MỞ ĐẦU
Vi rút Hanta thuộc họ Bunyaviridae tồn tại
trong các động vật gặm nhấm nhỏ và gây ra bệnh sốt xuất huyết kèm hội chứng thận
và hội chứng viêm phổi ở người qua nước tiểu và phân của chúng. Hàng năm trên
thế giới có từ 60 000-150 000 bệnh nhân phải nhập viện do Hanta vi rút gây ra.
Có nhiều nhóm huyết thanh khác nhau trong số các Hanta vi rút, mỗi nhóm có túc
chủ là động vật gậm nhấm riêng biệt, như với vi rút Hantaan là loài Apodemus, vi
rút Seoul là loài Rattus, vi rút Puumala là loài Clethrionomys và vi rút
Prospect Hill là loài Microtus.
Thể nặng của sốt xuất huyết kèm hội chứng
thận (SXHTT) có tử vong 4-15% gây ra do vi rút Hantaan (HTN), thường gặp ở châu
Á và các nước vùng Balkan. Thể trung b́nh do vi rút Seoul (SEO) gây ra, thường
gặp ở Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc và vùng Đông Nam Á. Ở châu Âu thường gặp
thể nhẹ do vi rút Puumala gây ra và gần đây virút Sin Nombre gây bệnh thể phổi
có tử vong 50-70% đă xảy ra năm 1993 ở Mỹ.
Ở Việt Nam cho tới nay có rất ít báo cáo
về Hanta vi rút, song căn cứ vào các dữ kiện dịch tễ và lâm sàng, chúng tôi thấy
cần thiết phải t́m hiểu về các vi rút này. Sau đây là kết quả nghiên cứu về vi
rút Hanta đă làm tại Đồng Nai và Tp. Hồ Chí Minh trong 1998-1999.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Các đối tượng lấy mẫu:
1- Các công nhân b́nh thường khoẻ mạnh của
2 nông trường cao su An Lộc, Dầu Giây và công nhân vệ sinh tại thành phố Biên
Ḥa Đồng Nai. Máu của các đối tượng trên được lấy bằng bơm tiêm nhựa vô trùng,
khoảng 3 ml mỗi người, sau đó ly tâm chắt lấy huyết thanh (HT) rồi bảo quản ở
-20oC.
2-? HT bệnh nhân nghi mắc SXHTT do các
bệnh viện ở Tp. Hồ Chí Minh lấy và gửi tới viện để xét nghiệm.
3-? Các loài chuột do pḥng thí nghiệm
Dịch Hạch của Viện Pasteur Tp. Hồ Chí Minh bắt tai?thực địa, lấy máu tim, tách
lấy HT rồi gửi tới viện để xét nghiệm.
Các kỹ thuật xét nghiệm:
1-? Phản ứng miễn dịch enzym phát hiện IgG
(IgG-ELISA)
2-? Kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang kháng
thể (IFAT)
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
I- Điều tra kháng thể đặc hiệu trong HT người khoẻ mạnh
Bảng 1: Kết quả điều tra HT của 300 công nhân của 2 lâm
trường cao su An Lộc và Dầu Giây tỉnh Đồng Nai bằng phản ứng IgG-ELISA (HTN)
|
Lứa tuổi
|
Nam
|
Nữ
|
Số +/Số HT xét nghiệm (%)
|
|
15 - 19
|
0 / 2
|
0 / 1
|
0 / 3?? (0)?
|
|
20 - 29
|
1+ / 58
|
0 / 23
|
1+ / 81?? (1,23)
|
|
30 - 39
|
3+ / 81
|
1+ / 51
|
4+ / 132?? (3,03)
|
|
40 - 49
|
0 / 43
|
1+ / 33
|
1+ / 76?? (1,32)
|
|
50 - 59
|
0 / 8
|
0 / 0
|
0 / 8?? (0)
|
|
Tổng cộng
|
4+ / 192
|
2+ / 108
|
6+ / 300?? (2,00)
|
Từ bảng trên nhận thấy không có sự khác
biệt về tỷ lệ nhiễm Hanta giữa nam và nữ (c2
= 0,02; p = 0,89).
Bảng 2: Điều tra HT của 94 công nhân vệ sinh ở Tp. Biên
Hoà (lấy 10/7/1999) bằng phản ứng IgG-ELISA (HTN)
|
Lứa tuổi
|
Nam
|
Nữ
|
Số + / Số HT xét nghiệm (%)
|
|
15 - 19
|
0 / 1
|
0 / 0
|
0 / 1?? (0)
|
|
20 - 29
|
0 / 11
|
0 / 2
|
0 / 13?? (0)
|
|
30 - 39
|
0 / 23
|
2+ / 13
|
2+ / 36?? (5,56)
|
|
40 - 49
|
0 / 18
|
1+ / 18
|
1+ / 36?? (2,78)
|
|
50 - 59
|
1+ / 2
|
1+ / 5
|
2+ / 7?? (28,57)
|
|
?60
|
0 / 0
|
0 / 1
|
0 / 1?? (0)
|
|
Tổng cộng
|
1+ / 55
|
4+ / 39
|
5 (+) / 94?? (5,32)
|
Ở bảng 2, không có sự khác biệt về tỷ lệ
nhiễm bệnh giưă nam và nữ với
c2
= 3,19;? p = 0,07.
Từ bảng 1 và 2 nhận thấy: Công
nhân cao su có tỷ lệ nhiễm Hanta vi rút là 2%, công nhân vệ sinh có tỷ lệ nhiễm
cao hơn 5,32%. Nguyên nhân của sự khác nhau này có thể do nghề nghiệp, công nhân
vệ sinh có tiếp xúc với chất thải của chuột mang mầm bệnh nhiều hơn và trong cả
hai nhóm điều tra, không thấy có sự khác biệt về giới tính trong số đă bị
nhiễm.??
Bảng 3: Kết quả xét nghiệm các HT nói trên bằng phản ứng
miễn dịch huỳnh quang (IFAT) làm với các kháng nguyên Hantaan và Seoul
|
?Nơi lấy
|
Số
|
IFAT
|
(+)
|
|
|
|
|
HT
|
HTN
|
SEO
|
HTN + SEO
|
Cộng?? (%)
|
|
Công nhân cao su
|
300
|
2
|
3
|
6
|
11?? (3,67)
|
|
Công nhân vệ sinh*?/p>
|
94
|
7
|
|
|
7?? (7,45)
|
* Với CNVS: không làm xét nghiệm với KN
SEO
Giưă công nhân cao su và vệ sinh có sự
khác biệt rơ ràng về tỷ lệ nhiễm bệnh (c2
= 2,34; p = 0,126).
Bảng 4: Kết quả xét nghiệm IFAT tính theo lứa tuổi và giới
tính trong công nhân cao su
|
Nhóm tuổi
|
Nam
|
Nữ
|
Số + / Số HT xét nghiệm (%)
|
|
15-19
|
0 / 2
|
0 / 1
|
0 / 3?? (0)
|
|
20-29
|
3+ / 58
|
0 / 23
|
3+ / 81?? (3,7)
|
|
30-39
|
2+ / 81
|
1+ / 51
|
3+ / 132?? (2,27)
|
|
40-49
|
2+ / 43
|
3+ / 33
|
5+ / 76?? (6,58)
|
|
50-59
|
0 / 8
|
0 / 0
|
0 / 8?? (0)
|
|
Tổng cộng
|
7+ / 192
|
4+ / 108
|
11+ / 300?? (3,67)
|
Ở bảng 4, không có sự khác biệt về giới
tính trong số đă bị nhiễm (c2
= 0,00; p = 0,97).
Bảng 5: Kết quả xét nghiệm IFAT tính theo lứa tuổi và giới
tính trong công nhân vệ sinh
|
Nhóm tuổi
|
Nam
|
Nữ
|
Số + / Số HT xét nghiệm(%)
|
|
15-19
|
0 / 1
|
0 / 0
|
0 / 1?? (0)
|
|
20-29
|
1+ / 11
|
0 / 2
|
1+ / 13??
(7,69)
|
|
30-39
|
1+ / 23
|
2+ / 13
|
3+ / 36??
(8,33)
|
|
40-49
|
1+ / 18
|
2+ / 18
|
3+ / 36??
(8,33)
|
|
50-59
|
0 / 2
|
0 / 5
|
0 / 7?? (0)
|
|
?
60
|
|
0 / 1
|
0 / 1?? (0)
|
|
Tổng cộng
|
3+ / 55
|
4+ / 39
|
7+ / 94??
(7,45%)
|
Ở bảng 5 cũng không có sự khác biệt về
giới tính trong số đă bị nhiễm (c2
= 0,76; p = 0,38).
Nhận xét: Tương tự như kết quả xét nghiệm
IgG-ELISA, với kỹ thuật IFAT đă phát hiện công nhân cao su có tỷ lệ nhiễm Hanta
vi rút là 3,67% và công nhân vệ sinh có tỷ lệ nhiễm cao hơn là 7,45% (c2
= 2,34 với p = 0,126) và trong cả 2 nhóm công nhân cao su và công nhân vệ sinh,
không thấy có sự khác biệt về giới tính trong số đă bị nhiễm.??
II- Chẩn đoán HT bệnh nhân
Bảng 6: Kết quả xét nghiệm HT bệnh nhân (BN) nghi SXHTT
bằng kỹ thuật IgG-ELISA (KN HTN và SEO)
|
Nơi gửi
|
Số + / số HT xét nghiệm
|
|
|
1998
|
1999
|
Cộng
|
|
Trung Tâm Bệnh
Nhiệt Đới
|
2+ / 21
|
1+ / 13
|
3+ / 34
|
|
BV Nhi Đồng 1
|
0 / 11
|
0 / 2
|
0 / 13
|
|
BV 175
|
1+ / 12
|
0 / 1
|
1+ / 13
|
|
BV Chợ Răy
|
|
0 / 1
|
0 / 1
|
|
Trung Tâm YTDP
Tp.HCM
|
?1+ / 24
|
|
?1+ / 24
|
|
BV Cao su Đồng
Nai
|
1+ / 11
|
|
1+ / 11
|
|
Viện Pasteur
Nha Trang
|
0 / 10
|
|
0 / 10
|
|
Cộng
|
5+ / 89
(5,62 %+)
|
1+ / 17
(5,88 %+)
|
6+ / 106
(5,66 %+)
|
Chú thích: 1 BN dương tính (Củ Chi) của
TTBNĐ đă gửi viện Pasteur Paris làm Mac-ELISA cho kết quả (+).
Bảng 6A: Chi tiết hoá kết quả xét nghiệm ở bảng 6
|
Năm
|
HTN
|
SEO
|
IPH (HTN + SEO)
|
Số + / Số HT xét nghiệm(%)
|
|
1998
|
4+ / 89
|
1+ / 89
|
1+ / 89
|
5+ / 89?? (5,62)
|
|
1999
|
1+ / 17
|
|
|
1+ / 17?? (5,88)
|
Bảng 7: Chẩn đoán HT bệnh nhân nghi mắc SXHTT bằng kỹ
thuật IFAT
|
Nơi gửi
|
Số + / số HT
xét nghiệm??
|
|
|
|
1998
|
1999
|
Cộng
|
|
Trung Tâm Bệnh
Nhiệt Đới
|
6+ / 21
|
5+ / 13
|
11+ / 34
|
|
BV Nhi Đồng 1
|
1+ / 11
|
0 / 2
|
1+ / 13
|
|
BV 175
|
0 / 12
|
0 / 1
|
0 / 13
|
|
BV Chợ Răy
|
|
0 / 1
|
0 / 1
|
|
Trung Tâm YTDP
Tp.HCM
|
0 / 24
|
|
0 / 24
|
|
BV Cao su Đồng
Nai
|
3+ / 11
|
|
3+ / 11
|
|
Viện Pasteur
Nha Trang
|
0 / 10
|
|
0 / 10
|
|
?????????????????????? Cộng
|
10+ / 89
(11,24 %)
|
5+ / 17
(29,41 %)
|
15+ / 106
(14,15 %)
|
Bảng 7A: Chi tiết hoá kết quả xét nghiệm ở bảng 7
|
Năm
|
HTN
|
SEO
|
IPH (HTN + SEO)
|
Số + / số HT xét nghiệm?? (%+)
|
|
1998
|
4+ / 89
|
2+ / 89
|
4+ / 89
|
10+ / 89??
(11,24)
|
|
1999
|
5+ / 17
|
|
|
5+ / 17??
(29,41)
|
Nhận xét:
1. Từ bảng 6,7 nhận thấy xét nghiệm HT các
BN nghi SXHTT làm với IgG-ELISA có tỷ lệ dương tính là 5,62 (1998) và 5,88%
(1999). Nếu sử dụng kỹ thuật IFAT ta có kết quả dương tính cao hơn, là 11,24%
(1998) và 29,41% (1999); nếu tính trung b́nh 2 năm th́ tỷ lệ dương tính của IFAT
là 14,15%.
2. Có sự khác biệt giưă tỷ lệ dương tính
của IgG-ELISA và IFAT là do IFAT có thể phát hiện cả IgM có trong HT, trong khi
IgG-ELISA chỉ phát hiện được IgG có trong HT mà thôi.
III- Xét nghiệm huyết thanh chuột
Trong 1998 đă nhận được 147 mẫu HT chuột
bắt tại 3 địa phương như sau:
|
Nơi thu thập mẫu chuột
|
R. norve-gicus
|
R. exulans
|
S. murimus
|
Cộng
|
|
Cao su Đồng Nai (nơi ĐTHT)
|
5
|
68
|
37
|
110
|
|
Lâm Đồng
|
10
|
|
|
10
|
|
Tp. Hồ Chí Minh
|
25
|
2
|
|
27
|
|
Tổng cộng
|
40
|
70
|
37
|
147
|
Bảng 8: Kết quả xét nghiệm các HT chuột nói trên bằng kỹ
thuật IgG-ELISA (HTN)
|
Loại chuột
|
Số + / số chuột xét nghiệm
|
Nơi có mẫu chuột (+)
|
|
Rattus
norvegicus
|
2+ / 40
|
Bến xe miền Đông Tp. Hồ Chí Minh
|
|
Suncus
murimus
|
0 /37
|
|
|
Rattus
exulans
|
1+ / 70
|
Lâm trường cao su An Lộc Đồng Nai
|
?
KẾT LUẬN
1. Qua điều tra kháng thể kháng Hanta vi
rút trong huyết thanh của 300 công nhân lâm trường cao su Đồng Nai, đă phát hiện
2% người có kháng thể IgG và 3,67% có huyết thanh dương tính với IFAT. Với 94
công nhân vệ sinh Tp. Biên Hoà có 5,32% người có kháng thể IgG và 7,45% có huyết
thanh dương tính với IFAT.
2. Trong các công nhân cao su và vệ sinh,
lứa tuổi có tỷ lệ nhiễm cao là lứa tuổi lao động từ 20 đến 50 và không có sự
khác biệt về giới tính trong số các người đă bị nhiễm.
3. Với 106 bệnh nhân nghi mắc SXHTT của
các bệnh viện tại Tp. Hồ Chí Minh gửi tới xét nghiệm t́m Hanta vi rút, số bệnh
nhân có huyết thanh dương tính với kỹ thuật IFAT là 11,24% trong 1998 và 29,41%
trong 1999. Tỷ lệ dương tính trung b́nh trong 2 năm là 14,15 %.
4. Qua xét nghiệm 147 huyết thanh của 3
loài chuột, đă phát hiện loài Rattus có tỷ lệ mang kháng thể Hanta vi rút là
2,73%.
5. Với các kết quả thu được, đă chứng minh
ở các địa phương nói trên có lưu hành vi rút Hanta và vi rút này là nguyên nhân
gây ra bệnh sốt xuất huyết cấp kèm hội chứng thận.
Tóm tắt:
Điều tra nhiễm Hanta vi rút trong 300 công
nhân cao su ở Đồng Nai và 94 công nhân vệ sinh ở Tp. Biên Ḥa bằng kỹ thuật
IgG-ELISA và IFAT, đă phát hiện công nhân cao su có tỷ lệ dương tính là 2% và
3,67%. Công nhân vệ sinh ở Tp. Biên Hoà có tỷ lệ nhiễm cao hơn, với tỷ lệ dương
tính tương ứng là 5,32% và 7,45%. Trong cả hai nhóm công nhân cao su và vệ sinh
đă điều tra, lứa tuổi có tỷ lệ nhiễm cao là lứa tuổi từ 20 đến 50. Xét nghiệm
huyết thanh các bệnh nhân nghi sốt xuất huyết kèm hội chứng thận, bằng kỹ thuật?
IFAT với vi rút Hanta đă phát hiện có 11,24% bệnh nhân dương tính trong 1998 và
29,41% trong 1999. Chuột Rattus có tỷ lệ huyết thanh dương tính với vi rút
Hantaan là 2,73%. Từ các? kết quả nghiên cứu này đă rút ra kết luận là tại các
vùng đă điều tra có lưu hành Hanta vi rút và vi rút này là nguyên nhân gây ra
bệnh nhiễm trùng cấp "sốt xuất huyết kèm hội chứng thận".
Summary
Sero-epidemiological survey of Hanta virus Hemorrhagic
Fever with Renal Syndrome in some areas in Southern Vietnam, 1998-1999.?
A sero-epidemiological survey revealed
that 2% of 300 rubber plantation workers in Dong Nai province were positive for
IgG antibodies to Hanta virus, 3.67% of whom had positive sera when tested by
IFAT. Another survey revealed that 5.32% of? 94 Hygiene Workers in Bien Hoa city
were positive for IgG antibodies, 7.45% of whom had positive sera when tested by
IFAT. Employees aged 20 to 50 are most affected by Hanta virus and sex is not a
risk factor. The positivity rate of IFAT in 106 patients suspected of HFRS in
HCMC and its surrounding area was 11.24% in 1998 and 29.41% in 1999. The average
positivity rate for 1998-1999 was 14.15 %. 5% of Rattus norvegicus
and 1.43% of Rattus exulans captured in the studied field were positive
for IgG antibodies to Hanta virus. The? above results demonstrate that there was
a prevalence of Hanta virus in studied areas and Hanta virus was determined to
be a causal agent of Acute Hemorrhagic Fever with Renal Syndrome in humans.
Tài liệu tham khảo:
1. Đỗ Quang Hà, Vũ thị Quế Hương, Huỳnh thị Kim Loan, Đinh
Quốc Thông, Tom Solomon & Bernard Le Guenno (1996): Báo cáo sơ bộ về nhiễm trùng
do Hanta vi rút tại một vài vùng ở miền Nam, 1995. Hội nghị Khoa học chuyên đề
vi sinh, dịch tễ, miễn dịch. Viện Pasteur Tp. HCM, 16-17/01/1996: 67-70.
2. Elliott LH, Ksiazek TG, Rollin PE, Spiropoulou CF et al
(1994): Isolation of the causative agent of Hantavirus pulmonary syndrome. Am.
J. Trop. Med. Hyg., 51 (1): 102-108.
3. Lee HW, Lee PW (1976): Korean hemorrhagic fever.
Demonstration of causative antigen and antibodies. Korean J. Intern. Med., 19:
371-183.
4. Lee HW, Baek LJ, Johnson KM (1982): Isolation of
Hantavirus, the etiologic agent of Korean hemorrhagic fever from wild urban
rats. J. Infect. Dis., 146: 638-644.
5. Lee HW, Groen GV (1989): Haemorrhagic Fever with Renal
Syndrome. Prog. Med. Virol. 36: 62-102.
6. Le Guenno B, Camprasse MA, Guilbaut JC et al. (1993):
Hantavirus epidemic in Europe. Lancet, 343: 114-115.
7. Schmaljohn CS, Hasly SE, Dalrymple JM et al. (1985):
Antigenic and genetic properties of virus linked to Haemorrhagic Fever with
Renal Syndrome. Science, 227: 1041-1044.
8. World Health Organization: Haemorrhagic Fever with Renal
Syndrome. Memorandum from a WHO meeting. (1983): Bull. WHO. 61: 269-275.
9. Lee HW, Calisher C, Schmaljohn CS (1999): Manual of HFRS
& HPS.