|
NHỮNG TIẾN BỘ MỚI VỀ BỆNH DA Ở TRẺ EM
Trong hội nghị thường niên của Học viện Bệnh Da (Hoa
Kỳ) được tổ chức trong tháng trước với chủ đề "Năm Trẻ em", đă tŕnh bày một số
tiến bộ mới về bệnh da ở trẻ. Dưới đây là tóm tắt một số nét nổi bật trong hội
nghị được tạp chí JAMA? (25/4/2001) giới thiệu.?
U mao mạch
Nên làm cho cha mẹ bệnh nhi yên tâm rằng phần lớn u mao mạch
sẽ tự khỏi khi trẻ đến tuổi đi hoc, không để lại sẹo hoặc chỉ có sẹo chút ít,
không cần can thiệp. Đây là ư kiến của BS Bernard Cohen (Đại học y khoa John
Hopkins) khá bất ngờ đối với nhiều thầy thuốc. Trong khi chỉ 1-2% số trẻ có u
mao mạch ngay từ khi sinh, th́ có 8-10% thấy có u mao mạch khi khám kiểm tra lúc
2 tháng tuổi. U mao mạch xảy ra ở trẻ gái nhiều gấp 3 lần so với trẻ trai. Một
nửa số trường hợp là ở đầu và cổ, khiến cha mẹ bệnh nhi phải t́m cách điều trị
triệt để. Theo Cohen, nên theo dơi kỹ và chụp ảnh để làm công cụ theo dơi.
U mao mạch gây nghẽn tắc đường thở, hạn chế sức nh́n, chảy
máu hoặc cản trở ḍng máu đủ để gây nguy cơ suy tim, cần được điều trị. Vị trí u
mao mạch ở nơi dễ nhiễm khuẩn, ví dụ vùng dắy chậu hoặc các nếp gấp da, hoặc ở
nơi gây mất thẩm mỹ và tác động đến tâm lư (như? mặt-mũi), cũng là một chỉ định
điều trị.
H́nh
1: Đây là h́nh một em bé bị u mao mạch, một trong hơn 600 bức ảnh trẻ em với
hơn 300 bệnh ngoài da có thể t́m xem ở địa chỉ
http://www.med.jhu.edu/peds/dermatlas. Trang web này ra đời vào tháng 1/2001,
với mục đích cung cấp thông tin cho nhân viên y tế và các bậc cha mẹ cũng như
những BN trẻ về các h́nh thức khác nhau của bệnh ngoài da ở trẻ em. Cha mẹ bệnh
nhi có thể theo dơi sự tiến triển khi u mao mạch nhạt dần đi và quan sát những
thay đổi theo thời gian của u mao mạch trên những trẻ khác có bệnh tương tự.
Người thiết kế trang web là BS Bernard Cohen (chuyên khoa da trẻ em) và BS
Christoph Lehman (chuyên khoa sơ sinh) ở đai học John Hopkins. Vùng xám lờ mờ ở
trung tâm mảng tổn thương cho biết u mao mạch của em bé 10 tháng tuổi này bắt
đầu thoái triển tự nhiên.
Liệu pháp laser xung sắc (pulsed-dye laser) là điều trị thích
hợp nhất với u mao mạch bị loét, nhưng chỉ dùng đối với tổn thương nông, v́ tia
laser chỉ xuyên qua mặt da được 2 mm. Các tổn thương sâu hơn gây nhiều khó khăn
cho điều trị. Sử dụng corticosteroid đường toàn thân trong 3-12 tháng vẫn là
điều trị chuẩn đối với u mao mạch có biến chứng, tuy có nhiều lo ngại về tác
dụng phụ. Những tác dụng phụ đó có thể ảnh hưởng đến da như mỏng da và giăn mao
mạch, và có tiêm năng gây chậm phát triển năo và tăng huyết áp, đặc biệt ở trẻ
sinh non vốn đă có xuất độ u mao mạch cao hơn trẻ đủ tháng.
Alpha-interferon tiêm dưới da là phương thuốc cuối cùng đối
với u mao mạch kháng-corticosteroid và nguy hiểm đến tính mạng. Một số nghiên
cứu gợi ư dùng nước muối sinh lư, thay v́ dùng chất bảo quản có chứa cồn
benzyl,? làm dung môi pha loăng có thể loại trừ được độc tính thần kinh dẫn đến
liệt cứng hai chi dưới? (chiếm 1.5 số trẻ được điều trị với alpha interferon).
Bệnh Kawasaki
Bệnh này thường xảy ra ở trẻ dưới 4 tuổi, có những dấu hiệu
ngoài da nổi bật. Đó là sung huyết kết mạc, đỏ môi và họng, lưỡi trái dâu, nứt
môi, sưng phù bàn tay và bàn chân. Hiện tượng bong vẩy da vùng đáy chậu xảy ra
sớm trong giai đoạn cấp có thể giúp chẩn đoán. Bong vảy da bàn tay, bàn chân
cùng với sốt và sưng hạch cổ cũng thường hay xảy ra.
Nguyên nhân của bệnh Kawasaki chưa được biết rơ, người ta chỉ nghi ngờ một tác
nhân nhiễm khuẩn v́ bệnh có thể xảy thành dịch. Trẻ mắc bệnh Kawasaki cần được
khám tim và làm điện tâm đồ và điều trị với immunoglobulin tĩnh mạch.
Hội chứng sốc nhiễm độc
Theo BS Patricia Treadwell (Đại học y khoa Indiana),
thoạt tiên hội chứng sốc nhiễm độc được mô tả ở trẻ em, tuy rằng phần lớn các
trường hợp thường xảy ra trên phụ nữ đang hành kinh. Ở trẻ em, hội chứng này
chưa được chẩn đoán đúng mức v́ BN có huyết áp thấp nhưng không có biểu hiện sốc
rơ ràng. Dấu hiệu ngoài da gồm có đo da lan rộng, sung huyết kết mạch,? hoại tử
da và nhiều mụn mủ. Thấy thuốc cần dự kiến khả năng sốc, đánh giá cân bằng nước
của BN, và dùng thuốc vận mạch nếu cần.
Đề kháng kháng sinh
Hơn 50% số Staphylococcus aureus được phân lập trong
một nghiên cứu trên cộng đồng ở Houston cho thấy vi khuẩn kháng với methicillin.
Những trường hợp nhiễm khuẩn này có khả năng nhạy cảm với clindamycin hơn là các
trường hợp nhiễm khuẩn trong bệnh viện do S. aureus. BN nhiễm S. aureus
trong cộng đồng thường không có các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn, như tiểu đường hoặc
nhiễm HIV. Trái lại, phần lớn là trẻ em khỏe mạnh bị nhiễm khuẩn ở da hoặc mô
mềm, chứ không phải ở phổi hoặc các cơ quan khác. Hơn nữa, những nhiễm khuẩn này
thường khỏi khi dùng kháng sinh họ b-lactam, kèm hoặc không kèm dẫn lưu ngoại
khoa, tùy theo chỉ định.
Viêm da đặc ưng
Bệnh này có đặc trưng là nổi mẩn ngứa, đỏ, bong vảy và khô ở?
ngoài da, thường khu trú ở vùng da mặt trước cẳng tay và khoeo chân, nhưng đôi
khi có thể làn rộng gần như toàn thân. Tỉ lệ bệnh ở trẻ em là 1/10, thường khởi
phát từ lúc mới 6 tháng tuổi, và xuất độ đang gia tăng. Tacrolimus là thuốc điều
ḥa miễn dịch không-steroid đầu tiên, dùng tại chỗ, vừa mới được FDA công nhận
để điều trị viêm da đặc ứng. Đây là thuốc đầu tiên của một loai thuốc mới dùng
điều trị bệnh này kể từ khi corticosteroid dùng ngoài da ra đời cách đây hơn 40
năm. Một thuốc tương tự thứ hai là ascomycin, đang được nghiên cứu đánh giá.
Theo Bs Moise Levy (Trường Cao đẳng y khoa Baylor), những thuốc trên có hiệu quả
cao hơn và tác dụng phụ ít hơn liệu pháp corticosteroid thông thường dùng ngoài
da. Tác dụng phụ thường gặp nhất là cảm giác kim châm hoặc nóng tại chỗ trong
những ngày đầu sử dụng. Tacrolimus là thuốc mỡ 0,03% được cho phép dùng ở trẻ em
trên 2 tuổi. Thuốc cũng có hàm lượng 0,1% dùng cho người lớn.
Ung thư da
Theo ư kiến của BS Lawrence Schachner (Y khoa đại học Miami),
trẻ em ngày nay có nguy cơ phát triển u hắc tố (melanoma) trong trọn đời với tỉ
lệ là 1/75. Nguy cơ cách đây hai thế hệ là 1/1500. Mặc dù có sự lo ngại rằng trẻ
em dùng kem chống nắng có thể chơi ngoài nắng lâu hơn nên làm tăng nguy cơ ung
thư da, nhưng một số nghiên cứu cho thấy trẻ dùng kem chống nắng phổ rộng ít bị
nốt sạm da hơn so với trẻ không dùng kem chống nắng (JAMA. 2000;283:2955-2960).
Tuy rằng tránh tiếp xúc với ánh nắng buổi trưa và ăn mặc
chống nắng là cách dự pḥng tốt nhất, nhưng hiện nay Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ
ủng hộ việc dùng kem chống nắng bôi trên da trần, kể cả mặt, ngay từ khi mới
sinh. V́ hơn 80% thời gian tiếp xúc với ánh nắng trong đời người xảy ra trước
tuổi 18, nên khuyến khích các bậc cha mẹ dùng kem chống nắng để chống tia tử
ngoại A và B, với hệ số bảo vệ chống nắng (SPF) tối thiểu là 15 đối với trẻ em
và nên tập cho chúng có hành vi an toàn khi tiếp xúc với ánh nắng.
Theo Cohen, không có bằng chứng rằng trẻ dùng kem chống nắng
sẽ dễ bị c̣i xương hoặc cần bổ sung vitamin D. Những loại thuốc chống nắng được
chấp nhận về mặt thẩm mỹ mới ra đời không chứa các hóa chất có thể hấp thu qua
da, nhưng đối với một số người thuốc có thể gây bắt nắng hoặc kích ứng. Những
sản phẩm này là các dạng bào chế vi tinh thể của oxid titani không ḥa tan và
oxid kẽm. Một số chế phẩm hầu như không nhận ra khi bôi lên da.
Theo Lyme Lamberg:
Advances in pediatric dermatology. JAMA,2001,285,No 15
TÁC ĐỘNG CỦA BROMHEXIN TRÊN NỒNG ĐỘ AMOXYCILLIN TRONG ĐÀM
Ở NHIỄM TRÙNG HÔ HẤP DƯỚI
.
.
.
.
. .
. . .
. . . .
|
|
.
.
.
.
.
.
. . .
.
. .
. .
|
|
Các thuốc tan đàm có vai tṛ trong điều trị lâu dài
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính do cải thiện đáp ứng lâm sàng.(1) Sau
đây là một nghiên cứu nhằm xác định tác động của bromhexin trên nồng độ
amoxycillin trong đàm và mối tương quan trên hiệu quả điều trị. Nghiên cứu này
nhằm khẳng định các nhóm thuốc thực chất cải thiện nồng độ thâm nhập của kháng
sinh vào trong nhu mô phổi.
Mẫu nghiên cứu
42 BN nam và 18 BN nữ với độ tuổi trung b́nh là 40 ?
14 đă được lựa chọn. Các BN được phân chia một cách ngẫu nhiên, mù đôi vào 2
nhóm. Nhóm A: dùng amoxycillin 500mg và bromhexin 8mg, nhóm B: chỉ dùng
amoxycillin 500mg.
|
Bệnh lư
|
Nhóm A
|
Nhóm B
|
|
Dăn phế quản
|
21
|
19
|
|
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
|
5
|
4
|
|
Áp-xe phổi
|
2
|
3
|
|
Viêm phổi
|
2
|
0
|
|
Xơ hóa phổi do lao
|
0
|
4
|
Kết quả
+ Nồng độ amoxycillin trong đàm của nhóm A (trung b́nh 0,674
? 0,588 SD) cao hơn đáng kể so với của nhóm B (trung b́nh 0,272 ? 0,190 SD)
(p=0,028). (H́nh 1)
+ Cải thiện về mặt X quang là tương tự nhau ở cả 2 nhóm, cũng như không có sự
khác biệt có ư nghĩa về thay đổi vi khuẩn học giữa 2 nhóm (p =0,455). Tuy nhiên,
vùng ức chế ở nhóm A (23,71 ? 5,93mm) cao hơn một cách đáng kể so với nhóm B
(19,86 ? 1,96mm) (p=0,035).
+ So sánh giữa mức độ long đàm giữa nhóm A và nhóm B, sau khi
dùng thuốc có ư nghĩa về mặt thống kê. (H́nh 2)
Đánh giá mức độ long đàm:
?
Độ 0: cảm giác ứ đọng đàm và long đàm sau cơn ho một cách dễ dàng.
?
Độ 1: cảm giác ứ đọng đàm và long đàm sau cơn ho có gắng sức.
?
Độ 2: cảm giác ứ đọng đàm nhưng không long đàm dù cố gắng ho.
+ Đáp ứng lâm sàng do BN tự đánh giá, ở nhóm A tốt hơn một
cách đáng kể so với nhóm B (p<0,01) khi phân tích bằng test chi b́nh phương:
|
|
Nhóm A
|
Nhóm B
|
|
Rất
tốt
|
13
|
5
|
|
Tốt
|
8
|
4
|
|
Trung
b́nh
|
8
|
13
|
|
Kém
|
1
|
8
|
+ Đáp ứng về mặt lâm sàng, theo đánh giá của bác sĩ cũng có
sự khác biệt có ư nghĩa về mặt thống kê giữa 2 nhóm khi được phân tích bằng test
chi b́nh phương (p<0,01).
|
|
Nhóm A
|
Nhóm B
|
|
Rất
tốt
|
14 (47%)
|
6
(20%)
|
|
Tốt
|
13 (43%)
|
7
(23%)
|
|
Trung
b́nh
|
2
(7%)
|
10 (33%)
|
|
Kém
|
1
(3%)
|
7
(23%)
|
.
.
.
.
.
.
. . .
.
. .
? . . .
|
|
Thang điểm đánh giá lâm sàng chung để BN tự đánh giá
và để bác sĩ đánh giá BN:????????
.
.
.
.
. .
. . .
. . . .
|
|
- Rất tốt: độ ho giảm từ ho nặng, dai dẳng đến hết ho,
mức độ long đàm cải thiện từ độ 2 đến 0, lượng đàm giảm tối thiểu, đàm trở nên
trong.
- Tốt: độ ho giảm từ? ho nặng, dai dẳng đến hết ho,
mức độ long đàm cải thiện từ độ 2 đến 0, lượng đàm giảm, nhưng đàm có mủ đă
chuyển sang mủ trong.
- Trung b́nh: độ ho giảm từ ho nặng, dai dẳng đến ho nhẹ hay
trung b́nh, mức độ long đàm cải thiện từ độ 2 đến 1, nhưng đàm c̣n mủ.
- Kém: tất cả các tính chất trên không cải thiện.
+ Không có sự khác biệt có ư nghĩa giữa 2 nhóm về các tác
dụng phụ (buồn nôn, nôn, tiêu chảy, nổi mẩn dị ứng), với mức độ là nhẹ và trung
b́nh
Bàn luận
Qua nhiều nghiên cứu cho thấy bromhexin, có tác dụng long đàm
lượng lớn và giảm độ nhầy trong viêm phế quản mạn tính,(4,5)
bằng cách khử cực các mucopoly-saccharide trong đàm, làm mỏng đi và cắt đứt các
sợi acid mucopolysaccharide có trọng lượng phân tử cao.(4,6)
Thuốc cũng làm tăng tiết tetracycline vào dịch tiết phế quản.(5,6)
Mà so với tetracycline th́ amoxycillin là thuốc lựa chọn ưu tiên hơn trong điều
trị đợt cấp của nhiễm trùng hô hấp dưới.(7)
Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc thâm nhập của kháng sinh
vào trong đàm là trọng lượng phân tử, độ trung hoà điện tích ở pH 7,4, và độ gắn
kết protein thấp.(8,9) Dù amoxycillin trung hoà điện tích, và có tỉ
lệ gắn kết protein thấp 20%, nhưng có kích thước phân tử nhỏ.(8) Độ
thâm nhập vào trong đàm của một kháng sinh tỉ lệ nghịch với kích thước phân tử
v́ các phân tử nhỏ hơn sẽ mắc bẩy trong các lỗ lưới h́nh thành nên các liên kết
muco-polysaccharide trong đàm.(8,9) Nhưng nhờ bromhexin tác động bằng
cách tiêu hủy các liên kết mucopolysaccharide trong đàm, giúp tăng độ thâm nhập
của amoxycillin vào đàm.
Các nghiên cứu trước đây cho thấy kết quả điều trị phụ thuộc
vào nồng độ của kháng sinh trong đàm hơn là nồng độ của kháng sinh trong huyết
thanh. Thất bại của việc điều trị kháng sinh đă được ghi nhận ở BN mà nồng độ
kháng sinh trong đàm quá thấp để diệt trừ vi khuẩn gây hại, ngay cả khi đạt đủ
nồng độ trong huyết thanh. Như vậy, nồng độ amoxycillin trong đàm gia tăng đáng
kể nhờ bromhexin trong nghiên cứu này chứng tỏ thuốc đạt nồng độ cao hơn trong
niêm mạc hô hấp và do đó giúp đạt đáp ứng lâm sàng tốt hơn.
Việc không có sự khác biệt có ư nghĩa về đáp ứng X quang và
vi khuẩn học lặp lại các kết quả của các nhà nghiên cứu trước đây khi cho rằng
đáp ứng vi khuẩn học phụ thuộc vào tác nhân gây bệnh và độc lập với nồng độ
amoxycillin có trong đàm khi nồng độ > 0,25mcg/ml.(3) Các tác dụng
phụ không khác biệt nhau có ư nghĩa giữa 2 nhóm và không có trường hợp nào phải?
ngừng điều trị? trong nhóm A.
Tài liệu tham khảo
1. Morgan EJ. Petty TL. Summary of the
National Mucolytic Study. Chest 1990; 97: 24s-27s.
2. Ricevuti G, Mazzone A, Uccelli E,
Gazzani G, Fregnan GB. Influence of erdosteine, a mucolytic agent, on
amoxycillin penetration into sputum in patients with an infective exacerbation
of chronic bronchitis. Thorax 1988; 43: 585-590.
3. Stewart SM, Anderson IM, Jones GR,
Calder MA. Amoxycillin levels in sputum, serum, saliva. Thorax 1974; 29:
110-114.
4. Hamilton WFD, Palmar KNV, Gent M.
Expectorant action of bromhexin in chronic obstructive bronchitis. Br Med J
1970; 3: 260-261.
5. Cherniack RM. Drug therapy in the
management of cough. In: Drugs for the Respiratory System. San Diego: Grune &
Stratton Inc, 1986: 179.
6. Ziment I. Pathophysiology and
pharmacology of sputum. In: Respiratory Pharmacology and Therapeutics. San
Diego: W.B. Saunders Company, 1978: 41-104.
7. Editorial. Bromhexin. Lancet 1971; 1:
1058.
8. Wong GA, Pierce TH, Goldstein E,
Hoeprich PD. Penetration of antimicrobial agents into bronchial secretions. Am J
Med 1975; 59: 219-223.
9. Smith BR, Lefrock JL. Bronchial tree
penetration of antibiotics. Chest 1983; 83: 905.
10. May JR, Delves DM. Treatment of
chronic bronchitis with ampicillin. Some pharmacologic observations. Lancet
1965; 1: 929.
11. Ross GIM, Croydon EAP. A winter long
trial of ampicillin in chronic bronchitis. Br J Dis Chest 1973; 67: 153.
12. May JR, Ingold A. Amoxycillin in the
tratment of chronic non-tuberculous bronchial infections. Br J Dis Chest 1972;
66: 185.
13. Stewart SM, Fisher M, Young JE, Lutz
W. Ampicillin levels in sputum, serum, saliva. Thorax 1970; 25: 304.
V.S. Taskar, R. R.
Sharma, R. Goswami, P.J. John và A. A. Mahashur. Khoa Hô hấp, Bệnh viện King
Edward Memorial, Bombay, India:
Bệnh nhân HÀI
L̉NG VỀ MELOXICAM (MOBICỊ)
HƠN CÁC kháng viêm không steroid KHÁC - NGHIÊN CỨU IMPROVE
Theo các kết quả của nghiên cứu Impact of Meloxicam on
Prescription Regimens in Osteoarthritis Versus Everyday Care (IMPROVE) được
tŕnh bày tại Hội Nghị Châu Âu về Thấp Học tại Praha, Cộng Hoà Czech (13-16 / 6
/ 2001), BN (BN) bị viêm xương khớp khởi trị bằng meloxicam ít khi phải chuyển
đổi sang thuốc khác v́ các biến cố ngoại ư hoặc không hiệu quả.
Thiết kế IMPROVE: Đây là nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên,
mù đơn, so sánh hai nhóm song song trên 1.309 BN viêm xương khớp háng, đầu gối,
bàn tay hoặc cột sống.? Nghiên cứu đựơc tiến hành tại các pḥng khám ở Hoa Kỳ.?
BN được chọn ngẫu nhiên để trị liệu với meloxicam (MobicỊ) 7,5mg/ngày (n=662) hoặc bất kỳ kháng viêm không
steroid (KVKS) nào được thầy thuốc của họ tự ư chọn (n=647).? Khi cần thiết,
liều của meloxicam có thể lên đến 15mg/ngày.? Các KVKS thuộc nhóm xử trí thông
thường được cho nhiều nhất gồm có rofecoxib, celecoxib, naproxen, diclofenac,
piroxicam và nabumetone.? Liều thông thường của các KVKS dùng điều trị do Thầy
thuốc tự ư định.? BN đă không dùng bất kỳ loại thuốc nào được cho trước khi tham
gia vào nghiên cứu, và được theo dơi trong 06 tháng.
Bảng 1: Thành công trị liệu với KVKS trong nghiên cứu
IMPROVE
|
|
Xử trí thông thường
|
|
KVKS
|
Số BN
|
Thành công (No.)
|
Thành công (%)
|
|
Meloxicam
|
662
|
442
|
66,8
|
|
Celecoxib
|
79
|
49
|
62,0
|
|
Rofecoxib
|
151
|
81
|
53,6
|
|
Oxaprozin
|
34
|
16
|
47,1
|
|
Etodolac
|
38
|
17
|
44,7
|
|
Diclofenac
|
66
|
28
|
42,4
|
|
Naproxen
|
71
|
29
|
40,8
|
|
Ibuprofen
|
18
|
7
|
38,9
|
|
Dilocfenac/misoprostol
|
13
|
5
|
38,5
|
|
Piroxicam
|
58
|
21
|
36,2
|
|
Nabumetone
|
46
|
13
|
28,5
|
|
Sulindac
|
35
|
8
|
22,9
|
Thành công trị liệu được định nghĩa là vẫn tiếp tục dùng
thuốc được cho đầu tiên và không dùng thêm một KVKS khác, hoặc không c̣n cần đến
thuốc nghiên cứu nữa.? BN dùng meloxicam (MobicỊ), đạt thành công cao hơn nhóm
xử trí thông thường (67% so với 45%)
Tỷ lệ thành công của meloxicam cao hơn
Bảng 1 tŕnh bày các KVKS được ghi toa nhiều nhất. Mặc dù
IMPROVE không được thiết kế và tính toán độ mạnh thống kê để so sánh từng KVKS,
tỷ lệ trị liệu bằng meloxicam (MobicỊ) đạt thành công cao hơn so với những người dùng KVKS
trong nhóm xử trí thông thường.
Biến cố ngoại ư và không hiệu
quả ít hơn trong nhóm dùng meloxicam: Các biến cố ngoại ư và kém hiệu
quả xảy ra thường xuyên trong nhóm dùng các KVKS thông thường hơn là nhóm dùng
meloxicam.
Nh́n chung có khoảng 22,1% BN trong nhóm xử trí thông thường
có biến cố ngoại ư liên quan đến thuốc so với 16,5% trong nhóm meloxicam. Các
biến cố trên đường tiêu hoá cũng ít hơn (10,6% BN so với 15,8% ở các KVKS thuộc
nhóm xử trí thông thường).
H́nh 1: Lư do thất bại trị liệu trong nghiên cứu IMPROVE
Meloxicam khiến người bệnh hài
ḷng hơn: Bác sĩ Gurkipal Singh của Trung Tâm Y Khoa thuộc trường Đại
học Standford, một trong các nhà nghiên cứu của thử nghiệm IMPROVE b́nh luận:
"Sự khác biệt thành công trên người bệnh giữa meloxicam và nhóm dùng các KVKS
thông thường có ư nghĩa về mặt lâm sàng và quan trọng đối với cả người bệnh lẫn
Thầy thuốc.? Người bệnh dùng meloxicam hài ḷng hơn rơ rệt, điều này gợi ư rằng
meloxicam là một trị liệu thay thế quan trọng trong viêm xương khớp - một trị
liệu có tác dụng và dung nạp tốt."
H́nh 2: Đánh giá biến đổi t́nh trạng sức khoẻ của BN so với mức khởi điểm khi
được trị bằng KVKS trong nghiên cứu IMPROVE (trị giá âm nói lên sự cải thiện
t́nh trạng sức khoẻ).
BN được yêu cầu đánh giá t́nh trạng sức khỏe của họ dựa trên
thang mô phỏng thị giác 100mm (0= rất tốt, 100 = rất xấu). Trong nhóm meloxicam,
so với mức khởi điểm, có một sự cải thiện lớn, đáng kể hơn so với nhóm xử trí
thông thường.
Tổng phân tích xác nhận h́nh ảnh dung nạp thuận lợi của meloxicam
Một phân tích gộp trên 27.039 BN cũng được báo cáo tại Hội
Nghị Thường Niên Châu Âu về Thấp Học tại Praha, ủng hộ các kết quả của nghiên
cứu IMPROVE.? Tỷ lệ các biến cố tiêu hoá, tim mạch hoặc thận có ư
nghĩa trên lâm sàng được phân tích dựa trên đối chiếu dữ liệu của 35 nghiên cứu
tại Hoa Kỳ, Anh, Đức, Pháp, Nam Phi kéo dài ít nhất 03 tuần và bao gồm mỗi nhóm
trị liệu ít nhất 20 người bệnh. Phạm vi các liều Mobic dùng mỗi ngày trong những
nghiên cứu này thay đổi từ 3,75; 7,5; 15; 22,5 và 30mg.
Bảng 2: Tỳ lệ các biến cố tim mạch hoặc thận trên 27.039
BN tham dự vào 35 thử nghiệm lâm sàng, biểu diễn bằng tỳ lệ các biến cố / 100 BN
- năm trị liệu
|
Biến cố (tỷ lệ / 100 BN - năm trị liệu
|
Giả dược (n=736)
|
KVKS (n=11.078)
|
Meloxicam (n=15.071)
|
|
Nhồi máu cơ tim
|
1,8
|
0,67
|
0,58
|
|
Suy tim
|
0
|
0,58
|
0,48
|
|
Phù ngoại biên
|
0,88
|
6,57
|
3,13
|
|
Cao huyết áp
|
4,42
|
2,66
|
2,62
|
|
Cao huyết áp tiến triển nặng
|
1,77
|
1,25
|
0,80
|
Tổng cộng 15.071 BN dùng meloxicam, 11.078 BN dùng
diclofenac, naproxen hoặc piroxicam, và 736 BN dùng giả dược.? Hầu hết 39% BN
trên 65 tuổi.
Khi phân tích dữ liệu về các biến cố ngoại ư trên tim mạch
hoặc tiêu hoá, cho thấy meloxicam có tỷ lệ thấp các biến cố ngoại ư trên đường
tiêu hoá có ư nghĩa trên lâm sàng (gồm thủng, tắc nghẽn hoặc chảy máu) [h́nh 3].
Phân tích dữ liệu về các biến cố ngoại ư trên tim mạch hoặc
tiêu hoá không cho thấy một tỷ lệ cao hơn các biến cố này với meloxicam
(MobicỊ) so
với các KVKS khác (bảng 2)
Kết luận
Tại Hội Nghị hàng năm Châu Âu về Thấp Học ở Praha,
một nhóm chuyên gia đă tranh luận về lợi ích của các ức chế chọn lọc COX-2
(meloxicam, celecoxib và rofecoxib) so với các KVKS kinh điển trong việc làm
giảm đau và giảm viêm, với các biến cố ngoại ư trên đường tiêu hoá ít hơn.? Họ
cũng lưu ư đến tầm quan trọng không chỉ riêng h́nh ảnh an toàn trên đường tiêu
hoá mà c̣n h́nh ảnh an toàn chung của các thuốc này khi quyết định ra toa.
Lĩnh vực cần được quan tâm là sự xuất hiện các biến
cố ngoại ư tim mạch do không có tác dụng trên COX-1.? Ủy Ban Cố Vấn về Viêm Khớp
của FDA Hoa Kỳ đă biểu lộ mối quan tâm về vấn đề này, đặc biệt về tỷ lệ nhồi máu
cơ tim, các biến cố huyết khối tắc mạch và các biến cố tim mạch khác của
rofecoxib so với naproxen đă được chứng minh trong nghiên cứu VIGOR.?
Theo kết quả của tổng phân tích được tŕnh bày tại
Praha, nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc các biến cố tim mạch khác xảy ra với
meloxicam dường như không cao hơn so với những KVKS cổ điển khác (bảng 2).?
Ngoài ra, meloxicam c̣n cho
thấy có một tỷ lệ thấp hơn các biến cố ngoại ư trên đường tiêu hoá so với những
KVKS cổ điển.? H́nh ảnh dung nạp thuận lợi của meloxicam (MobicỊ),
và hiệu quả của thuốc trên BN bị viêm xương khớp góp phần vào tỷ lệ hài ḷng cao
của người bệnh ghi nhận được trong bối cảnh lâm sàng "thế giới thực" của nghiên
cứu IMPROVE.
THUỐC MỚI HOẶC THỬ NGHIỆM MỚI VỀ THUỐC HIỆN CÓ
TRONG ĐIỀU TRỊ ĐỘT QUỴ CẤP DO
THIẾU MÁU
Điều trị đột quỵ cấp do thiếu máu tiếp tục là một thách thức.
Cứ mỗi một bước tiến dường như có nhiều bước chệch sang bên. Trong số báo The
Lancet ngày 1/9/2001, báo cáo của Philip Bath và cộng sự về sự thiếu hiệu quả
của heparin trọng lượng phân tử thấp, tinzaparin, so với aspirin, góp phần thêm
vào sự thừa mứa các thử nghiệm với kết quả "âm tính" gần đây với kháng đông,
thuốc bảo vệ thần kinh, và các điều trị khác đối với đột quỵ do thiếu máu
(ĐQTM). Kết quả này khẩn thiết đặt ra câu hỏi: "Các điều trị mới về đột quỵ
sẽ đến từ đâu?"? Tuy nhiên, truớc tiên là cần xem lại v́ sao nhiều thử
nghiệm với các thuốc hiện có lại "âm tính".
Phải chăng chúng ta đă ngộ nhận nguyên nhân và sinh bệnh học
của đột quỵ thiếu máu và đă làm ra các thuốc không thích hợp? Hoặc ngộ nhận về
dược lư học của các thuốc hiện có và phương thức mà chúng tương tác lẫn nhau?
Hoặc đă xây dựng các mô h́nh súc vật không giá trị để thử nghiệm thuốc? Hoặc
không nhận biết được các tác dụng điều trị khiêm nhường nhưng quan trọng v́ sai
lầm ngẫu nhiên đă không được tối thiểu hóa (ví dụ, kết thúc sớm thử nghiệm dựa
trên các phân tích chưa thấy hiệu quả)? Hơn nữa, v́ sao điều trị động mạch năo
bị tắc nghẽn và di chứng dường như khó khăn và kém hiệu quả hơn điều trị một
động mạch vành bị nghẽn tắc?
Điều trị nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp ngày nay nói chung đă
được chuẩn hóa trên toàn thế giới, nhưng điều trị đột quỵ cấp do thiếu máu vẫn
c̣n mâu thuẫn với nhau. Một số BN (BN), nhưng không phải tất cả, được dùng
aspirin, một số ít hơn được nhập vào các đơn vị đột quỵ hoặc được dùng heparin
(Gubitz G, et al. 2001), và tại quốc gia cho phép sử dụng có dưới 2% người bệnh
được dùng thuốc tan huyết khối đường tĩnh mạch (Wardlaw JM, et al. 2001).?
Có nhiều lư giải đối với nghịch lư này:
? Nguyên nhân của ĐQTM không đồng nhất. Trong khi hầu hết
NMCT đều do huyết khối xơ vữa tại chỗ (nghĩa là loét hoặc nứt mảng xơ vữa tiếp
nối theo sau là kết tập tiểu cầu và cục fibrin), quá tŕnh này chỉ chiếm vào
khoảng 1/5 các nhồi máu năo. 2/5 khác gây nên bởi lấp mạch do huyết khối xơ vữa,
1/5 do thuyên tắc từ tim (ví dụ huyết khối mới, huyết khối đă tổ chức, calcium,
vi trùng, các mảnh van nhân tạo hoặc ung bướu) và 1/5 do các nguyên nhân khác
(ví dụ: bóc tách động mạch chủ, viêm động mạch, các bệnh trạng tiền đông)
(Warlow Child-Pugh, 2000). Thật là không thực tế nếu mong đợi có trị liệu được
ứng dụng rộng răi và hữu hiệu cho tất cả các nguyên nhân của ĐQTM như điều trị
NMCT. Trong điều kiện tốt nhất, hiệu quả chung của bất kỳ trị liệu nào cũng chỉ
là vừa phải. Điều khó khăn là do thiếu các tiêu chí tin cậy và đúng đắn để phân
lọai đột quỵ thành các nhóm phụ dựa trên căn nguyên.
? Đáp ứng của năo đối với thiếu máu có khác biệt so với cơ
tim. Mặc dù thiếu máu gây ra một chuỗi các biến cố hóa học tùy thuộc vào thời
gian và ḍng chảy ở cả năo lẫn tim, glutamat dường như là chất trung gian chính
của sự chết tế bào năo, trong khi đó nó lại tăng cường bảo vệ cơ tim (được dùng
trong các dung dịch làm liệt cơ tim để khởi động việc sản xuất ra ATP qua chu
tŕnh Krebs citric acid). Hơn nữa, các tế bào thần kinh hoàn toàn? tùy thuộc vào
sự chuyển hóa của glucose đối với năng lượng, và có tiềm năng kém hơn tế bào cơ
tim đối với chuyển hóa yếm khí qua con đường ly giải glycogen, các tế bào cơ tim
này cũng sử dụng acid béo như là nhiên liệu. Hệ quả là thời gian cần thiết để
cứu tế bào năo thiếu máu bị tổn thương về mặt chức năng nhưng vẫn c̣n sống (vùng
thiếu máu tranh tối tranh sáng) có lẽ ngắn hơn nhiều so với cơ tim bị thiếu máu.
Mặc dù khoảng thời gian này có thể lên đến 17 giờ (Baron JC. 1999), tương tự như
NMCT, nhưng có thể nó chỉ là vài giờ trong đa số trường hợp. V́ thế, ĐQTM là một
cấp cứu nội khoa c̣n hơn cả NMCT, và điều trị cần phải được thực hiện rất
sớm-"thời giờ là năo". Thực hiện điều trị tức thời như? thế nào là một thách
thức khác trong thực hành.
? Đáp ứng của năo đối với biến đổi xuất huyết của một nhồi
máu th́ khác, và ít được chấp nhận hơn đối với cơ tim. Mặc dù các trị liệu hữu
hiệu đối với NMCT cũng hữu hiệu đối với ĐQTM, nhưng tác dụng có lợi của chúng
trong ĐQTM giảm sút đáng kể, và trong trường hợp của heparin là hoàn toàn, do
các tác dụng ngọai ư của chúng đối với năo. Điều trị tan huyết khối cho 1000 BN
bị? ĐQTM trong ṿng 6 giờ kể từ lúc khởi phát, nói chung cứu được 44 sinh mạng
(KTC 95% 15-73) khỏi tử vong hay t́nh trạng sống phụ thuộc nhưng lợi ích sẽ c̣n
lớn hơn nếu không phải trả giá cho 70 trường hợp (58-83%) bị xuất huyết năo có
triệu chứng và 44 (34-54) xuất huyết năo gây tử vong (Wardlaw JM, et al. 2001).
Tương tự, điều trị 1000 BN đột quỵ bằng aspirin trong 48 giờ đầu khởi phát ngăn
ngừa được 9 ĐQTM nhưng gây ra 2 đột quỵ xuất huyết và 4 xuất huyết ngoài sọ. Và
điều trị 1000 BN bị ĐQTM với kháng đông toàn thân (heparin, heparinoids) ngăn
ngừa được 9 đột quỵ do thiếu máu thứ phát nhưng gây ra 9 đột quỵ do xuất huyết
mà không có sự cải thiện rơ rệt về tử vong hoặc t́nh trạng sống phụ thuộc
(Gubitz G, et al. 2001).
? Tiềm năng hiệu quả của một số trị liệu đột quỵ (so với
NMCT) chưa được đánh giá rộng răi. Mặc dù điều trị ĐQTM dường như ít hiệu quả
hơn so với NMCT, nhưng có lẽ không phải vậy. Tiêu huyết khối trong ṿng 6 giờ
sau NMCT cấp ngăn ngừa 30 tử vong trong 1000 BN được điều trị trong khi dùng
hoạt hóa plasminogen mô trong ṿng 3 giờ đầu khởi phát của ĐQTM? ngăn ngừa được
140 BN tử vong hoặc t́nh trạng sống phụ thuộc. Hơn nữa, dùng aspirin sớm (trong
ṿng 48 giờ) trong ĐQTM ngăn ngừa được 12/1000 BN khỏi tử vong và t́nh trạng
sống lệ thuộc, và việc chăm sóc trong một đơn vị đột quỵ có tổ chức ngăn ngừa
thêm 66 tử vong và t́nh trạng sống phụ thuộc. Các trị liệu hữu hiệu này, đặc
biệt 2 trị liệu sau cùng-an toàn- cần được tiến hành trên nhiều BN thích hợp hơn
nữa so với hiện nay (Katzan IL, 2000).
? Các trị liệu quan trọng đối với ĐQTM dường như chỉ có hiệu
quả khiêm tốn, hiệu quả này được nhận biết và loại trừ? một cách tin cậy bằng
các thử nghiệm lâm sàng rất lớn, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược
trên hàng vạn người, hơn là mười, hoặc trăm BN tham gia vào nhiều thử nghiệm với
kết quả "âm tính". Hơn 58.600 bị NMCT đă được đánh giá qua các thử nghiệm lâm
sàng về tan huyết khối trước khi nhận được tác dụng trị liệu khiêm tốn nhưng
quan trọng, và trị liệu đă trở nên thực hành chuẩn (Collins R, et al. 1997).
Tương tự, 41.325 BN ĐQTM được chọn ngẫu nhiên vào các thử nghiệm lâm sàng với
aspirin cho thấy một tác dụng trị liệu nhẹ nhưng đáng giá và có hiệu quả kinh tế
cao (trị liệu cho 1000 BN ngăn ngừa được 12 người tử vong hoặc sống lệ thuộc)
(Gubitz G, et al. 2001). Tuy nhiên, chỉ có 5216 BN bị ĐQTM do nhiều nguyên nhân
khác nhau đă được nghiên cứu sử dụng thuốc tan huyết khối (Wardlaw JM, et al.
2001). Mặc dù một tổng quan hệ thống các thử nghiệm này xác nhận hiệu quả của
thuốc tan huyết khối, nhưng vẫn không rơ là trên người nào th́ có hiệu quả, trên
người nào th́ không, và trên người nào th́ nguy hiểm. Thuốc tan huyết khối tốt
nhất, liều, thời gian bán hủy, đường dùng, các phác đồ thuốc bảo vệ thần kinh,
chống thành lập huyết khối, và hạ áp hữu hiệu nhất dùng đồng thời cũng chưa được
biết. Chỉ có một thử nghiệm lâm sàng nhỏ đánh giá tác dụng một liều thuốc tan
huyết khối (hơi cao) phối hợp với aspirin, và một thử nghiệm lâm sàng rất nhỏ
nghiên cứu tác dụng của việc tan huyết khối phối hợp với thuốc bảo vệ thần kinh
trên tổng số 89 BN (Grotta JC. 2000). Chưa có thử nghiệm lâm sàng nào về phối
hợp tan huyết khối, kháng tiểu cầu, và một hay hơn thuốc bảo vệ thần kinh tác
dụng lên các phần khác nhau của chuỗi tổn thương tế bào thần kinh do thiếu máu.
Thuốc bảo vệ thần kinh cần đến được mô tổn thương trước khi được mong đợi có tác
dụng, và các động mạch được tái lưu thông cần được giữ thông thoáng chớ không
tắc nghẽn lại v́ huyết khối. Các thuốc tiêu huyết khối làm tan cục huyết khối
đỏ, nhưng tạo thuận lợi cho tái lập huyết khối thông qua hoạt hóa tiểu cầu,
phóng thích thrombin gắn kết, và hoạt hóa các yếu tố V và VIII bởi plasmin. Mặc
dù strepto-kinase phối hợp với aspirin sẽ có nguy cơ vượt trội xuất huyết năo,
nhưng trong một thử nghiệm lâm sàng nhỏ thiếu độ mạnh (Wardlaw JM, 2001), việc
dùng một hoặc nhiều hơn một thuốc kháng tiểu cầu với nhiều cơ chế tác dụng khác
nhau phối hợp với một thuốc tiêu huyết khối liều thấp hơn nữa (ví dụ, một phần
tư liều hiện nay) có thể an toàn hơn và hiệu quả đáng kinh ngạc.
Có bằng chứng là cả tiêu huyết khối và aspirin có hiệu quả
hơn là tác hại, và heparin th́ hữu hiệu và nguy hiểm như nhau. Một thách thức
trước mắt là cần nhận biết một cách đáng tin cậy BN bị đột quỵ nào sẽ có lợi với
liều nào đó, với một trong các trị liệu hữu hiệu này, và BN nào có thể bị hại,
nhằm để cho các trị liệu tuy nguy hại nhưng hiệu quả có thể nhắm vào những người
có thể hưởng lợi. Tuy nhiên, việc nhận biết này chỉ có thể đạt được qua đánh giá
bằng các thử nghiệm ngẫu nhiên rất lớn, như? International Stroke Trial-3 (IST-3
Cerebrovasc Dis 2001; 11 (suppl 4)). Trong IST-3, cách tiến hành là, trong
ṿng 6 giờ sau khi bị đột quỵ, 6000 bệnh bị ĐQTM sẽ được chọn ngẫu nhiên để dùng
chất hoạt hóa plas-minogen-mô bằng đường tĩnh mạch hoặc giả dược. BN chỉ được
chọn ngẫu nhiên khi thầy thuốc không biết chắc nguy cơ tương đối và lợi ích của
tiêu huyết khối trên người bệnh đó. V́ thầy thuốc có các nguỡng khác nhau về ngờ
vực, có biến đổi rất rộng trong loại người bệnh tham gia, và như? thế, sẽ có
thông tin quan trọng về tính nhất quán của tác dụng trị liệu trên phạm vi rộng
người bệnh. Nếu thành công, dữ liệu từng người bệnh của thử nghiệm lâm sàng này,
khi góp thêm vào dữ? liệu của 5216 BN của 17 thử nghiệm lâm sàng trước đó, sẽ có
độ mạnh thống kê để nhận định một cách đáng tin cậy đặc tính lâm sàng và h́nh
ảnh học thần kinh nào tiên liệu tốt nhất những BN khả dĩ được lợi hoặc không,
hoặc có thể bị tác hại bởi tiêu huyết khối. Trong khi chờ đợi, các trị liệu hứa
hẹn khác cũng nên được đánh giá một cách thích đáng, và không nên ngưng sớm trên
cơ sở chưa thấy hiệu quả và các phân tích tài chính. Các kết quả nên được cập
nhật hóa đều đặn vào các tổng quan hệ thống của cơ sở dữ liệu Cochrane và khi có
kết luận, cần diễn giăi sang lĩnh vực chuyên nghiệp và ứng dụng vào thực hành.
BS Nguyễn Văn Phượng dịch theo Graeme J
Hankey. The Lancet 2001;358,9283: New drugs, or new trials of current drugs, for
the treatments of acute ischaemic stroke?
Dự pḥng bệnh thận giai đoạn cuối do tiểu đường tưp 2
Tỉ lệ bệnh thận giai đoạn cuối đang tăng đến mức báo động.
Năm 2000, riêng tại Hoa Kỳ đă có trên 90.000 BN bị suy thận mạn; số BN hiện phải
chạy thận nhân tạo vào khoảng 300.000, và 80.000 BN khác đang số?g bằng thận
ghép. Tỉ lệ lưu hành và xuất độ bệnh thận giai đoạn cuối xấp xỉ gấp đôi t́nh
h́nh cách đây 10 năm. Thật vậy, trong năm 2000 số BN mới được chẩn đoán suy thận
đă vượt hơn số chết do một bệnh ung thư nào đó, trừ ung thư phổi. Hầu hết các
trường hợp suy thận mới gia tăng là do bệnh thận trong tiểu đường tưp 2. Nếu vẫn
giữ xu hướng như hai thập niên trước, khoảng 175.000 trường hợp tăng urê-máu sẽ
được chẩn đoán vào năm 2010. V́ số BN được ghép thận hàng năm vào khoảng 13000
trường hợp, nên đa số BN tăng urê-máu phải điều trị bằng thận nhân tạo. Chi phí
và nhân lực dành cho công tác điều trị này rất lớn. Do vậy, điều hết sức quan
trọng là dự pḥng bệnh thận giai đoạn cuối, hơn nữa tiểu đường tưp 2 là một bệnh
có thể đề pḥng được. Số liệu từ nhiều nghiên cứu trên BN protein-niệu, kể cả BN
có bệnh thận do tiểu đường tưp 1, khẳng định rằng thuốc ức chế men chuyển (ƯCMC)
làm chậm diễn biến bệnh thận một cách hữu hiệu hơn nhiều thuốc khác (Jafar T.H.
et al. Ann Intern Med. 2001;135:73-67; The ACE inhibitors in Diabetic
Nephropathy Trialist Group. Ann Intern Med 2001;134:370-379). Tuy nhiên bằng
chứng đối với một loại thuốc được ưa chuộng trong bệnh thận do tiểu đường tưp 2
vẫn c̣n ít.?
Tạp chí New England Journal of Medicine số mới đây
(20/9/2001) đă đăng ba bài báo cung cấp thêm chứng cứ về vấn đề này. Parving và
cộng sự (Parving H-H. et al. N Engl J Med 2001; 345:870-878) đă dùng thuốc chẹn
thụ thể angiotensin (irbesartan) cho BN tiểu đường tưp 2 và cao huyết áp có độ
lọc vi cầu b́nh thường nhưng có tổn thương thận giai đoạn đầu được biểu hiện
bằng protein-niệu ở mức độ thấp (microalbumin-niệu). Thuốc có tác dụng giảm
protein-niệu hơn giả dược. Ban đầu, độ lọc vi cầu hơi giảm, có lẽ do tác động
huyết động học của thuốc chẹn thụ thể angiotensin, nhưng về lâu dài th́ không
thấy sự khác biệt với giả dược. Tuy nhiên, giảm protein-niệu chứng tỏ sự bảo vệ
không tổn thương thận thêm, được thể hiện bằng sự bảo toàn độ lọc vi cầu về lâu
dài. Nghiên cứu c̣n chứng minh một tác dụng liều lượng-đáp ứng thỏa đáng của
irbesartan.
Hai nghiên cứu của Brenner và cộng sự (Brenner BM et al. N
Engl J Med 2001; 345:681-689) và của Lewis và cộng sự (Lewis EJ. et al. N Engl J
Med 2001; 345:851-860) cũng dùng thuốc chẹn thụ thể angiotensin, nhưng BN được
nhận nghiên cứu có protein-niệu nặng hơn và suy thận rơ rệt hơn. Trên những BN
có bệnh thận tiến triển xa hơn này, thuốc chẹn thụ thể angiotensin cũng làm giảm
protein-niệu, làm chậm tốc độ giảm độ lọc vi cầu, và chậm khởi phát bệnh thận
giai đoạn cuối hơn các thuốc đối chứng (amlodipin trong nghiên cứu của Lewis và
một hỗn hợp nhiều thuốc trong nghiên cứu của Brenner). Tính b́nh quân, khởi phát
bệnh thận giai đoạn cuối chậm lại chừng 2 năm. Trong cả hai nghiên cứu này,
không thể giải thích các lợi ích hoàn toàn bằng tác dụng của thuốc trên huyết
áp. Do đó, so với những thuốc khác, thuốc ức chế hệ thống
renin-angiotensin-aldosteron có lẽ giảm được áp suất mao mạch vi cầu nhiều hơn,
giảm được tác động tăng sinh dạng sợi của aldosteron và angiotensin hoặc giảm cả
hai.
Ngay cả khi không có những thử nghiệm lớn và có đối chứng như
những nghiên cứu vừa giới thiệu, nhiều bác sĩ lâm sàng vẫn cho rằng chẹn hệ
thống renin-angiotensin-aldosteron đặc biệt có giá trị trong việc làm chậm diễn
tiến bệnh thận liên quan với tiểu đường tưp 2 và họ đă dùng thuốc ƯCMC với hy
vọng làm bệnh thuyên giảm. Thái độ thực hành này không những bắt nguồn từ sự
tương đồng đơn thuần với các loại bệnh khác có protein-niệu, mà c̣n từ kết quả
của những nghiên cứu nhỏ hơn và ngắn hạn hơn so với 3 nghiên cứu trên đây. Vậy
th́ tại sao thuốc ƯCMC lại không được thử nghiệm trong ba nghiên cứu này? Có lẽ
một phần do thử nghiệm điều trị cho BN có bệnh thận tiến triển rất tốn kém và
khó thực hiện. Tăng số thuốc nghiên cứu sẽ làm tăng thêm chi phí.
Chi phí nghiên cứu có lẽ sẽ dễ chịu hơn nếu dùng mức độ
protein-niệu để đánh giá thay v́ dùng độ lọc vi cầu, vốn là một tiêu chí được
chấp nhận rộng răi. Tuy nhiên, Cục Quản lư Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) không
tin tưởng vào việc dùng protein-niệu để đo đạc hiệu quả của thuốc trong việc làm
chậm tiến triển bệnh thận. V́ thế trong 10 năm qua, khoảng thời gian mà bệnh
thận tăng khá nhanh, chỉ có mỗi captopril (một thuốc ƯCMC) được tŕnh cho FDA
công nhận với tinh cách là một điều trị để làm chậm diễn biến suy thận. Xét thấy
những trở ngại trên lâm sàng nên có rất ít thử nghiệm nghiên cứu điều trị suy
thận mạn. Có lẽ đă đến lúc nên xem protein-niệu như là một chỉ điểm có giá trị
với hy vọng có nhiều nghiên cứu ít tốn kém hơn, thúc đẩy t́m ra những phát hiện
mới. Nếu dùng nhiều thuốc trong nghiên cứu thi khả năng phân biệt rạch ṛi giữa
những thuốc này sẽ khó hơn. Nếu thuốc ƯCMC và thuốc chẹn thụ thể angiotensin có
hiệu quả không khác nhau lắm, như nhiều số liệu trước đây đă cho thấy, th́ quyết
định kê toa sẽ tùy thuốc vào tác dụng phụ và giá cả của mỗi thuốc.
Một nghiên cứu khác, nghiên cứu MICRO-HOPE (nghiên cứu phân
nhóm trong Heart Outcomes Prevention Evaluation Study), thấy rằng thuốc ƯCMC bảo
vệ tránh các tai biến tim mạch và giảm mức tăng protein-niệu trên BN tiểu đường
tưp 2 và có micro-albumin-niệu (Lancet 2000;335:253-259). Tuy thiết kế của
nghiên cứu này khác với 3 nghiên cứu nói trên, nhưng cũng cung cấp thêm cơ sở lư
luận để dùng thuốc ƯCMC trên BN tiểu đường tưp 2 có bệnh thận hoặc có các yếu tố
nguy cơ tim mạch khác. Hơn nữa, một phân tích (Golan L et al. Ann Intern Med
1999;131:660-667) đă kết luận rằng thuốc ƯCMC có lợi ích kinh tế hơn nếu được kê
toa cho tất cả BN tiểu đường tưp 2 trung niên, bất kể t́nh trạng chức năng thận
ban đầu ra sao. Tuy nhiên, với thuốc chẹn thụ thể angitensin v́ có giá cao hơn,
nên không thể rút ra một kết luận như vậy.
Mặc dù ngày càng có nhiều bằng chứng về hiệu quả của thuốc,
nhưng việc sử dụng trong lâm sàng để điều trị duy tŕ chức năng thận vẫn c̣n ít.
Bác sĩ lâm sàng và hệ thống chăm sóc sức khỏe nên mạnh dạn sử dụng những điều
trị này. Thuốc ức chế hệ thống renin-angio-tensin-aldosteron sẽ làm chậm tiến
triển bệnh thận. Tuy vậy, thuốc ƯCMC và thuốc chẹn thụ thể angiotensin bảo vệ
không được hoàn hảo và cần có thêm những nghiên cứu về biện pháp dự pḥng và
điều trị toàn diện hơn.?????
Theo Hostetter T.H., N Engl J Med 20/9/2001.
TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN VÀ BỆNH TAI MŨI HỌNG Ở TRẺ EM
VAI TR̉ CỦA PHẪU THUẬT CHỐNG TRÀO NGƯỢC
Mục tiêu: Khẳng định vai tṛ của phẫu thuật chống trào
ngược trong điều trị bệnh tai họng do trào ngược dạ dày thực quản
(GEROD-gastroesophageal reflux - induced otolaryngologic disease)
Thiết kế: Thực hiện phân tích hồi cứu hồ sơ y khoa.
Đặc điểm dân số học của BN, bệnh TMH thứ phát sau trào ngược dạ dày thực quản
(GER), phương pháp chẩn đoán GER, điều trị nội khoa sử dụng trước phẫu thuật
chống trào ngược và đáp ứng đối với can thiệp phẫu thuật đều được xem xét đến.
Bệnh nhân: Tại bệnh viện nhi đồng chăm sóc cấp 3,
trong số các BN được phẫu thuật chống trào ngược từ 1.1.1996 đến 31.12.1999, các
trẻ bị CTEROD được đưa vào nghiên cứu này.
Can thiệp: Các trẻ bị GEROD điều trị nội khoa thất bại
sẽ được phẫu thuật chống trào ngược.
Kết quả: 14 (17%) trong số 82 trẻ, tuổi từ 48 ngày
tuổi đến 3 tuổi (tuổi trung b́nh 9,7 tháng), được phẫu thuật chống trào ngược v́
bị GER tại BV từ năm 1996 đến năm 1999 được chẩn đoán có GEROD: Mười hai |