đặt vấn đề
U tuyến bọc trong gan là bướu hiếm gặp,(1)
nang có nhiều ngăn ở trong gan. Biểu hiện lâm sàng thường ở giai đoạn trễ khi
bướu lớn tạo nên triệu chứng chèn ép. Sau đây là một trường hợp u tuyến bọc
trong gan gặp tại bệnh viện Ðồng Tháp.
Bệnh án
Bệnh nhân nữ Văn T S, 29 tuổi, làm ruộng,
cư ngụ tại thị trấn Thanh Bình, huyện Thanh Bình, tỉnh Ðồng Tháp, nhập viện lần
1 tại bệnh viện Ða Khoa Ðồng Tháp 10h 15 ngày 24/04/2001 do có u trong ổ bụng.
Bệnh sử:
Cách nhập viện 1 tuần, bệnh nhân đau âm ỉ, kèm căng tức ở vùng? thượng vị và hạ
sườn phải, lan ra sau lưng, không sốt, không vàng da vàng mắt. Tiêu tiểu bình
thường. Cơn đau tăng dần kèm buồn nôn nên xin nhập viện.
Tiền căn: Gần 1 năm nay, sau khi
sinh, bệnh nhân cảm giác có một khối u ở hạ sườn phải nhưng không gây đau đớn gì
cả.
Khám lâm sàng:
Dấu hiệu sinh tồn: Mạch= 60 l/phút, thân
nhiệt 37o5, HA= 110/80 mmHg, cân nặng 52 kg
Khám thấy có một khối u to chiếm hơn ?
bụng trên và bên (P). Sờ mềm, chắc, không di động. Gõ: đục. Gan lách không sờ
đụng
Cận lâm sàng?
Siêu âm: Vùng trước tụy có một khối
với echo kém có vách ngăn nhiều cặn lắng, vách mỏng (Hình 1). Chẩn đoán: Nang
giả tụy.
UIV: đài bể thận hiện hình
tốt??????????
Xét nghiệm: Máu: Hct = 36%, BC =
8000 mm3,Trung tính 68%, Amylase/máu = 106 v/l
Ngày 11/5, làm CT scan cho thấy tổn thương
dạng nang nằm ở bụng bên phải có khả năng là nang gan (Kích thước 17 cm x 25cm).
Chuyển phim lên Medic, được chẩn
đoán là u nang của gan xuất phát từ đường mật.
Ngày 16/5, bệnh nhân xin về nhưng
đến ngày 23/05/2001 nhập viện lần 2 vì đi điều trị thuốc Nam không giảm).
Ngày 25/05: Chọc hút dịch nang dưới siêu
âm ở hai vị trí (ngăn dịch loãng và ngăn dịch nhiều cặn lắng màu vàng rơm). Sau
đó bơm thuốc cản quang vào nang và chụp X quang thấy hình ảnh khối u ngấm thuốc
đẩy đại tràng sang bên và xuống dưới (Hình 4)
Kết quả xét nghiệm tế bào:
Ổ 1 (dịch loãng ): GR: 1240/mm3
????????? N = 38%
??????????????????????????? GB: 120/mm3 ??????????????? L = 62%
Hình 1: CT scan: nang trong gan có nhiều vách ngăn
Hình 2: CT scan: Nang phát triển ngoài gan
Hình 3: X quang sau khi bơm thuốc vào nang. Nang lớn đến bờ xương thiêng, đẩy
các quai ruột xuống dưới và sang bên
Ổ 2 (dịch nhiều cặn lắng): GR = 1130/mm3
N = 39%
???????????????????????????????????????? GB = 110/mm3 L = 61%
Ổ dịch 1: Ðạm 10g/l, Ðường 0,5mmol/l, Muối
748 mg%, Bilirubin toàn phần 2,4 mmol/l,
trực tiếp = 0,2 mmol/l,
gián tiếp = 2,2
mmol/l.
Ổ dịch 2: Ðạm 36g/l, Ðường 0,9mmol/l, Muối
614mg%, Bilirubin toàn phần = 3,6 mmol/l,
trực tiếp = 0,6 mmol/l,
gián tiếp = 2? mmol/l
Phẫu thuật ngày 28/5: Cho thấy nang
gan dính mặt dưới hạ phân thùy IV. Kích thước # 22cm x 25cm. Có nhiều vách ngăn,
một ngăn ở cực dưới chứa dịch lợn cợn nhiều, các ngăn khác chứa dịch vàng chanh
có ít cặn lắng. Có khoảng 7 lít dịch. Cắt bỏ nang. Chẩn đoán sau phẫu thuật là
nang gan.
Ngày 06/06: siêu âm kiểm tra: Bình
thường, bệnh nhân khoẻ, vết mổ lành tốt, xuất viện.
Giải phẫu bệnh: U tuyến bọc ống mật
trong gan (Cystadenoma of the intrahepatic bile duct).
Bàn luận:
Nang gan thường phát hiện ở mổ tử thi có
từ 0,15% - 0,5% được báo cáo.(3) Do bẩm sinh hay mắc phải nang thường
được lót bằng một lớp mỏng tế bào thượng bì ống mật.
Tuổi từ 40 - 60 (ở đây bệnh nhân 29 tuổi).
Bệnh nang đơn độc nhiều vách ngăn xảy ra ở nữ gấp 4 lần ở nam (Bệnh nhân đây là
nữ). Những ống mật lạc chỗ có từ lúc bào thai phát triển lớn lên và tăng sinh do
viêm nhiễm đã tạo thành nang hoặc do tắt nghẽn ống làm ứ động dịch
Nang thường ở mặt dưới thùy (P) gan kích
thước thay đổi từ 1cm - 5cm ( Nang của bệnh nhân này kích thước # 22cm x 25 cm
). Thành mỏng, hơi đục, có mạch máu giãn. Trong có dịch trong hoặc vàng rơm có
khi có màu mật, thường chứa 100ml -200ml dịch (ở đây chứa đến 7000 ml). Khoảng ?
trường hợp nang thông với đường mật. Chẩn đoán phân biệt với Hydatid cyst: dựa
vào eosinophile, Casonitest (+) và có tích tụ calci ở thành nang.
Vấn đề điều trị thường hút qua catheter
rồi bơm chất làm xơ cứng thành nang. Nếu quá lớn nên phẫu thuật.
Ðây là một trường hợp hiếm thấy trong y
văn, nang đơn độc có nhiều ngăn (Non parasitic cyst) được chẩn đoán.
Summary
A case of cystadenoma of intrahepatic bile duct
Cystadenoma of the intrahepatic bile duct is a rare
condition that is usually diagnosed after a long time of evolution, when signs
and symptoms of compression are obviously noted.
This paper reports a case of cystadenoma of the
intrahepatic bile duct in a 22-year old female patient. The preoperative
diagnosis is made by CT scans and confirmed post-operatively by histologic
examination. Features of pathology, different diagnosis and therapeutic
intervention are discussed.
Tài liệu tham khảo
1.
Maingot?s Abdominal operative, Cysts & Benign Tumors,
Vol. II, Tenth edition 1997, page 1547 - 1549
2.
Patricia Lipford Abbitt, Ultrasound, Mc
Graw-Hill.Inc,1995, p18
3.
Sabiston, textbook of surgery, fifteenth edition 1997,
vol I, nonparasitic cysts, page 1081