Ngày 30/3/1993, Chủ tịch Quốc hội nước ta đă ban hành Pháp
lệnh hành nghề y dược tư nhân. Sau đó ngày 29/01/1994, Thủ tướng Chính phủ ban
hành Nghị định số 8/CP, cụ thể hóa một số điều trong Pháp lệnh. Kèm theo, các
thông tư số 7, 8 và 9 ngày 30/4/1994 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện hai văn bản
trên trong 3 lĩnh vực y, dược và y-dược cổ truyền dân tộc.
Liền sau khi có Pháp lệnh, cán bộ y dược hết sức sức hoan
nghênh và thể hiện sự đồng t́nh cao, v́ việc thực hiện có tác dụng đưa việc hành
nghề tư nhân vào nề nếp, tăng cường trật tự, nâng cao trạng thái văn minh trong
lĩnh vực này. Đồng thời, qua 8 năm thực hiện, theo sự phản ánh của các cơ quan
quản lư cũng như các cá nhân và tổ chức hành nghề, nhiều điều bất cập đă được
ghi nhận.
Dưới sự chỉ đạo của Bộ Y tế, một Ban Soạn thảo đă được giao
nhiệm vụ nghiên cứu, khảo sát, rút kinh nghiệm về nội dung Pháp lệnh cũ và dự
thảo một Pháp lệnh mới. Bản dự thảo lần thứ 6 được gửi đến Tổng Hội Y Dược học
để góp ư kiến, đúng theo chức năng tham vấn của một tổ chức xă hội nghề nghiệp.
Sau đây là một số nhận thức đă được đem ra trao đổi tại cuộc
họp Ban Thường vụ Tổng hội vào trung tuần tháng 10 vừa qua.
MẤY ĐIỂM VỀ NGUYÊN TẮC
1/ Pháp lệnh là một tài liệu cơ bản dùng thay cho Luật khi
Quốc Hội chưa có điều kiện soạn thảo Luật. V́ vậy, tuy chưa có tầm cỡ của Luật,
nhưng Pháp lệnh vẫn có giá trị điều chỉnh toàn bộ vấn đề, do đó Pháp lệnh phải
nêu cho được những nguyên tắc chính để Chính phủ có cơ sở ban hành những Nghị
định thực hiện cần thiết. Và căn cứ vào hai văn kiện này (Pháp lệnh, Nghị định),
Bộ chuyên trách sẽ có những Thông tư hướng dẫn càng chi tiết càng tốt.
Trong quá tŕnh thi hành Pháp lệnh 1993, có những ghi nhận
là, trong bối cảnh lúc bấy giờ, nhiều vấn đề chưa thể hiện ra hoặc chưa quan
niệm được hết, nên nội dung Pháp lệnh khó đầy đủ, nhất là t́nh h́nh tiếp tục
phát triển, mà lúc soạn thảo không dự kiến được hết. Bây giờ cần phải bổ sung.
Nhưng tiếp theo đó, nếu có nghị định chính và các thông tư được soạn thảo để ban
hành một lúc, th́ các văn bản mới đạt được tính nhất quán từ đầu đến đuôi, từ
trên xuống dưới, từ nguyên tắc đến chi tiết, tránh được t́nh trạng có điều không
thống nhất nhau, thậm chí trái với nhau giữa các văn bản, như vẫn thường xảy ra.
2/ Việc ban hành Pháp lệnh hành nghề ngoài công lập là yêu
cầu rất bức xúc, do Pháp lệnh 1993, liền sau khi được ban hành, đă phát huy ngay
tác dụng, chủ yếu là đưa việc hành nghề ngoài công lập vào nề nếp; mặc dù có
những điều c̣n bất cập cũng không sao, v́ sẽ khắc phục dần, hoặc sẽ có lúc sửa
đổi và bổ sung như hiện đang được xúc tiến.
Tuy nhiên, một điều cần phải xác định ngay từ đầu là trong
hàng trăm nghề trong xă hội, tại sao nghề y dược (cũng như năm ba nghề khác) có
yêu cầu đặc biệt là phải được quản lư theo những nguyên tắc riêng, quy định bằng
pháp luật, nên phải có một Luật (hoặc một Pháp lệnh trong khi chưa thể có luật)
để chỉ đạo và điều chỉnh.
Theo kinh nghiệm nhiều thế kỷ qua của nhiều nước trên thế
giới, ư nghĩa cơ bản là mối quan hệ khắn khít giữa nghề nghiệp với đối tượng
phục vụ, từ đó phải có tŕnh độ ngày càng cao (xác định bằng một bằng cấp) và có
những điều ràng buộc (thể hiện bằng qui chế càng chặt chẽ càng tốt). Huống chi
đối tượng của nghề y dược là con người, cần phải được đảm bảo an toàn ở mức cao
nhất.
Do việc hành nghề y dược phải được quản lư chặt chẽ, nên
ngoài tác dụng quản lư Nhà nước là yếu tố quyết định, nếu kèm theo có sự tự quản
của những người hành nghề xem như một yếu tố bổ sung th́ vệc hành nghề sẽ đưa
đến kết quả tích cực; điều này đă được thực hiện ở hầu hết các nước, nhất là ở
các nước phát triển.
Nghề luật sư cũng có những tính chất tương tự. Ở nước ta,
ngành luật đă có Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987, và tháng 7/2001 vừa qua đă
có Pháp lệnh mới quy định tổ chức luật sư và hành nghề luật sư, có thể xem là
một tiền lệ và một kinh nghiệm để ngành y dược tham khảo. Trong Pháp lệnh luật
sư, có ghi trong chương "Những quy định chung":
"Điều 4: Tổ chức xă hội nghề nghiệp của luật sư được thành
lập để đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các luật sư, giám sát việc
tuân thủ theo pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư và tham gia
việc quản lư hành nghề luật sư theo quy định của Pháp lệnh này".
"Điều 5: Quản lư hành nghề luật sư được thực hiện theo nguyên
tắc kết hợp quản lư Nhà nước về hành nghề luật sư với phát huy vai tṛ tự quản
của tổ chức xă hội - nghề nghiệp của luật sư, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật và
qui tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư trong hành nghề".
Cho nên việc người hành nghề tham gia xă hội nghề nghiệp là
một nghĩa vụ.
3/ Y tế, là từ đă quen dùng để chỉ ngành bảo vệ sức khỏe.
Thực tế, trong ngành bảo vệ sức khỏe có nhiều nghề, tuy gắn bó với nhau, mà khác
nhau, Theo tập quán thế giới mà ở nước ta cũng vậy, có các nghề Y, Răng hàm mặt,
Dược, Nữ Hộ sinh, Vật lư trị liệu, Trang thiết bị y tế, có những tính chất
chung, nhưng mỗi nghề có những đặc điểm riêng cần phải được quan tâm đúng mức
(một ngành, nhiều nghề).
Đặc biệt, về mặt hoạt động, mỗi nghề có những loại h́nh khác
nhau. Việt hành nghề của Y, dù là một cá thể hay một đơn vị, dù đơn giản hay
phức tạp, đều không thể xem là kinh doanh, lấy doanh số và mức lăi làm trọng.
Sức khỏe không phải là hàng hóa để mua bán. Về dược và trang thiết bị y tế,
trong sản xuất và phân phối thực chất là kinh doanh, nhưng bị ràng buộc bởi
những điều kiện của qui chế đạo đức và nghĩa vụ, mà không phải nghề nào cũng có.
4/ Nước nào cũng vậy, trong việc hành nghề y dược, không bao
giờ áp dụng những điều qui định giống nhau giữa người trong nước và người ngoài
nước, trừ trường hợp giữa hai nước có những hiệp ước thỏa thuận với nhau về các
vấn đề cụ thể trên tinh thần b́nh đẳng. V́ vậy, một luật (hay pháp lệnh) về hành
nghề đều có một chương riêng cho người ngoại quốc. Trong hoàn cảnh chưa chuẩn bị
được th́ ghi như ở điều 43 của Pháp lệnh luật sư: "Việc hành nghề của luật sư
nước ngoài tại Việt Nam do Chính phủ qui định".
5/ Từ? khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, việc hành
nghề ngoài bộ máy chuyên môn của Nhà nước (gọi là công lập) được cho phép, nên
hai vế công lập và ngoài công lập (trước đây được gọi là công và tư) không c̣n
đối kháng nữa, mà hoạt động song song như hai người bạn đồng hành, cùng một mục
tiêu là bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân, dưới sự quản lư thống nhất và
đồng đẳng của Chính phủ, cùng phát triển nhịp nhàng, chỉ khác ở nguồn đài thọ
(nguồn đầu tư) và chế độ thù lao. V́ vậy, khu vực ngoài công lập hoàn toàn không
có sự hạn chế mà c̣n được chú ư khuyến khích, không có sự phân biệt đối xử, mà
cùng một lănh đạo, cùng một phương hướng chiến lược, cùng theo một đường lối
chuyên môn, cùng nghĩa vụ và đạo đức nghề nghiệp, cùng hưởng các quyền lợi tinh
thần, được khen thưởng và kỷ luật như nhau.
Vả chăng, theo tinh thần này, một cán bộ có thể hoạt động
trong cả hai khu vực công lập và ngoài công lập tùy sức khỏe và tùy việc phân bố
ngày giờ cho hợp lư.
MẤY ĐỀ NGHỊ
Trên cơ sở những nhận thức nói trên, xin đươc nêu ra mấy đề
nghị cụ thể:
1/ Trong bố cục của Pháp lệnh hành nghề, v́ thực tế ngành y
tế có nhiều nghề, nên sắp xếp lại mỗi nghề trong một chương riêng, trước mắt là
cho 4 nghề y, RHM, dược, trang thiết bị y tế. Ngoài những vấn đề chung, mỗi
chương riêng sẽ đề cập đến các vân đề liên quan đến đặc điểm của từng nghề;
2/ Như ở Pháp lệnh Luật sư, trong Pháp lệnh hành nghề y dược
ngoài công lập, nên ghi rơ trong chương đầu "Những qui định chung" một điểm đề
cập đến nguyên tắc quản lư: Nhà nước thống nhất quản lư kết hợp với vai tṛ tự
quản của tổ chức xă hội nghề nghiệp của bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư y tế.
Đồng thời Pháp lệnh nên có một chương riêng về tổ chức xă hội
nghề nghiệp của bác sĩ, dược sĩ để có thể đề cập đến mọi vấn đề có liên quan.
Trong trường hợp này, nên ghi rơ một trong những nghĩa vụ của người hành nghề là
tham gia tổ chức xă hội nghề nghiệp.
3/ Y là nghề cao quí, chứ không phải kinh doanh lấy lời. V́
vậy, không đặt vấn đề cán bộ hành nghề phải đăng kư kinh doanh, không xem các cơ
sở khám chữa bệnh là những doanh nghiệp, v́ vậy không nên đặt sự thành lập và
hoạt động của các cơ sở khám chữa bệnh trong phạm vi điều hành của Luật Doanh
nghiệp.
Thay vào đó, dùng các từ đăng kư hành nghề, hoạt động hành
nghề. Gọi Pháp lệnh hành nghề ngoài công lập thích hợp hơn là hành nghề tư nhân,
v́ ngoài công lập ra, ở hoàn cảnh nước ta, có nhiều dạng hành nghề khác nhau,
không chỉ có tư nhân thuần túy.
4/ Giữ thế b́nh đẳng với các nước, không chấp nhận người nước
ngoài tự do đi vào hành nghề ở nước ta như công dân Việt Nam, mà trong việc hành
nghề, đối xử nhân viên y tế nước ngoài y như họ đối xử với nhân viên y tế nước
ta theo nguyên tắc tương đương.
Do đó có một chương riêng cho ngoại kiều. C̣n người Việt Nam
định cư ở nước ngoài, nếu không thuộc quốc tịch Việt Nam th́ xem như ngoại kiều,
tuy có thể có một số điều kiện ưu tiên.
5/ Pháp lệnh hành nghề ngoài công lập là một yêu cầu rất bức
xúc, phải được bổ sung và ban hành càng sớm càng tốt. Nhưng điều quan trọng là
có được một nội dung thích hợp, v́ vậy cần được chuẩn bị kỹ. Nếu cần phải chậm
lại để đảm bảo làm tốt hơn th́ cũng chấp nhận, v́ dù sao cũng đă chậm rồi. V́
vậy xin đề? nghị có thêm ngày giờ để lấy ư kiến rộng răi hơn, dù phải kéo dài
thêm năm bảy tháng cũng được.
6/ Trừ những điểm góp ư kiến lặt vặt, các vấn đề lớn, cũng
như vấn đề nguyên tắc đă góp ư kiến, nếu có điều ǵ mà cơ quan phụ trách thấy
không chấp nhận được th́ xin cho được trực tiếp trao đổi để đi đến chỗ thống
nhất ư kiến.
Đồng thời, nên phát huy cách làm việc rất đáng hoan nghênh,
là khi cơ quan Nhà nước chuẩn bị ban hành những văn bản liên quan đến bản thân
hội viên của Tổng Hội, cần thu thập ư kiến rộng răi.
Nội dung Pháp lệnh hành nghề y dược ngoài công lập rất quan
trọng, v́ nếu không nghiên cứu kỹ, có điều ǵ không phù hợp, sẽ ảnh hưởng nhiều
năm đến hoạt động của cán bộ y dược, và của bản thân ngành y dược.