tiếp cận thay thế; đánh giá hàng
năm
|
|
|
 
|
Sử dụng HTT ngắn hạn (<5 năm); hoặc tiếp cận khác
|
|
Xem xét dùng đậu nành, clonidin, ức chế tái thu nạp sero- tonin hoặc tiếp
cận khác; đánh giá lại hàng năm
|
??
Không
|
?? Có
|
|
|
|
|
|
|
|
HTT hoặc tiếp cận thay thế;
đánh giá hàng năm
|
|
Xem xét dùng biphosphonat, raloxifen hoặc tiếp cận khác; đánh giá hàng năm
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
H́nh 1: Sơ đồ tuyển chọn ứng viên cho sử dụng HTT sau măn
kinh với thời hạn ngắn và lâu dài.
Sử dụng HTT
ngắn hạn để làm dịu bớt triệu chứng măn kinh là thích hợp với những phụ nữ không
có chống chỉ định (chảy máu âm đạo không rơ nguyên nhân, bệnh gan đang hoạt
động, bệnh sử về chứng huyết khối thuyên tắc tĩnh mạch, hoặc bệnh sử về ung thư
nội mạc tử cung (ngoại trừ giai đoạn 1 của bệnh ung thư tử cung không xâm lấn
sâu) hoặc bệnh ung thư vú. Những chống chỉ định tương đối bao gồm tăng
Triglycerid Huyết và bệnh túi mật đang hoạt động, trong trường hợp này cách được
chọn lựa là estrogen qua da.
?
Kết luận và khuyến nghị
Việc triển khai một chiến lược hợp lư để
kê toa HTT sau măn kinh đ̣i hỏi sự phân tích kỹ lưỡng về tiềm năng của lợi ích
và tác hại. H́nh 1 giới thiệu cách tiếp cận đi đến quyết định.
Trước hết, thầy thuốc phải xác định xem
bệnh nhân có chỉ định cần đến trị liệu HTT hay không. Hai chỉ định có giá trị
nhất là những triệu chứng sau măn kinh và pḥng ngừa hoặc chữa trị loăng xương.
Thầy thuốc cần rà xét những lợi ích và tác hại của trị liệu HTT với bệnh nhân,
nhấn mạnh vào sự thiếu chắc chắn của nhiều vấn đề có liên quan. Cần hỏi ư kiến
xem phụ nữ có sở thích ǵ về sử dụng trị liệu đó không và nếu có, th́ điều này
phải được cân nhắc trong tiến tŕnh quyết định. Trong khi thảo luận, thầy thuốc
cần tập trung vào những lợi ích tuyệt đối nhiều hơn là những lợi ích và tác hại
tương đối. Những tác dụng phụ có thể xảy ra cũng phải được bàn, đặc biệt là nguy
cơ chảy máu âm đạo ở phụ nữ có tử cung nguyên vẹn khi sử dụng liệu pháp estrogen
/progestin. Những chống chỉ định đối với trị liệu HTT cũng phải được đánh giá
thường quy (H́nh 1).
Do thiếu bằng chứng HTT ngăn ngừa bệnh tim
mạch từ các thử nghiệm ngẫu nhiên, kết hợp với khả năng tác hại khi sử dụng ngắn
hạn, HTT sau măn kinh không được kê toa nhằm mục đích riêng biệt ngăn ngừa bệnh
động mạch vành hoặc biến cố tim mạch ở những phụ nữ lành mạnh, những phụ nữ có
nhiều nguy cơ động mạch vành, hoặc những phụ nữ có nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh
động mạch vành hoặc đă mắc bệnh tim. Trị liệu HTT có thể thích hợp với những phụ
nữ có gia tăng nguy cơ bệnh động mạch vành, nếu những lợi ích ngoài mạch vành do
HTT đem lại vượt quá những tác hại có thể có. Hơn nữa, trị liệu HTT không cần
thiết phải gián đoạn đối với những phụ nữ đă có bệnh động mạch vành và đang sử
dụng estrogen trong ṿng 1 năm hoặc 2 năm.
Sử dụng HTT ngắn hạn (ít hơn 5 năm) là
điều trị thích hợp để làm dịu bớt triệu chứng măn kinh đối với phụ nữ không có
chống chỉ định dùng hormon, nhưng liệu pháp này phải được tránh sử dụng hoặc chỉ
được xem như một chọn lựa thứ hai đối với những phụ nữ mắc bệnh động mạch vành
v́ có nguy cơ rất cao biến cố tim mạch ngay từ đầu. Đối với những phụ nữ có
chống chỉ định hoặc những phụ nữ không muốn dùng HTT, những chiến lược khác để
để thay thế là dùng clonidin, chất ức chế tái thu nạp serotonin chọn lọc, hoặc
đậu nành hoặc sử dụng kem hoặc ṿng estrogen qua đường âm đạo để chữa trị triệu
chứng niệu- sinh dục.
Trị liệu HTT dài hạn (5 năm hoặc nhiều
hơn) là vấn đề c̣n phải bàn nhiều v́ có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú
liên quan đến việc sử dụng lâu dài. Những ứng viên hợp lư để dùng HTT dài hạn
bao gồm một tỷ lệ tương đối nhỏ phụ nữ sau măn kinh và phụ nữ có bằng chứng
loăng xương hoặc thiếu xương hoặc người có nguy cơ cao về loăng xương (phụ nữ có
tiền căn cá nhân hoặc gia đ́nh bị găy xương không do chấn thương, những phụ nữ
đang hút thuốc lá thường xuyên hoặc những phụ nữ có chỉ số khối cơ thể BMI
(trọng lượng cơ thể (kg)/ b́nh phương chiều cao) dưới trị số 22 và họ không có
tiền căn cá nhân hoặc gia đ́nh mắc bệnh ung thư vú hoặc những chống chỉ định
khác và những phụ nữ tự nguyện dùng HTT.
Những ứng viên không đủ điều kiện bao gồm
phụ nữ có chống chỉ định (H́nh 1), những người không có gia tăng nguy cơ loăng
xương, những phụ nữ mắc bệnh tim mạch, những phụ nữ có 1 hoặc nhiều người thân
thích cấp 1 mắc bệnh ung thư vú, bệnh sử sinh thiết vú cho thấy tăng sinh không
điển h́nh, hoặc gen nhạy cảm với ung thư vú, ví dụ như BRCA1 và BRCA2.
Ngay cả đối với những ứng viên được khuyên dùng, một chiến lược có thể bắt đầu
sử dụng HTT (hoặc tiếp tục lại liệu pháp này, nếu đă dùng trước đó để trị chứng
măn kinh) chỉ khi nào có bằng chứng mất xương trên xét nghiệm mật độ xương. Xét
nghiệm như vậy nên làm cho những phụ nữ khoảng 65 tuổi và sớm hơn nữa đối với
những phụ nữ có bệnh sử hoặc những yếu tố nguy cơ loăng xương.
Những tiếp cận khác để điều trị
pḥng ngừa nên được xem xét. Đối với bệnh loăng xương, chiến lược bao gồm gia
tăng hoạt động thể lực, dùng đầy đủ lượng calcium và sinh tố D và sử dụng
bisphosphonat hoặc chất điều chỉnh thụ thể estrogen chọn lọc. Để ngăn ngừa bệnh
động mạch vành, chiến lược quan trọng bao gồm không hút thuốc lá, gia tăng hoạt
động thể lực, chọn lựa chế độ ăn lành mạnh và nếu cần, sử dụng những thuốc hạ
cholesterol và hạ huyết áp và những thuốc khác.
Mặc dù những dữ liệu từ HERS (nghiên cứu
Tim Và Trị Liệu Thay Thế bằng Estrogen/Progestin) và từ Đề Xướng Chăm Sóc
Sức Khỏe Phụ Nữ gợi ư một điều là phụ nữ sử dụng HTT có thể ngưng thuốc,
điều này nói chung là không cần thiết v́ đa số họ đă trải qua thời gian ngắn về
nguy cơ cao thấy trong những nghiên cứu này. Tuy nhiên một phụ nữ có biến cố cấp
động mạch vành hoặc đột quỵ, phải ngưng ngay việc sử dụng HTT trong thời gian
nằm viện và b́nh phục, khi phụ nữ này tương đối bị bất động, hoặc hoàn toàn.
Một số phụ nữ có thể muốn tiếp tục sử dụng
HTT lâu hơn 5 năm. Họ có nguy cơ gia tăng về cả bệnh ung thư vú và loăng xương
có thể chuyển đổi qua 1 liều estrogen thấp hơn (dẫu rằng những nguyên cứu xa hơn
về chiến lược này đă được chứng thực), hoặc chuyển qua dùng chất điều biến thụ
thể estrogen chọn lọc hoặc biphosphonat hoặc ngưng dùng HTT trong nhiều năm và
dùng lại sau đó nếu muốn. cần lưu tâm cảnh giác chụp X quang tuyến vú và khám
lâm sàng đều đặn.
Về những trường hợp ví dụ trên, bệnh nhân
số 1 là 1 ứng cử viên nên cho sử dụng những HTT trong thời gian ngắn (ít hơn 5
năm) và trị liệu dài hạn có thể thích hợp cho phụ nữ này nếu như nguy cơ loăng
xương của bà gia tăng, nếu bà tiếp tục không có chống chỉ định, và nếu nguy cơ
về bệnh ung thư vú không gia tăng. Hai bệnh nhân khác không nên dùng HTT khi
biết rằng tiền căn gia đ́nh mắc bệnh ung thư vú có trên bệnh nhân số 2 và bệnh
nhân số 3 th́ có bệnh động mạch vành.
Nguyên tắc trung tâm là măn kinh không
luôn luôn được chữa trị bằng phương pháp dược lư học. Thay đổi lối sống, như
ngưng hút thuốc lá, gia tăng hoạt động thể lực và duy tŕ một chế độ ăn lành
mạnh có thể là rất ích lợi trong việc kiểm soát triệu chứng măn kinh và ngăn
ngừa bệnh mạn tính. Đối với vài phụ nữ, HTT có thể có vai tṛ quan trọng. Xem
xét thận trọng về những chỉ định và chống chỉ định đối với trị liệu HTT dựa theo
ư thích của bệnh nhân, có thể dẫn tới một phưng cách sử dụng HTT hợp lư hơn,
trong khi chờ đợi bổ sung thêm những thông tin mới từ những thử nghiệm đang tiến
hành.
BS
Nguyễn Thuư Quỳnh dịch theo Joann E. Mason,
& Kathryn A. Martin. N Engl J Med,345,1:34-40:
Postmenopausal Hormone-Replacement Therapy
|
|
[include/content.htm] |
|