Pháp lệnh hành nghề Y dược ngoài công lập đáp ứng sự mong
mỏi của các thầy thuốc Việt Nam đang cần, có một văn kiện hoàn chỉnh làm cơ sở
vững chắc cho hoạt động hàng ngày. Trong bức thư này, tôi mạn phép tŕnh bày cặn
kẽ một số vấn đề rất mong được sự lưu tâm của các vị lănh đạo ngành.
I -TÍNH CHẤT CỦA NGÀNH Y:
Bản dự thảo chưa làm toát ra được hai tính chất cơ bản của
ngành Y là cao quư và tự do.
1/ Tính cao quư tức nhân bản và nhân đạo:
Đă cao quư, th́ không thể là kinh doanh, lấy lợi nhuận làm
mục tiêu tối hậu. Sử dụng "luật kinh doanh" vào cơ sở y tế tư phủ nhận tính chất
này.
Kiến nghị:
1. Hệ thống hóa và công khai hóa viện phí và thù lao cho mọi
hoạt động của thầy thuốc, từ nhỏ tới lớn, và đem áp dụng bắt buộc trong cả nước.
Làm như vậy c̣n xóa bỏ được tiêu cực, và thể hiện sự công bằng trong bảo vệ sức
khỏe.
2. Thành lập mức thang thù lao hợp lư theo chuyên khoa sâu,
học hàm, học vị
Để khuyến khích sự đi lên trong nghề nghiệp.
2/ Tính tự do với tinh thần trách nhiệm cao:
1. Tự do trong chẩn đoán điều trị, không bị áp lực nào chi
phối.
2. Tự do lựa chọn nơi hành nghề, không lệ thuộc vàp hộ khẩu.
3. Tự do hoạt động nghề nghiệp ngoài giờ hành chánh
nếu là công chức, mà không phải xin phép thủ trưởng cơ quan.
II - MỘT SỐ QUYỀN LỢI CƠ BẢN CỦA THẦY THUỐC:
1/ Quyền hành nghề một khi có bằng bác sĩ:
Để xóa bỏ điều kiện phải có từ 2 đến 5 năm tập sự tại các sở
y tế sau khi tốt nghiệp, tôi kiến nghị trả lại cho bằng bác sĩ giá trị thật sự
của nó bằng cách:
- Kéo dài thời gian đào tạo bác sĩ là 8 - 9 năm với 2 năm nội
trú bắt buộc, và ra trường phải tŕnh luận án, như đa số các nước đang áp dụng.
Mục tiêu:
a) Bằng bác sĩ Việt Nam có giá trị tương đương với MD các
nước khác.
b) Một khi tốt nghiệp sẽ có đầy đủ khả năng hành nghề.
c) Xóa bỏ được hiện tượng bất hợp lư: bác sĩ Việt Nam mà thất
nghiệp hoặc bỏ nghề v́ không t́m được nơi thực tập do hết biên chế.
Ghi chú: Chứng chỉ hành nghề, nếu có, chỉ áp dụng cho
các bác sĩ trẻ. Những thầy thuốc đă có 20 - 30 năm thâm niên hành nghề mà phải
dự kỳ thi khảo sát "h́nh thức" để cấp chứng chỉ là không hợp lư, và phần náo xâm
phạm tới danh dự của họ. Đây là hành chánh hóa nghề Y.
2/ Quyền được bảo vệ trong lúc hành nghề:
Nghề Y vinh ít, cực nhiều; không có thầy thuốc nào? dám tự
hào là không hề sai xót. Khi bị xử lư lại không có cơ sở vững chắc để thể hiện
sự công bằng.
Danh từ "Đạo đức nghề nghiệp" quá mơ hồ. Do đó một bản "Luật
Nghĩa Vụ " là một nhu cầu cấp bách. Nó là cơ sở cho hoạt động của thầy thuốc và
cho sự xét xử công minh.
Đồng thời, nếu sớm thành lập tại các cơ sở y tế Hội Đồng Y
Đức bên cạnh Hội Đồng Khoa Học.
III - MỘT SỐ NHIỆM VỤ CỦA THẦY THUỐC TƯ, VAI TR̉ CỦA CÁC HỘI Y HỌC.
?Thầy thuốc công và tư đều có một số nhiệm vụ như nhau, trên
cương vị một người bảo vệ sức khỏe cho dân và một nhà khoa học như:
1. Tham gia vào mạng lưới địa phương, cụ thể như lănh phiên
trực trong những ngày nghỉ.
2. Cập nhật hóa kiến thức và nâng cao tay nghề qua tham dự
các: khóa bồi dưỡng chuyên môn (bắt buộc) và các hội nghị khoa học trong và
ngoài nước (khuyến khích).
3. Tham gia vào các? Hội Y Học với các mục tiêu:
a) Được bảo vệ khi có sự việc,
b) Được bồi dưỡng liên tục và công việc này sẽ do các Hội
Chuyên Khoa đảm nhận,
c) Được giới thiệu đi tham dự các hội nghị khoa học ngoài
nước.
Như vậy, các? Hội Y Học có 3 nhiệm vụ:
a) Thúc đẩy sự phát triển khoa học,
b) Quản lư hội viên về mặt đạo đức nghề nghiệp,
c) Giúp đỡ hội viên trong trường hợp khó khăn về nghiệp vụ.
IV - BẢO VỆ CHỦ QUYỀN DÂN TỘC VÀ QUYỀN LỢI THẦY THUỐC VIỆT NAM:
Chính sách mở cửa đón nhận các cơ sở y tế tư với vốn đầu tư
hoàn toàn từ nước ngoài là đúng đắn. Nhưng với điều kiện:
1. Bằng cấp của các bác sĩ ngoại quốc không phải đương nhiên
được công nhận:
- Hoa Kỳ đ̣i hỏi phải qua kỳ sát hạch rất gắt gao.
- Thái Lan đ̣i hỏi thời gian tập sự 6 tháng, và sát hạch lại.
Kiến nghị:
Trong pháp lệnh hành nghề cần có nhóm điều khoản riêng cho
các cơ sở y tế ngoại quốc để giữ chủ quyền dân tộc và bênh vực quyền lợi của
thầy thuốc Việt Nam.
Không thể chấp nhận, một nước có hai chế độ: một chế độ ưu
đăi người nước ngoài. Điều kiện hành nghề cho thầy thuốc bản xứ th́ khắt khe,
c̣n cho người nước ngoài lại dễ dăi. Tương tự như về đào tạo Đại Học, Đại Học
Dân Lập do người Việt Nam xây dựng bị quản lư chặt chẽ qua một quy chế, Đại Học
tư nước ngoài hoàn toàn độc lập về mọi mặt: chương tŕnh đào tạo, điều hành,
phát triển, tổ chức, cụ thể là: không có chi bộ Đảng cơ sở, không có Công Đoàn,
đoàn Thanh Niên Cộng Sản, hội công nhân viên chức, không hạn chế tuổi tác ủy
viên Hội Đồng Quản Trị (ủy viên Hội Đồng Quản Trị Đại Học Dân Lập Việt Nam không
được quá 70 tuổi).
V - MỘT SỐ ĐỀ NGHỊ KHÁC:
Pháp lệnh Y Dược ngoài công lập nên đổi là Pháp lệnh hành
nghề Y Nha Dược ngoài công lập, v́ ngành Nha - theo truyền thống - có tính độc
lập riêng. Trong pháp lệnh, ngoài một số điều khoản chung, cần có các điều khoản
riêng thích hợp với tính chất của mỗi ngành: ?Y, Nha, Dược
2. Trong danh mục các ngành Y học: về Ngoại khoa, sẽ ghi các
ngành trong hệ Ngoại khoa (như trong hệ Nội khoa).
KẾT LUẬN
NHẬN ĐỊNH CHUNG
1. Bản dự thảo Pháp lệnh được soạn thảo trên tinh thần một
Thông tư, không phải một đạo luật - Dự thảo chỉ đề cập tới bổn phận của người
thầy thuốc, mà coi nhẹ những quyền chính đáng của họ.
2. Pháp lệnh mà thiếu " Luật Nghĩa Vụ" sẽ không có cơ sở để
kiểm tra một cách khách quan, công việc hành nghề Y tư nhân.
KIẾN NGHỊ SAU CÙNG
V́ ít ngày giờ nghiên cứu, từ khi nhận được văn bản đến lúc
phải đề đạt ư kiến, mà đây lại là một văn bản quan trọng liên quan trực tiếp tới
hàng vạn người hành nghề Y Nha Dược, cũng như gián tiếp tới toàn thể dân chúng,
nên tôi kiến nghị:
- Hoăn việc kết thúc thâu thập ư kiến.
- Dành thời gian để cuộc trao đổi ư kiến được sâu rộng hơn.
Ngày 9/11/2001, tại BV Nhi Đồng I tổ chức hội nghị "Hội
Nghị Sử Dụng Thuốc Hợp Lư Trong bệnh viện"
Theo BS Trần Tấn Trâm, Giám đốc BV Nhi đồng 1, thuốc trong BV
có tầm quan trọng rất lớn về mặt chăm sóc bệnh nhân, về mặt kinh tế và về mặt xă
hội. Thuốc chiếm một tỉ lệ từ 20% đến 60% của tổng kinh phí và là yếu tố chính
làm mất cán cân thu - chi.
Vấn đề ch́a khóa là làm thế nào trong tổng kinh phí BV phân
bổ chi phí thuốc cho hợp lư và sát thực tế theo hướng qui định tỉ lệ trần và từ
đó có chiến lược quản lư nghiêm túc sử dụng hợp lư thuốc. Hội đồng thuốc phải
làm việc khách quan, dựa vào Y học chứng cớ và thảo luận có định kỳ, nghiêm túc
nhằm có thay đổi sử dụng thích hợp với thực tế. Phải có thống kê sử dụng thuốc
mỗi 6 tháng để nắm bắt được các vấn đề về thuốc nhằm điều chỉnh kịp thời các
khoa hay cá nhân chưa thực hiện đúng qui định đề ra.
BV Nhi Đồng I đă thực hiện qui luật dưới 50%: Trong tổng kinh
phí chung, nhóm chuyên môn không quá 50%, trong nhóm chuyên môn thuốc không quá
50%, hao hụt về thuốc không quá 50%.
Về quản lư thuốc tại khoa dược, DS Lê Xuân Thân cho biết mặt
thuận lợi là thuốc được quản lư bằng chương tŕnh vi tính, ngoài ra Khoa Dược
luôn luôn được Ban Giám Đốc và Hội Đồng Thuốc hỗ trợ, theo sát và chỉ đạo trực
tiếp mọi lĩnh vực liên quan đến việc cung ứng - quản lư - cấp phát thuốc cũng
như các chiến lược về sử dụng thuốc đặc biệt là kháng sinh trong BV, nên công
tác quản lư thuốc tại Khoa Dược đă đạt được những thành quả tốt liên tục qua
nhiều năm. Tuy nhiên cũng c̣n một số khó khăn như: Do giá thành thuốc Việt Nam
tương đối thấp nên tỉ lệ quy ra tiền không cao. Đề nghị chỉ nên tính theo tỷ lệ
mặt hàng sử dụng. Thuốc cấp cứu tuy số lượng ít nhưng rất cần, chưa được cung
cấp như: Bleu de Methylene chích, muối EDTA trị ngộ độc ch́, Phenobarbital chích
tĩnh mạch. Đa số thuốc tim mạch đều phải mua ở thị trường tự do với giá cả không
ổn định và nguồn gốc không rơ ràng.
Tại khoa Khám Bệnh, BV Nhi Đồng I với nhiều biện pháp của BV
nhằm giảm việc sử dụng kháng sinh trong viêm hô hấp cấp, tuy nhiên kết quả vẫn
chưa được khả quan. Quản lư việc kê đơn thuốc để nhắc nhở bác sĩ cân nhắc kỹ
lưỡng trước khi kê đơn sẽ không có hiệu quả nếu bác sĩ chưa thấu cảm người bệnh
để thực thi chỉ thị số 09/2001 của Bộ trưởng Y Tế về tăng cường y đức và chất
lượng chăm sóc người bệnh: "Chỉ được kê đơn cho mua các thuốc theo chỉ định
chuyên môn phù hợp với điều kiện kinh tế của người bệnh.không gây tốn kém cho
người bệnh, đặc biệt là đối với người nghèo".
Qua hơn 4 năm thực hiện chánh sách dùng thuốc trong BV theo
phương châm "Hợp lư, an toàn và tiất kiệm" của chỉ thị 04 về thuốc của Bộ Y Tế ,
BV Nhi Đồng I đă có những thành công nhất định trong công tác quản lư thuốc
trong BV góp phần nâng cao chất lượng dùng thuốc, giảm sự gia tăng chi phí dùng
thuốc, chất lượng điều trị bệnh ngày càng tăng cao, ít tai biến khi dùng thuốc.
Thành công này là nhờ váo các chỉ thị đúng đắn và hợp lư của Bộ Y Tế, và sự áp
dụng một cách thích hợp các chỉ thị này vào quản lư thuốc trong BV, trong đó
việc giám sát và phản hồi sử dụng thuốc đóng vai tṛ qutr trong việc nâng cao
chất lượng dùng thuốc trong BV. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn c̣n một số tồn tại về
sử dụng thuốc như việc tiến hành các biện pháp nâng cao chất lượng chưa đồng bộ,
chưa sâu và chưa có tác dụng lâu dài lên việc thay đổi thái độ của người bác sĩ
trong việc ghi toa cho bệnh nhân. Đây là điều mà BV quyết tâm cải thiện và thực
hiện tốt để ngày càng nâng cao chất lượng quản lư thuốc trong BV nhắm tới mục
tiêu sử dụng thuốc an toàn, hợp lư và tiết kiệm theo đúng tinh thần của chỉ thị
04.
BS Lê Anh Bá