I/ Các nguyên tắc chung
1/ Theo kinh nghiệm lâu đời của
nhiều nước trên thế giới, trong hàng trăm nghề nghiệp, người ta đặc biệt quan
tâm đến những nghề có tác dụng trực tiếp đến đời sống xă hội, mang ba tính chất
sau đây:
1.1- Tŕnh độ kiến thức được xác định bằng
một bằng cấp hoặc một chứng chỉ;
1.2-? Có mối quan hệ mật thiết với đối
tượng mà nghề có trách nhiệm phục vụ;
1.3-? Có những qui định chặt chẽ trong
việc thực thi nghề nghiệp.
2/ Việc đem kiến thức nghề nghiệp ra phục
vụ được gọi là hành nghề. Ba yêu cầu đặt ra nhằm đảm bảo việc hành nghề đạt hiệu
quả tốt:
2.1- Có kiến thức càng cao càng tốt, ngày
càng được nâng lên; kinh nghiệm càng nhiều càng hay;
2.2- Tuân thủ nghiêm chỉnh những nghĩa vụ
về nghề nghiệp, cả nội dung và biện pháp nghề nghiệp lẫn phong cách và thái độ,
thể hiện trong một văn kiện pháp lư được gọi là "Luật Nghĩa vụ" do Chính phủ ban
hành;
2.3- Được thù lao thỏa đáng.
3/ Căn cứ vào các tính chất trên đây, có 8
nghề được xét vào trong diện, trong đó có 4 nghề liên quan đến sức khỏe là: y
(bác sĩ), dược (dược sĩ), nha (nha sĩ), hộ sinh (nữ hộ sinh). Bốn nghề khác là:
luật (luật sư), kiến trúc (kiến trúc sư), trắc địa (đo đạc đất đai); kế toán
(kiểm toán).
4/ Do tính chất đặc biệt đă nêu, những
người đă có kiến thức về nghề, có bằng cấp cũng chưa được hành nghề mà phải được
một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy hành nghề dựa trên 3 tiêu chuẩn:
4.1- Có bằng cấp hoặc chứng chỉ về nghề
nghiệp;
4.2- Có lư lịch tư pháp trong sạch (tức tư
cách đạo đức tốt);
4.3- Là hội viên của Hội hành nghề.
Sở dĩ có điều kiện thứ 3, là theo kinh
nghiệm của các nước, song song với việc Nhà nước quản lư việc hành nghề nói
chung, thể hiện bằng việc ban hành những qui định về hành nghề, cấp phép và kiểm
tra việc hành nghề, cần giao cho những người hành nghề tự quản việc thực thi
nghề nghiệp của ḿnh, do đó, họ phải tự tập hợp lại để quản lư lẫn nhau. Tổ chức
tập hợp đó được gọi là Hội những người hành nghề, mà Pháp gọi là "Ordre" và chế
độ cũ ở miền Nam dịch là "Đoàn" (như y sĩ đoàn, luật sư đoàn).
5/ Hội những người hành nghề có 2 chức
năng:
5.1-Bảo vệ danh dự của ngành nghề, bằng
cách đảm bảo tuân thủ mọi qui chế liên quan đến nghề, và kiểm soát nhau trong
việc thực hiện;
5.2- Giữ được tiếng nói trung thực và độc
lập khi có yêu cầu phát biểu về những vấn đề liên quan đến nghề nghiệp;
5.3- Bảo vệ người hành nghề khi bị rủi ro
trong tai nạn nghề nghiệp.
6/ Tinh thần chung là: hành nghề không
phân biệt công hay tư, các mặt chuyên môn và kỹ thuật, tinh thần và đạo đức hoàn
toàn như nhau; chỉ khác ở chỗ, trong khu vực công, người hành nghề hưởng lương
của Nhà nước, c̣n trong khu vực tư, người hành nghề do đối tượng được phục vụ
trả thù lao. Luật Nghĩa vụ được áp dụng như nhau cho cả 2 khu vực.
Cần chú ư là, Hội hoàn toàn khác với
nghiệp đoàn (Công đoàn) là tổ chức chăm lo quyền lợi (nhất là quyền lợi vật
chất) của đoàn viên.
7/ Như đă tŕnh bày, trong đội ngũ những
người có nghề, có 2 loại:
7.1- Những người trực tiếp hành nghề, tức
trực tiếp thực thi nghề nghiệp. Những người này tham gia Hội những người hành
nghề, với tính cách bắt buộc.
7.2- Những người không trực tiếp hành
nghề, nhưng sử dụng kiến thức nghề nghiệp của ḿnh làm việc khác, th́ tổ chức và
tham gia Hội những người là học thuật về nghề nghiệp (như nghiên cứu khoa học),
với tính cách tự nguyện.
7.3- Tất nhiên có những người chuyên làm
một việc, nhưng cũng có những người làm cả hai việc th́ có thể tham gia 2 Hội
cùng một lúc.
II/ Áp dụng trong phạm vi công tác Bảo vệ Sức khỏe ở Việt Nam
1/ Như đề cập ở trên (điều 1, 3), ngành
Bảo vệ Sức khỏe (BVSK) có 4 nghề cần có Hội những người hành nghề. Do điều kiện
thực tế, chúng ta triển khai trước 3 nghề: Y, Dược và Răng Hàm Mặt.
2/ Trong thời kỳ bao cấp, Tổng Hội Y Dược
Học (và Hội Y Dược Học tỉnh thành), ngoài việc tập hợp đoàn kết, làm nhiệm vụ
tham gia hoạt động học thuật là chính, c̣n trách nhiệm trong việc hành nghề, tuy
đă được ghi trong điều lệ, nhưng v́ quan niệm việc này do từng đơn vị đảm nhận,
dưới sự lănh đạo chung của Bộ, nên Hội Y Dược ít quan tâm.
3/ Khi nền kinh tế đất nước chuyển sang cơ
chế thị trường, việc hành nghề y dược tư nhân được cho phép, nên công tác việc
quản lư việc hành nghề y dược tư nhân trở thành một yêu cầu. Do thiếu năng động,
việc chuyển hướng của Tổng Hội chậm được đẩy mạnh, nên cho đến gần đây, Tổng Hội
kể như chưa có sự chỉ đạo xuyên suốt.
4/ Quan điểm thống nhất giữa Tổng Hội và
Bộ Y Tế là: Bộ Y Tế (Nhà nước) quản lư việc hành nghề y dược tư nhân về mọi mặt;
Tổng Hội quản lư các hội viên hành nghề của ḿnh theo đúng mọi qui định của Nhà
nước. Quan điểm này đă được khẳng định một lần nữa trong Hội nghị Ban Thường vụ
ngày 20/07/2001, và sẽ được thể hiện trong Nghị quyết liên tịch số 3 sắp tới
giữa Bộ và Tổng Hội.
5/ Tổng Hội cần tập trung vào việc xây
dựng Hội những người hành nghề như đă nêu. Nhưng xét v́ đă có sẵn tổ chức chung
là Tổng Hội, nên không cần có một tổ chức riêng độc lập, mà Tổng Hội chỉ nên có
một bộ phận chuyên trách hội viên hành nghề của ḿnh, theo tinh thần tự quản,
song song với bộ phận hoạt động về học thuật.
III/ Phương án triển khai tại TP.HCM
1/ Vấn đề mới, do đó cần tiến hành theo
từng bước vững chắc, có thí điểm, bắt đầu ở một quận của TP.HCM (quận 1) và sau
đó mở rộng dần trong phạm vi thành phố, rồi Tổng Hội sẽ triển khai ở các tỉnh.
2/ Trong thành phố, mỗi quận có một chi
hội. Tại quận 1, mỗi nghề y, dược, nha có một chi hội. Chi hội Dược đă
có 5 năm rồi, nhưng cần được chỉnh đốn và củng cố, lấy dược sĩ chủ nhân nhà
thuốc làm cơ sở. Chi hội RHM sẽ được tổ chức thành một chi hội độc lập. Chi hội
Y đă có từ lâu, cần chấn chỉnh lại như sau:
a) Các hội y chuyên khoa chỉ có ở cấp
thành phố; tùy theo số lượng hội viên, có thể sinh hoạt tổ ở các đơn vị y, dược
(Bệnh viện, Trung tâm, .).
b) Chỉ những bác sĩ có hành nghề tư mới
tham gia chi hội. Trong khi chi hội Dược và chi hội RHM trực thuộc Hội Dược và
Hội RHM, chi hội Y trực thuộc Hội Y Dược Học Thành phố. Có thể mỗi phường có một
tổ. Dự kiến có một Liên chi hội trong toàn Thành phố giúp Hội trong công tác chỉ
đạo.
c) Theo sự thống nhất giữa Tổng Hội và Bộ,
bác sĩ xin phép hành nghề cần có giấy giới thiệu của Hội, xem là hội viên, điều
này sẽ hợp thức hóa dần dần.
d) Chi hội có một Ban chấp hành lâm thời,
tiến tới bầu một Ban chấp hành chính thức. Một qui chế tổ chức sẽ được thông qua
trong Đại hội chi hội, để làm khuôn khổ cho hoạt động của chi hội. Các Hội thành
viên chuyên khoa sẽ giúp Hội Y Dược Học Thành phố và Liên chi hội hành nghề tư
trong việc thẩm định chuyên khoa.
3/ Từ nay đến cuối năm 2001, phấn
đấu tổ chức thêm, ngoài chi hội quận 1, hai đến ba chi hội nữa.?
Ngày 25/8/2001, Hội Y Dược Học TP. HCM
phối hợp cùng Sở Y tế? tổ chức hội thảo về Hành Nghề Y Tư Nhân, với sự
tham dự của đại diện văn pḥng Chính phủ, Tổng Hội Y Dược học Việt Nam, các Sở Y
tế của các tỉnh, quận huyện và 16 Hội thành viên cùng các cơ quan thông tin báo
chí.
Hội thảo nhằm đề cặp đến: (1) T́nh h́nh
hiện tại về hành nghề y tư nhân, đánh giá những điều đă làm được, chưa làm được
và những vấn đề cần chấn chỉnh; (2) Thống nhất quan điểm về trách nhiệm hỗ tương
giữa chính quyền tức Bộ và Sở Y tế và đoàn thể tức Tổng Hội và Hội, trong đó có
xác định vị trí chức năng của Tổng Hội và Hội trong toàn bộ vấn đề hành nghề y
tư nhân; (3) Đặt vấn đề khẩn trương xây dựng tổ chức của những người hành nghề
nhằm thực hiện chế độ tự quản trong việc chấp hành mọi quy định liên quan đến
nghĩa vụ của nhân viên y tế trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Hội thảo được nghe báo cáo của BS Phan Văn
Nghiệm về Mối quan hệ giữa thanh tra Sở Y tế với việc hành nghề y tư nhân tại
TP.HCM, của BS Nguyễn Thị Ân, Trưởng pḥng Quản lư dịch vụ Y tế về Quản
lư hành nghề y dược tư nhân tại TP.HCM. Bs Trần Phong Cảnh tŕnh bày về Thái
độ và trách nhiệm trong hành nghề.
GS Ngô Gia Hy tŕnh bày Nhu cầu về bản
nghĩa vụ luật y khoa. Hầu hết các nước trên thế giới đă có bản nghĩa vụ luật
y khoa. Danh từ y đức chỉ là một khái niệm, không có cơ sở để phán xét thế nào
là mất đạo đức hay thiếu đạo đức. Xă hội có trật tự nhờ pháp luật, hành nghề y
cần luật pháp không những để có kỷ luật, mà c̣n để bảo vệ người bệnh và thầy
thuốc. Chính v́ không có nghĩa vụ luật y khoa đi đôi với hệ thống bảo hiểm y tế
có chất lượng, nên biết bao nhiêu sự việc tiêu cực, đau ḷng, bất công đă xảy
ra. V́ vậy kiến nghị Chính phủ sớm ban hành bản nghĩa vụ luật y khoa bằng pháp
lệnh.
BS Nguyễn Thế Dũng, Phó giám đốc Sở Y tế
cho rằng việc quản lư hành nghề hiện nay đă quá tải v́ vậy việc triển khai sớm
và khẩn trương Hội hành nghề y dược là rất cần thiết.
BS Trương Xuân Liễu, Giám đốc Sở Y tế, đưa
đề nghị tiến hành thành lập các chi hội hành nghề tại quận huyện. Định ra một
quy chế cụ thể, quy định trách nhiệm, quyền hạn của các chi hội này để làm cơ sở
hoạt động.
Tổng kết hội thảo, TS Nguyễn Duy Cương rất
hoan nghênh những ư kiến đóng góp của các đại biểu, thống nhất với ư kiến là
việc hành nghề phải tuân theo pháp luật. Hội sẽ quyết tâm phối hợp với Sở Y tế
để sớm thành lập Hội hành nghề. Về luật nghĩa vụ trong bối cảnh thuận tiện chính
phủ vừa cho phép thành phố có một quy chế đặc biệt, chúng ta có thể xin cho phép
ra một quy định hành nghề tạm thời trong lúc chờ một bộ luật hành nghề y dược
mới của nước ta.?