Bệnh nhân thứ hai được ghép tim nhân tạo
Ngày 13/9/2001, bệnh nhân (BN) thứ hai đă được ghép tim
nhân tạo tại Bệnh viện Jewisk (Louisville, Kentucky, Hoa Kỳ). BN là ông Tom
Christerson, 70 tuổi, được các bác sĩ phẫu thuật của Đại học Louisville gắn một
bơm cơ học (sản phẩm của Abiomed, Inc.) có kích thước bằng một quả bóng tennis.
Cũng chính ê-kíp này đă gắn tim nhân tạo cho BN đầu tiên là Robert Tools, 59
tuổi, vào ngày 2/7/2001. Ông Tools vừa mới được rời khỏi pḥng săn sóc đặc biệt,
và theo đánh giá của bác sĩ điều trị, quả tim nhân tạo của BN đang làm việc một
cách hoàn hảo.
Tim nhân tạo AbioCor là một bơm cơ học được gắn trong lồng
ngực không có dây dẫn hoặc ống nối ra ngoài thành ngực. Một bộ pin và bộ phận
kiểm soát bên trong điều ḥa tốc độ của bơm, và một bộ pin bên ngoài cung cấp
năng lượng cho thiết bị với ḍng điện đi qua da.
Thiết bị thử nghiệm này đă được Cục Quản lư Thực phẩm và Dược
phẩm (FDA) Hoa Kỳ cho phép sử dụng trên 5 BN, tất cả là những BN chờ chết v́ suy
tim hoặc không đảm bảo điều kiện để ghép tim người. Được phép của FDA, nếu 5
trường hợp đầu thành công, tim nhân tạo này sẽ được ghép cho 5 BN khác nữa, và
nếu mọi việc vẫn diễn ra tốt đẹp th́ sẽ tiếp tục ghép thử nghiệm cho 5 BN nữa.
Ngoài bệnh viện Jewish, tại Hoa Kỳ c̣n có bốn trung tâm khác tại Los Angeles,
Philadelphia, Boston và Houston đang hợp tác với Abiomed trong lĩnh vực này.
Tim cơ học của hăng Abiomed được làm bằng titan và nhựa dẻo,
chạy điện, là tim nhân tạo đầu tiên gắn trong lồng ngực, không có dây dẫn và ống
nối ra xuyên qua da. Nguyên tắc hoạt động của thiết bị như sau:
1. Bộ pin bên ngoài truyền nguồn điện vào một cuộn dây bên
trong,
2.? Cuộn dây nhận nguồn điện và gủi đến bộ phận kiểm soát và
nạp điện cho nguồn pin bên trong
3. Bộ phận kiểm soát điều ḥa nhịp tim và tăng giảm nhịp khi
cần.

Pin có thể nạp lại
Cuộn dây trong
Hệ thống truyền điện không dây
Bộ phận kiểm soát
Túi đựng pin
Ghép phối hợp tim, phổi và gan
Ghép cơ quan thường chỉ có thể áp dụng cho những BN có một cơ
quan bị suy chức năng không hồi phục dược nhưng các cơ quan khác vẫn b́nh
thường. V́ vậy, bệnh tim phổi được xem là chống chỉ định của ghép gan, và bệnh
gan mạn tính lại là chống chỉ định của ghép tim hoặc phổi. Do vậy, ghép phối hợp
đồng thời tim, phổi, gan chỉ có thể chỉ định cho BN suy hô hấp giai đoạn cuối do
biến chứng của bệnh gan tiến triển hoặc BN suy gan giai đoạn cuối có biến chứng
bệnh phổi nặng, mà nếu ghép một cơ quan để điều trị th́ ít khả năng thành công.
Mới đây, Praseedom R.K. và cộng sự ở Anh đă hồi cứu lại 9 trường hợp được ghép
phối hợp tim-phổi-gan tại Cambridge trong những năm 1986-1999.???
Trừ trường hợp đầu tiên (Wallwork và cs. 1987) được ghép
riêng khối tim-phổi và gan, những trường hợp sau đó đều được ghép nguyên khối.
Tất cả BN đều được dùng liệu pháp ức chế miễn dịch theo phác đồ chuẩn đối với BN
ghép tim-phổi và dùng kháng sinh dự pḥng trước và sau mổ (flucloxacillin và một
cephalosporin thế hệ thứ ba). Phân tích kết quả, các tác giả nhận thấy rằng ghép
tim-phổi cải thiện được tỉ lệ sống sót và chất lượng cuộc sống trên BN bị xơ hóa
nang. Tuy 20-30% số BN xơ hóa nang có bệnh gan có ư nghĩa trên lâm sàng, nhưng
chỉ 3% bị rối loạn chức năng tổng hợp và tăng áp tĩnh mạch cửa để chống chỉ định
ghép tim-phổi. Tỉ lệ thải phổi ghép trong lô BN này (3 tai biến trên 9 BN) thấp
hơn xuất độ đă công bố trong ghép phổi đơn thuần là 73%. Tuy nhiên số BN hồi cứu
quá ít nên không thể rúr ra kết luận dứt khoát về sự bảo vệ miễn dịch của gan
đặc hiệu với người hiến tạng, một hiện tượng đă được chứng minh trên các mô h́nh
động vật. Nhiễm khuẩn huyết là nguyên nhân của đa số biến chứng và tử vong, do
vậy trong tương lai cần xét đến việc dùng liệu pháo ức chế miễn dịch với liều
thấp hơn, và điều đó cũng có thể giảm được xuất độ suy thận.
Theo các tác giả, thủ thuật ghép nhiều tạng đồng thời không
đ̣i hỏi kỹ thuật ǵ đặc biệt ngoài những yêu cầu như ghép gan và ghép tim-phổi
thông thường. Đây là một thủ thuật khả thi và có hiệu quả trị liệu đối với một
số ít BN chọn lọc, đặc biệt là BN xơ hóa nang do biến chứng bệnh gan nặng.
Theo Lancet 2001; 358:512-513
Cerivastatin bị rút khỏi thị trường
Ngày 8/8/2001 hăng dược phẩm Đức Bayer AG thông báo rút sản
phẩm cerivastatin, một thuốc hạ cholesterol-máu, của họ khỏi thị trường sau khi
nhận thấy có 52 trường hợp tử vong ở Hoa Kỳ và châu Âu có liên quan với sản phẩm
này.
Cerivastatin được bán trên thị trường từ năm 1997 (tên biệt
dược tại Hoa Kỳ là Baycol và ở châu Âu là Lipobay) là một statin, có tác dụng hạ
cholesterol huyết thanh bằng cách chẹn enzyme HMG-CoA reductase. Từ khi ra đời
vào năm 1987, các statin đi kèm với một số hiếm trường hợp được báo cáo tiêu sợi
cơ vân. Mô cơ bị hủy trong t́nh huống này thường có thể phục hồi được, nhưng có
thể nguy hiểm đến sinh mạng nếu dẫn đến suy thận cấp hoặc suy chức năng các cơ
quan khác. Michael Diehl, người phát ngôn của hăng Bayer (Leverkusen, Đức) nói
rằng: "Chúng tôi quyết định loại bỏ thuốc này v́ thấy rằng các trường hợp tiêu
cơ vân gây tử vong thường hay xảy ra với cerivastatin hơn là với các loại statin
khác. Những trường hợp tử vong này thường thấy nhất khi dùng thuốc với liều cao,
trên BN lớn tuổi và khi dùng phối hợp với gemfibrozil. Trong 31 BN tử vong ở Hoa
Kỳ có 12 trường hợp dùng chung với gemfibrozil". Gemfibrozil là thuốc hạ lipid
thuộc nhóm fibrat. Đôi khi thuốc này được cho thêm khi cholesterol của BN không
đáp ứng thỏa đáng với liệu pháp statin đơn thuần. M. Dielhl cho biết: "Tuy vậy,
sản phẩm vẫn được bán ở Nhật v́ thị trường này không có gemfibrozil và
cerivastatin hàm lượng cao 0,8 mg".????
 |
Việc này đă dấy lên sự lo ngại về tính an toàn của các loại statin khác. Một
nhóm tư vấn người tiêu dùng đă yêu cầu Cục Quản lư Thực phẩm và Dược phẩm (FDA)
Hoa Kỳ cải tiến nhăn cảnh báo đối với tất cả các statin. FDA nói rằng hàng triệu
BN đang dùng statin không nên hoảng loạn. Đồng ư với ư kiến đó, Maarteen Simoons
(Bệnh viện Đại học Rotterdam, Hà Lan) cho rằng: "Tiêu cơ vân là một tác dụng phụ
rất hiếm gặp và không vượt trội những lợi ích chắc chắn đă được chứng minh trên
lâm sàng mà statin đem lại. Cerivastatin chưa hề được nghiên cứu trong một thử
nghiệm lâm sàng với số lượng lớn BN, có lẽ v́ vậy mà những tác dụng thường gặp
của thuốc này không được nhận ra." Tuy vậy, Cơ quan Đánh giá Dược phẩm châu Âu
đóng tại London (Vương quốc Anh) thông báo rằng trong vài tháng tới nên tiến
hành xem xét lại tinh an toàn của các statin khác.?
Theo Wim Weber, Lancet 18/8/2001.
Trẻ sơ sinh mắc chứng vú to
Một nhóm tác giả tại Bệnh việ? Hoàng gia, Vương quốc Oman vùa
báo cáo một trường hợp chứng vú to ở trẻ sơ sinh. Bé gái sinh đủ tháng này, nặng
3,1 kg, đă có triệu chứng gan to và suy tim ứ huyết từ khi mới sinh. Siêu âm tim
cho thấy quá tải thể tích ở thất phải. Siêu âm màu Doppler và mạch đồ động mạch
chủ cho thấy một mạch máu bất thường h́nh chữ U xuất phát từ động mạch chủ ngay
dưới cơ hoành và đổ vào tĩnh mạch gan. Từ ngày thứ 6 sau sinh, thấy trẻ có vú to
dần cả hai bên. Shunt động-tĩnh mach gan được giải quyết vào ngày 21 bằng cách
bít mạch máu bất thường với một thiết bị h́nh cuộn dây được cấy qua mạch đồ, kết
quả là triệu chứng gan to và suy tim gần như biến mất. Ba ngày sau, vú bắt đầu
nhỏ lại và đến tuần thứ bảy không c̣n bằng chứng vú to nữa.
Khảo sát nguyên nhân của chứng vú to sớm cho thấy h́nh ảnh
siêu âm bụng và buồng trứng b́nh thường, tăng nồng độ estradiol (66 pmol/L) và
kích nang tố (FSH: 7,4 IU/L), những nồng độ này trở lại b́nh thường vào ngày 35.
Chứng vú to có thể do sự rối loạn chuyển hóa và trước đây chưa hề được báo cáo.
Qua trường hợp này, các tác giả muốn đề cập đến khả năng gặp hội chứng này trong
dị dạng động-tĩnh gan và gây thuyên tắc có thể được thực hiện an toàn trên trẻ
sơ sinh.
Theo Lancet 6/01/2001
Hoạt động thể lực, béo ph́, chiều cao và nguy cơ ung thư
tuyến tụy
Những nghiên cứu trước đây đă cho thấy bệnh tiểu đường và
tăng nồng độ glucose huyết tương sau khi ăn đi kèm với tăng nguy cơ ung thư
tuyến tụy. Hầu như do ảnh hưởng trên sự đề kháng insulin, nên béo ph́ và t́nh
trạng ít hoạt động thể lực cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tụy.
Để khảo sát mối liên quan của béo ph́, chiều cao và hoạt động
thể lực với nguy cơ ung thư tuyến tụy, Michaud D.S. và cộng sự đă phân tích
những bản trả lời câu hỏi của hai thuần tập nghiên cứu tại Hoa Kỳ là những đối
tượng tham gia Nghiên cứu Theo dơi Sức khỏe Nhân viên Y tế? (bắt đầu từ năm
1986) và Nghiên cứu Sức khỏe Điều dưỡng (bắt đầu vào năm 1976), với thời gian
theo dơi từ 10-20 năm.
Tổng cộng có 46648 người đàn ông từ 40 đến 75 tuồi và 117041
phụ nữ từ 30 đến 55 tuổi, lúc đầu không có ung thư và có đầy dủ số liệu về chiều
cao và cân nặng. Các chỉ số đánh giá chính là nguy cơ tương đối của ung thư tụy,
được phân tích qua chỉ số thân khối (BMI), chiều cao và mức độ hoat động thể lực
do đối tượng tự báo.
Kết quả cho thấy, trong thời gian theo dơi, đă ghi nhận được
350 trường hợp ung thư tụy mới xảy ra. Những ngưới có BMI tối thiểu là 30 kg/m2
có nguy cơ ung thư tụy cao hơn so với người có BMI <23 kg/m2 (nguy cơ
tương đối đa biến là 1,72; KTC 95%: 1,19-2,48). Chiều cao cũng kết hợp với tăng
ung cơ ung thư tụy (nguy cơ tương đối đa biến = 1,81; KTC 95%: 1,31-2,52 đối với
hạng cao nhất và hạng thấp nhất). Có một sự tương quan nghịch với hoạt động thể
lực vừa phải (nguy cơ tương đối đa biến = 0,45; KTC 95%: 0,29-0,70 đối với hạng
cao nhất và hạng thấp nhất; P xu hướng <0,001). Tổng hoạt động thể lực không kết
hợp với nguy cơ ở những người có BMI <25 kg/m2 nhưng có sự kết hợp
nghịch với nguy cơ ở những người có BMI ?25 kg/m2
(nguy cơ tương đối đa biến gộp = 0,59; KTC 95%: 0,37-0,94 đối với tứ phân vị cao
nhất và thấp nhất của tổng hoạt động thể lực; P xu hướng = 0,04).???
Các tác giả kết luận rằng trong 2 thuần tập nghiên cứu, béo
ph́ làm tăng nguy cơ ung thư tụy một cách có ư nghĩa. Hoạt động thể lực xem ra
làm giảm nguy cơ ung thư tụy, đặc biệt là ở người thừa cân.
Theo JAMA 29/8/2001;286:921-929.
Ảnh hưởng của tập thể dục trên sự kiểm soát đường huyết
và khối lượng cơ thể trong tiểu đường tưp 2
Tập thể dục được nhiều tác giả xem là có lợi cho việc kiểm
soát đường huyết và giảm cân trên BN tiểu đường tưp 2. Tuy nhiên, những thử
nghiệm lâm sàng về ảnh hưởng của tập thể dục trên BN tiểu đường tưp 2 thường có
cỡ mẫu nhỏ và kết quả nhiều khi trái ngược nhau. Do đó, trong một bài tổng phân
tích đăng trên tạp chí JAMA số ra ngày 12/9/2001, Boulé N.G. và cộng sự đă báo
cáo một tổng phân tích về những thử nghiệm lâm sàng có đối chứng để rút ra kết
luận rơ hơn về vấn đề này.?
Mục tiêu của các tác giả là xem lại một cách có hệ thống và
lượng hóa ảnh hưởng tập thể dục trên tỉ lệ hemoglobin glycosylat-hóa (HbA1c) và
khối lượng cơ thể trên BN tiểu đường tưp 2. Nguồn dữ liệu được thu thập là tất
cả những cơ sở dữ liệu hiện có (MEDLINE, EMBASE, Cochran Controlled Trials
Register..) được cập nhật đến tháng 12/2000. Nguồn dữ lịeu bổ sung là các tài
liệu tham khảo được nêu trong sách giáo khoa và các bài báo được các cơ sở dữ
liệu nói trên chỉ dẫn.
Các tác giả đă chọn những nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của
can thiệp tập thể dục (thời gian ?8 tuần) trên BN tiểu đường tưp 2 người lớn.
Tổng cộng chọn được 14 nghiên cứu có đối chứng (11 nghiên cứu ngẫu nhiên và 3
không ngẫu nhiên). Những nghiên cứu có dùng thuốc đều bị loại ra.
Qua tổng hợp số liệu, các thông số (trung b́nh ? độ lệch
chuẩn) của các can thiệp tập thể dục như sau: 12 nghiên cứu sử dụng biện pháp
tập thể dục nhịp điệu 3,4 ? 0,9 lần/tuần trong thời gian 18 ? 15 tuần và 2
nghiên cứu dùng biện pháp tập thể dục có kháng lực với 10 ? 0,7 h́nh thức tập
khác nhau, mỗi lần tập 2,5 ? 0,7 hiệp, lặp lại động tác 13 ? 0,7 lần, mỗi tuần
tập 2,5 ? 0,4 lần. Kết quả nhận thấy trị số trung b́nh của HbA1c sau can thiệp ở
nhóm tập thể dục thấp hơn so với nhóm chứng (7,65% so với 8,31%, sai biệt trung
b́nh-0,66%; P<0,001). Sự khác biệt về khối lượng cơ thể sau can thiệp giữa nhóm
tập thể dục và nhóm chứng không có ư nghĩa (83,02 kg so với 82,48 kg, sai biệt
trung b́nh 0,54; P=0,76).
Các tác giả kết luận rằng việc tập thể dục làm giảm HbA1c với
một lượng có khả năng giảm được nguy cơ biến chứng tiểu đường, nhưng không làm
thay đổi cân nặ?g cơ thể một cách có ư nghĩa khi so sánh giữa nhóm tập thể dục
và nhóm chứng.
?Theo JAMA 12/9/2001;286:1218-1227.
Dịch béo ph́ và tiểu đường không có dấu hiệu giảm
Dịch béo ph́ và tiểu đường đang tiếp tục tăng ở Mỹ, theo kết
quả nghiên cứu của Trung tâm Kiểm soát và Pḥng bệnh (CDC). Các chuyên gia báo
động rằng nếu không hành động để ngăn chặn những dịch này, th́ chúng sẽ trở nên
một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng trong thập niên sắp tới.
Ali h Mokdad và
cộng sự ở CDC (Atlanta, Georgia, Hoa Kỳ) đă khảo sát số liệu một cuộc điều tra
ngẫu nhiên qua điện thoại (Behavorial Risk Factor Surveil-lance System) trên
184450 người Mỹ trong năm 2000. Các tác giả đă tính chỉ số thân khối (BMI) của
các đối tượng tham gia qua số liệu chiều cao và cân nặng do họ tự báo. Những
người có BMI ?30 được xếp vào loại béo ph́, và người có BMI ?40 được xếp là quá
béo ph́. Các đối tượng c̣n được hỏi xem họ có được bác sĩ chẩn đoán là tiểu
đường hay không (JAMA 2001; 286:1195-200).
Tỉ lệ lưu hành của béo ph́ là 19,8%, tăng 61% so với năm
1991. Tỉ lệ tiểu đường là 7,3%, tăng 49% so với năm 1990. 27% số người được hỏi
trả lời là không hoạt động thể lực và 28,2% khác không thường xuyên vận động.
Tăng tỉ lệ béo ph́ và tiểu đường không phải là vấn đề của
riêng Hoa Kỳ. Theo Paul Zimmer, Giám đốc viện Tiểu Đường Quốc tế (IDI) ở
Melbourn (Úc), số liệu đó đang ở mức báo động và hầu như phản ánh đúng với t́nh
trạng tại Úc. Theo báo cáo của IDI, được công bố tháng 4/2001, cho thấy 40% số
người Úc thừa cân và 20% khác bị béo ph́. Gần 1/4 số người Úc từ 25 tuổi trở lên
bị tiểu đường hoặc có nguy cơ cao phát sinh tiểu đường? trong 5-10 năm tới. Theo
Zimmer: "Đây không phải chỉ là vấn đề cá nhân, trái lại nó phản ánh những ảnh
hưởng bấ? lợi trên sức khỏe của những thay đổi về mặt xă hội với việc giảm lao
động và hoạt động nhàn rỗi. Vấn đề này tương tự như trái đất đang nóng lên và ô
nhiễm môi trường và cần có những thay đổi lớn trong cơ cấu xă hội." Jim Mann
(Đại học Otago, Dunadin, New Zealand) cho rằng cần phải hành động. Ông nói: "Bác
sĩ nên xem béo ph́ là một bệnh chứ không phải là một hiện tượng, và chính phủ
cần xử trí với bệnh này như là một bệnh dịch." Theo ông, trong khi thuốc chống
béo ph́ c̣n đang tiếp tục được nghiên cứu, th́ trước mắt có thể xây dựng các
trung tâm điều trị bằng các biện pháp thay đổi lối sống và chế độ ăn. Hiện nay
thức ăn rẻ nhất vẫn là thức ăn nhiều mỡ!??
Theo Lancet 15/9/2001.
NGUY CƠ VỠ TỬ CUNG TRONG CHUYỂN DẠ Ở PHỤ NỮ ĐĂ SANH MỔ
LẤY THAI LẦN TRƯỚC
Mỗi năm tại Hoa Kỳ, có khoảng 60% phụ nữ đă mổ lấy thai lần
trước nay có thai lại và chuyển dạ lần nữa. Người ta e rằng đợt chuyển dạ lần
này sẽ làm tăng nguy cơ vỡ tử cung, một tai biến sản khoa hiếm gặp nhưng nghiêm
trọng.
Các tác giả tiến hành một phân tích thuần tập hồi cứu căn cứ trên dân số sử dụng
các số liệu từ những phụ nữ đă sanh đứa con đầu c̣n sống bằng cách mổ lấy thai
tại các bệnh viện dân sự ở tiểu bang Washington từ năm 1987 đến năm 1996 và có
đứa con thứ hai cũng trong cùng thời khoảng trên (có tất cả 20.095 phụ nữ). Các
tác giả lượng giá nguy cơ vỡ tử cung trong các trường hợp sanh chuyển dạ tự
nhiên, sanh do chuyển dạ bằng prostaglandin, sanh do chuyển dạ bằng các phương
tiện khác; cả 3 nhóm sanh này được so sánh với sinh mổ lấy thai lần nữa không
chờ chuyển dạ.
Kết quả: Vỡ tử cung xảy ra với xuất độ là 1,6/1000 ở
những phụ nữ sanh mổ lấy thai lần thứ 2 trước chuyển dạ (11 phụ nữ),? là
5,2/1000 phụ nữ có chuyển dạ tự nhiên (56 phụ nữ), là 7,7/1000 phụ nữ được giục
sanh không dùng prostaglandin (15 phụ nữ) và là 24,5/1000 phụ nữ giục sanh bằng
prostaglandin (9 phụ nữ). Nếu so với các phụ nữ sanh bằng cách mổ lấy thai thêm
một lần không chờ chuyển dạ, nguy cơ vỡ tử cung có vẻ nhiều hơn ở các phụ nữ
sanh có chuyển dạ tự nhiên (nguy cơ tương đối RR: 3,3; 95 % khoảng tin cậy 1,8 -
6,0); giục sanh không dùng prostaglandin (RR: 4,9 95% CI: 2,4 - 9,7), giục sanh
với prostaglandin (RR = 15,6, 95 % CI: 8,1 - 30,0).
Kết luận: Đối với các phụ nữ đă sanh mổ lấy thai lần
trước, nguy cơ vỡ tử cung cao hơn ở những người được giục chuyển dạ so với những
người mổ lấy thai lần nữa không chờ chuyển dạ. Giục chuyển dạ bằng
prosta-glandin cho nguy cơ cao nhất.
Theo N Engl J Med 2001;345:3-8
Bổ sung folic acid trong thai kỳ và nguy sơ sẩy thai
Việc bổ sung folic acid với hàm lượng 400 mg/ngày trước và
trong những tháng đầu thai kỳ đă giảm được nguy cơ dị tật ống thần kinh ở trẻ sơ
sinh, tuy nhiên ảnh hưởng của việc bổ sung folic acid trên các kết cục thai
nghén khác vẫn được được rơ. Mới đây, một nhóm nghiên cứu do Jacquelin Gindler
(Trung tâm Pḥng chống bệnh, Atlanta, Hoa Kỳ) đứng đầu đă thực hiện một nghiên
cứu trên thai phụ người Hoa nhằm t́m hiểu ảnh hưởng của việc bổ sung đó trên
xuất độ sẩy thai.??
Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ ở Trung Quốc đă tham gia chiến
dịch folic acid để dự phóng dị tật ống thần kinh và những người đă đăng kư vào
chiến dịch này trước khi có thai lần đầu. Các tác giả khảo sát nguy cơ sẩy thai
trên những phụ nữ được khẳng định là có thai và có dùng hoặc không dùng thuốc bổ
sung chứa 400 mg folic acid trước và trong những tháng đầu thai kỳ.
Kết quả nhận thấy tỉ lệ chung về sẩy thai là 9,1% (2155/23806
thai phụ). Tỉ lệ sẩy thai trên phụ nữ có dùng và không dùng folic acid bổ sung
trước và trong ba tháng đầu thai kỳ, theo thứ tự, là 9,05 và 9,3% (tỉ suất nguy
cơ 0,97 [KTC 95%: 0,84-1,12]). Phân bố tuổi thai lúc chẩn đoán có thai và lúc
sẩy thai ở hai nhóm thai phụ đều tương tự nhau. Nghiên cứu dựa vào cộng đồng
trên một thuần tập phụ nữ khá lớn dùng folic acid bổ sung với liều 400 mg/ngày
trước và trong khi có thai không cho thấy bằng chứng việc bổ sung folic acid ảnh
hưởng đến nguy cô sẩy thai.
Theo Lancet 2001;358:796-800.
Thuyên tắc mỡ không đối xứng
Trường hợp này được báo cáo đă xảy ra tại bệnh viện Eemland
(Hà Lan). Một người đàn ông 73 tuổi được mổ để thay toàn bộ khớp háng trái v́
hoại tử đầu trên xương đùi. Sau mổ 3 giờ, BN than khó thở và tức ngực. BN nhanh
chóng bị suy hô hấp và được đặt nội khí quản và thở máy. Chụp X-quang lồng ngực
cho thấy đông đặc lan rộng, đặc biệt là ở phổi phải (ảnh nhỏ góc dưới phải). Đặt
catête qua động mạch phổi thấy áp lực mao mạch bịt b́nh thường (11 mmHg). Hút
dịch rửa phế nang đem nhuộm và soi dưới kính hiển vi thấy đa số đại thực bào phế
nang chứa các hạt mỡ nhỏ (h́nh ?400). BN được chẩn đoán là hội chứng suy hô hấp
cấp thứ phát sau thuyên tắc mỡ. Trong lúc mổ BN được đặt nằm nghiêng bên trái,
nên phổi phải được ưu tiên tưới máu và đă bị tổn thương. Mặc dù có sự cải thiện
trên X-quang sau 2 ngày thở máy, nhưng cuối cùng BN vẫn chết v́ nhiễm khuẩn bệnh
viện và suy tuần hoàn.
Theo Bartelink A.K. và cộng sự, Lancet?
08/9/2001.
Có thể điều trị an toàn cơn động kinh trên đường chuyển
đến bệnh viện
Nhân viên trên xe cấp cứu có thể điều trị BN có cơn động kinh
kéo dài một cách an toàn và hữu hiệu bằng cách tiêm benzodiazepin với liều thích
hợp, c̣n hơn là chờ đến bệnh viện để xử trí. Một nghiên cứu của Daniel
Lowenstein (Đại học Y khoa Havard, Boston, Hoa Kỳ) và cộng sự đă cho thấy rất rơ
rằng điều trị tích cực BN có động kinh liên tục (status epilepticus) trong điều
kiện ngoài bệnh viện là có thể chấp nhận được và cải thiện cơ may cho BN đến
bệnh viện mà không c̣n co giật. Lowenstein và cộng sự ở Đại học California đă
nghiên cứu 205 BN bị động kinh liên tục (kéo dài ?5 phút mà không tỉnh) trong
môi trường ngoài bệnh viện. BN được tiêm tĩnh mạch một cách ngẫu nhiên lorazepam
(đầu tiên 2 mg; thêm 2 mg nữa nếu vẫn co giật sau 5 phút), diazepam (đầu tiên 5
mg, thêm 5 mg nữa nếu vẫn c̣n co giật), hoặc giả dược, ngay trên xe cấp cứu.
59% số BN dùng lorazepam và 42,6% số BN dùng diazepam hết co
giật khi đến bệnh viện, so với 21,1% số BN dùng giả dược. Tỉ suất chênh, so với
giả dược, của hết co giật lúc vào pḥng cấp cứu là gấp 4,8 lần đối với
lorazepam, và gấp 2,3 lần đối với diazepam; tỉ suất chênh giữa lorazepam và
diazepam là 1,9. BN dùng lorazepam có cơn co giật ngắn hơn so với các đối tượng
khác.
Lowenstein cho rằng: "Có một xu hướng rơ rệt thuận lợi cho
lorazepam, và kinh nghiệm lâm sàng về điều trị t́nh trạng động kinh liên tục
trong bệnh viện cho thấy lorazepam được ưa chuộng hơn." Tuy nhiên, khác với
diazepam, lorazepam phải được bảo quản lạnh, nghĩa là nếu dùng thường qui trên
xe cấp cứu th́ thuốc phải được đổi mới thường xuyên và để trong ngăn lạnh.
Nhưng cho dù dùng thuốc ǵ th́ khi đến bệnh viện cũng có
41-57% số BN c̣n co giật. Do đó theo tác giả cần có những nghiên cứu dùng liều
cao hơn để "điều trị tối ưu và cắt đứt t́nh trạng động kinh liên tục ngay tại
hiện trường".
Theo N Eng J Med. 30/8/2001.
Thuốc cũ trị bệnh mới
Theo kết quả của một nghiên cứu in vitro được thông báo trong
giữa tháng 8/2001? thuốc trị sốt rét quinacrin và thuốc chống loạn thần
chlorpromazin ngăn chặn được sự chuyển đổi protein prion b́nh thường (PrPC)
thành bất thường (PrPSC). Với kết quả sơ bộ này, hai BN mắc bệnh
Creutzfeldt-Jakob (CJD) đă được điều trị với quinacrin tại Đại học California,
San Francisco (Hoa Kỳ). Công tŕnh nghiên cứu in vitro bước đầu này do Carsten
Korth? thực hiện, bằng cách dùng một mô h́nh phổ biến của rối loạn prion - canh
cấy ḍng tế bào u nguyên bào thần kinh chuột nhắt (ScN2a) bị nhiễm PrPSC
- để? chứng minh rằng điều trị 6 ngày với quinacrin hoặc chlorpromazin làm giảm
sự biến đổi PrPC thành PrPSC (Proc Natl Acad Sci 2001;
98:9836-41). Các nhà nghiên cứu đă sàng lọc rất nhiều thuốc có khả năng qua được
hàng rào máu-năo và đă thấy rằng quinacrin và chlorpromazin là hữu hiệu nhất
trong việc ngăn chặn, thậm chí đảo ngược hiện tượng nhiễm PrPSC in
vitro.
Các tác giả cũng xác định được sự liên quan giữa cấu trúc và
hoạt tính của một số dẫn chất acridin và phenothiazin, và xác định những đặc
trưng phân tử có hoạt lực ức chế sự h́nh thành PrPSC.
Đây không phải là lần đầu tiên quinacrin được thử nghiệm về
tác dụng kháng-prion. Năm ngoái, các nhà nghiên cứu ở Đại học Kyushu (Nhật) và
Viện Dị ứng học và Bệnh Truyền Nhiễm quốc gia (Hamilton, MT, Hoa Kỳ)đă báo cáo
những tác dụng tương tự của quinacrin trên ḍng tế bào u nguyên bào thần kinh
ScNB (J Virol 2000: 74: 4894-97).
Trong một nghiên cứu khác mới được công bố (Nature 2001: 412:
739-43), nhóm nghiên cứu của Stanley Prusiner đă khảo sát 7 kháng thể tái tổ hợp
khác nhau đối với các phần khác nhau của protein PrPC b́nh thường.
Những nồng độ khác nhau của mỗi một kháng thể này được cho tiếp xúc với một ḍng
tế bào u nguyên bào thần kinh chuột nhắt trong 7 ngày, và đo lượng protein PrPSC
hiện diện. Kháng thể mạnh nhất, D18, ngăn chặn sự phân hủy PrPC
thành PrPSC và làm sạch lượng PrPSC sẵn có theo kiểu phụ
thuộc liều lượng. Bỏ D18 sau 2 tuần điều trị, vẫn không thấy PrPSC
trong canh cấy được 4 tuần nữa. Người ta cho rằng kháng thể gắn với các phân tử
PrPC trên bề mặt tế bào đă ngăn cản cơ chất của PrPSC hoặc
các đồng yếu tố tham gia vào sự biến đổi PrPC thành PrPSC.
Kết quả này đem lại hy vọng cho việc điều trị bệnh. Tuy nhiên, điều trị này có
một nhược điểm là kháng thể có thời gian bán hủy ngắn (đối với D18 là 28 giờ) và
những trục trặc trong việc vận chuyển qua hàng rào máu-năo.
Quinacrin đă được dùng trên người hơn 60 năm nay để điều
trị sốt rét và có thể dùng đường uống với liều cao hàng ngày. C̣n chlorpromazin
tuy không mạnh bằng quinacrin in vitro nhưng là một thuốc thay thế tốt cho
quinacrin v́ dễ dàng đi qua hàng rào máu-năo. Hơn nữa loại thuốc có cấu trúc ba
ṿng này đă được biết rơ về dược động học, độc tính và tính an toàn khi được
dùng trên lâm sàng trong các chỉ định về tâm thần. Theo Korth: "trước mắt
chlorpromazin có thể là ứng viên để điều trị bệnh CJD. Cho dù thử nghiệm lâm
sàng không đem lại kết quả tích cực th́ cũng đă có được những thuốc kháng-prion
mới." Nhưng theo ư kiến của Bruce Miller, một tác giả trong nhóm nghiên cứu
trên, th́ "thử nghiệm in vitro mới chỉ là giai đoạn ban đầu và khi chưa chứng
minh được hiệu quả trên lâm sàng th́ không nên đem lại những hy vọng giả tạo cho
BN."?????
? Erythropoietin có thể dùng điều trị đột quỵ
Trên tạp chí Nature, hai tác giả Mỹ cho biết đă khám phá tác
động của erythropoietin như là một chất bảo vệ mô thần kinh. Murat Digicaylioglu
và Stuart Lipton (Burnham Institute, La Jolla, CA, Hoa Kỳ) báo cáo rằng bằng
cách hoạt hóa yếu tố phiên mă NF*B, erythropoietin có thể giảm thiểu tổn thương
thần kinh sau thiếu máu cục bộ. Lipton nói rằng "erythropoietin đă được dùng
rộng răi để trị thiếu máu, do vậy có thể dùng nó để trị đột quỵ một cách an
toàn."
Erythropoietin là một cytokin của thận có tác dụng điều ḥa
sự tạo máu, nhưng chất này c̣n được sản xuất ở năo sau một stress ôxy-hóa đáp
ứng với yếu tố-1 do thiếu ôxy gây ra. Hai tác giả nay đă t́m hiểu những biến cố
phân tử xảy ra sau sự sản sinh erythropoietin. Họ báo cáo rằng sự hoạt hóa thụ
thể erythropoietin làm trung gian hoạt hóa kinase JAK2. Sau đó chất này
phosphoryl-hóa chất ức chế của NF*B, giúp NF*B được chuyển vị vào trong nhân, ở
đây nó chỉ huy phiên mă một số gen bảo vệ thần kinh (Nature 2001; 412: 641-47).
Costantino Iadecola (Đại học Minnesota, Minnea-polis, MN, Hoa
Kỳ) nhận xét: "Bài báo này đă cho thấy mối liên quan trực tiếp giữa tổn thương
ôxy-hóa, erythopoietin và hoạt động phiên mă trong sự bảo vệ thần kinh. Trước
đây, thầy thuốc lâm sàng thường không mặn mà với các chất bảo vệ thần kinh v́
nhiều nghiên cứu lâm sàng dùng phương pháp này để điều trị đột quỵ nhưng thất
bại. Một phần là do xu hướng đánh đồng mọi trường hợp đột quỵ và dùng cùng một
"cửa sổ" thời gian trị liệu như nhau cho mọi BN. Nhưng vào những thời điểm khác
nhau sau đột quỵ, có những cơ chế khác nhau can dự vào, v́ thế chúng ta thật sự
cần giải quyết vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau và điều chỉnh trị liệu cho phù
hợp, ví dụ dùng erythropoietin, cho từng BN cụ thể."
Theo Lancet. 11/8/2001.
Thuốc ức chế chọn lọc COX-2 được khuyến nghị dùng điều
trị viêm khớp
Viện NICE (National Institute of Clinical Excellence, Vương
quốc Anh) vùa khuyến nghị nên dùng bốn thuốc ức chế chọn lọc COX-2: meloxicam
(MOBIC?), etodolac, celecocib và rofecoxib thay cho các thuốc kháng
viêm không steroid (KVKS) cổ điển để điều trị cho những BN viêm xương- khớp
(thoái hóa khớp) và viêm khớp dạng thấp, nhất là những BN cần dùng liều tối đa
KVKS lâu dài hoặc BN trên 65 tuổi. Khuyến nghị trên được đưa ra sau khi NICE đă
xem xét hiệu lực, độ an toàn và khả năng dung nạp trên đường tiêu hóa của các
thuốc ức chế chọn lọc COX-2 nói trên qua 53 thử nghiệm đối chiếu ngẫu nhiên với
giả dược và các thuốc KVKS cổ điển (naproxen, diclofenac, piroxicam, ibuprofen,
tenoxicam, nabumetone, nimesulide và aspirin) trên 61.731 BN viêm khớp dạng thấp
và viêm xương khớp. Theo kết luận của NICE, các ức chế chọn lọc COX-2 meloxicam
(MOBIC?), etodolac, celecocib và rofecoxib có hiệu quả tương đương
các thuốc KVKS cổ điển nhưng lại ít gây tác dụng phụ hơn.? Ngoài ra không có sự
khác biệt về hiệu quả và tác dụng phụ trên đường tiêu hoá
giữa những thuốc ức chế COX-2 này.
Tất cả các thuốc KVKS đều có thể gây một số triệu chứng ở
đường tiêu hóa, từ các tác dụng phụ khó chịu đến tai biến gây tử vong, và có thể
giảm được nhiều tác dụng phụ trong số này khi dùng thuốc ức chọn lọc COX-2.
Meloxicam (MOBIC?) là một trong những thuốc ức chế
chọn lọc COX-2 đầu tiên ra đời để giúp cho BN viêm khớp. Meloxicam ít ảnh hưởng
đến COX-1 và có hiệu quả đáng tin cậy, ít tác dụng phụ, để có thể xem là một
trong những phương án điều trị an toàn và có hiệu quả kinh tế nhất hiện nay đối
với bệnh viêm khớp, một bệnh đang ảnh hưởng hàng triệu người trên thế giới. BS
Andreas Barner, thành viên của ban giám đốc điều hành công ty Boehringer
Ingelheim, đă phát biểu: "Chúng tôi rất vui khi biết rằng vị trí này nay đă được
khẳng định với sự đánh giá độc lập của NICE."
MOBIC? là thuốc ức chế chọn lọc COX-2 do công ty
Boehringer Ingelheim nghiên cứu và sản xuất, và được chỉ định để điều trị triệu
chứng của viêm xương-khớp gây đau, viêm khớp dạng thấp và viêm dính đốt sống
(chỉ định có thể thay đổi tùy từng nước) và đă được hơn 45 triệu BN ở hơn 100
nước sử dụng. Một hội nghị đă được tổ chức vào tháng 7/2001, với sự tham dự của
hơn 8000 bác sĩ lâm sàng, để bàn về những ưu điểm trong việc điều trị viêm khớp
bằng thuốc ức chế chọn lọc COX-2 (chi tiết về hội nghị chuyên đề có thể xem tại www.mcox.tv.).
Chương tŕnh viện trợ Viramune?
Theo tinh thần hội nghị "Chiến lược toàn cầu Pḥng chống lây
truyển HIV từ mẹ sang con" tại Kampala (Uganda), ngày 11/9 vừa qua, một đại diện
của công ty dược phẩm Boehringer Ingelheim đă thông báo rằng hiện có 12 nước
tham gia vào Chương tŕnh Viện trợ Viramune? để pḥng chống? lây
truyền HIV-1 từ mẹ sang con ở các nước đang phát triển.
Trước sự phá hoại của đại dịch AIDS tại các nước đang phát
triển, tháng 7/2000 Boehringer Ingelheim đă cam kết cung cấp thuốc chống AIDS
của công ty, Viramune? (nevirapin) miễn phí trong ṿng 5 năm cho các
nước đang phát triển để dùng trong việc dự pḥng lây truyền HIV từ mẹ sang con
trong khi chuyển dạ và sinh đẻ. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính rằng từ khi
bắt đầu có đại địch AIDS, hơn 5 triệu trẻ em trên thế giới đă bị nhiễm HIV khi
sinh, đa số là ở châu Phi hạ- Sahara. Viramune? dùng để đề pḥng lây
truyền từ mẹ sang con đă được đưa vào danh mục thuốc thiết yếu của WHO.
BS John Weeker, người phụ trách Chương tŕnh Viện trợ
Viramune của công ty Boehringer Ingelheim, nói rằng: "Chúng tôi rất vui khi ngày
càng có nhiều nước, nhiều tổ chức phi chính phủ và nhiều bệnh viện liên hệ với
chúng tôi nhằm hợp tác pḥng chống AIDS cho trẻ em, mặc dù chương tŕnh khởi sự
tương đối chậm. Sở dĩ như vậy là cần phải xây dựng một cơ sơ hạ tầng thích hợp
để xét nghiệm HIV cho thai phụ, tham vấn cho họ về kết quả, dùng thuốc một lần
cho người mẹ và cho trẻ mới sinh, theo dơi sự phát triển về sau và đưa các bà mẹ
bị nhiễm HIV vào một chương tŕnh điều trị chống AIDS dài hạn."
Hiện tại, ở các nước Congo Brazzaville, Ghana, Guyana, Kenya,
Namibia, Nigeria, Rwanda, Senegal, Sierra Leon, Uganda, Zambia và Zimbabwe có
tất cả 19 dự án tham gia vào chương tŕnh. Số lượng thuốc được đặt hàng miễn phí
trong những dự án này được ước tính điều trị cho 49800 cặp mẹ-con. Có bảy chương
tŕnh tại 6 nước khác đang được xem xét.
Đợt cung cấp Viramune? đầu tiên để dự pḥng lây
truyền từ? mẹ sang con là ở Cộng ḥa Congo (Brazzaville) vào tháng 10/2000. Công
ty Boehringer Ingelheim đă hợp đồng với hăng Axios để cung cấp sự giúp đỡ kỹ
thuật để hỗ trợ việc thực hiện chương tŕnh viện trợ này, kể cả qui tŕnh mà các
chính phủ, tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện, và các tổ chức cung cấp dịch
vụ chăm sóc sức khỏe ở các nước đang phát triển quan tâm có thể áp dụng để tham
gia chương tŕnh này. Axios đă mở một website
(www.Viramune-donation-program.org) để tạo thuận lợi cho đăng kư tham gia chương
tŕnh và cung cấp những thông tin về hiện trạng của chương tŕnh.????
Thăm ḍ dư luận tại Mỹ sau thảm
họa 11/9
Một cuộc thăm ḍ dư luận do Pew Research Center tổ chức cho
biết cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9/2001 đă đoàn kết người Mỹ cả nước ủng hộ
cho việc giáng trả bằng quân sự. Tuy nhiên, nó cũng làm cho nhiều người Mỹ rơi
vào t́nh trạng trầm cảm, quẩn trí và mất ngủ.?
Có 70% trả lời rằng họ cảm thấy buồn chán, gần một nửa cho biết có rối loạn
trong việc tập trung ư nghĩ và một phần ba có rối loạn giấc ngủ. Tỉ lệ phụ nữ
cảm thấy trầm cảm (khoảng 80%) nhiều hơn nam giới (dưới 2/3), phụ nữ cũng bị mất
ngủ nhiều hơn nam giới. Những ngưới có con thường trầm cảm hơn là người không có
con. Người sống ở các thành phố lớn ở vùng duyên hải đông và tây nước Mỹ trả lời
trầm cảm nhiều hơn so với người Mỹ ở các vùng khác.
Theo Andrew Kohuy, Giám đốc Pew Research Center, "rơ ràng
người ta đang hoảng loạn với những ǵ đă xảy ra. Điều đó giải thích v́ sao người
ta có thái độ kiên quyết hơn để ngăn ngừa không để thảm họa tiếp tục xảy ra." Có
4/5 người trả lời ủng hộ việc giáng trả bằng quân sự và tỉ lệ này chỉ tụt giảm
chút ít khi được nhắc nhở rằng việc trả đũa có thể gây những tổn thất nặng nề về
mặt quân sự. Cuộc thăm ḍ này được thực hiện trên 1200 người trưởng thành từ
ngày 13 đến 17/9, với mức sai số cộng trừ 3,5%.
Theo MSN Health News (Internet) 19/9/2001?????
?
Website sức khỏe toàn cầu
Về mặt sức khỏe, các quốc gia trên thế giới có sự lệ thuộc
lẫn nhau. Bệnh ḅ điên, bệnh siêu vi sông Nile, và dịch Ebola khởi nguồn từ
những nước xa xôi trên địa cầu có thể tác động - nhiều khi rất tinh tế - đến
nước khác. Gánh nặng y tế ở các nước đang phát triển làm giảm sức sản xuất và
tiềm năng kinh tế của họ. Chính v́ vậy, một website mới của Mỹ đă được mở ra.
Với website này, mọi người - kể cả các nhà hoạch định chính sách y tế - có thể
thu thập nhiều thông tin về sức khỏe toàn cầu, không phải là khái niệm sức khỏe
quốc tế trong đó thế giới bị chia cắt thành từng quốc gia, mà phải xem xét vấn
đề sức khỏe và giải pháp của nó dưới góc độ toàn cầu. Địa chỉ truy cập:
http://www.globalhealth.gov/
CÁC YẾU TỐ DỰ BÁO TÂM LƯ XĂ HỘI CỦA CAO HUYẾT ÁP Ở ĐÀN
ÔNG VÀ PHỤ NỮ
Các yếu tố gây đè nén về mặt tâm lư xă hội đă được chứng minh
có tính dự báo cho bệnh cao huyết áp qua nhiều khảo cứu thuần tập; tuy nhiên các
mô thức có tính quan trọng, sự khác biệt về giới tính và tương tác với các yếu
tố nguy cơ chuẩn chưa được đặc trưng hóa đầy đủ.
Trong số 2357 người lớn thuộc một dân số mẫu ở quận Alamenda,
California, cho đến năm 1974 vẫn chưa bị cao huyết áp. Nhưng vào năm 1994 đă có
637 người báo cáo đă từng sử dụng thuốc hạ huyết áp (27,9% đàn ông và 26,3% phụ
nữ). Các tác giả đă khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố tâm lư - xă hội, hành vi
và xă hội - dân số trên tỉ lệ bệnh mới cao huyết áp được điều trị mới, bằng
phương pháp hồi qui logistic đa biến số.
Kết quả: T́nh trạng giáo dục thấp kém, người Mỹ gốc
Phi Châu, ít thành công trong t́m việc làm, nỗi lo việc làm không ổn định; cảm
giác làm việc chưa thật tốt lắm, ám ảnh sợ xă hội và các triệu chứng trầm cảm,
mỗi yếu tố đều kết hợp (đă hiệu chỉnh theo tuổi) có ư nghĩa (p>0,05) với tỉ lệ
mắc mới cao huyết áp. Những mối kết hợp này bị yếu đi khi được hiệu chỉnh với
chỉ số khối cơ thể (BMI), t́nh trạng hút thuốc, uống rượu, hoạt động thể lực
trong thời gian nhàn rỗi, đặc biệt là các sự kết hợp với rối loạn nhân cách
chống đối xă hội và trầm cảm chỉ có ở phụ nữ mà không có ở đàn ông. Trong mô
h́nh đa biến, t́nh trạng việc làm bấp bênh (tỉ số chênh 1,6), thất nghiệp (OR
2,7) và thành quả việc làm tự cho là thấp (OR 2,1) là các yếu tố dự báo cao
huyết áp độc lập ở đàn ông, trái lại công việc có vị thế thấp kém (OR 1,3) là
yếu tố dự báo cao huyết áp độc lập ở phụ nữ.
Kết luận: Trong dân số chung, địa vị nghề nghiệp và
thành quả công việc thấp kém, mối đe dọa hoặc thực tế đă thất nghiệp làm gia
tăng khả năng thật sự phát triển cao huyết áp; đặc biệt trong nam giới, độc lập
với các yếu tố nguy cơ về dân số học và hành vi. Sự u buồn tâm lư và ám ảnh sợ
xă hội cũng có thể làm tăng số mắc mối cao huyết áp, đặc biệt ở phụ nữ, chủ yếu
qua sự kết hợp với các hành vi nguy cơ về sức khỏe.
Theo Susan Levenstein et al. Arch
Intern Med 2001;161;1341-6