Viêm gan siêu vi B là một bệnh lưu hành
tại Việt Nam. Siêu vi viêm gan B (SVVGB) lây truyền từ mẹ sang trẻ sơ sinh hoặc
do tiếp xúc gần gủi từ thuở thơ ấu. Ứơc tính có khoảng 15-20% dân số Việt Nam
mang SVVGB. Bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn tính và có nhân đôi siêu vi thì có
nguy cơ rất cao mắc bệnh gan và có thể diễn tiến đến xơ gan hoặc ung thư gan.
Lamivudin là chất đồng đẵng nucleosid ức
chế sự sao chép siêu vi. Nhiều nghiên cứu trước đây đã chứng tỏ lamivudin làm
khống chế HBV DNA huyết thanh và bình thường hóa ALT ở bệnh nhân viêm gan siêu
vi B. Tuy nhiên, hiện nay chưa có dữ liệu về điều trị bằng ?lamivudin trên bệnh
nhân Việt Nam.
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá
hiệu quả và tính an toàn của lamivudin trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B.
Phương pháp và bệnh nhân
- Bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu khi
hội đủ những tiêu chí:
?
Tuổi từ 18 đến 70 tuổi (năm)
?
Có HBsAg(+) tối thiểu là 6 tháng trước khi nghiên cứu
?
Có nồng độ ALT hoặc AST lớn gấp 2 lần giới hạn trên
của trị số bình thường (GHTBT) trong 3 tháng trước.
?
Ngoài ra, bệnh nhân còn có HBeAg(+), hoặc nếu
HBeAg(-), HBV DNA được phát hiện dương tính trong huyết thanh.
- Những bệnh nhân được loại trừ
bao gồm: nghiện rượu, nhiễm viêm gan siêu vi C, hoặc HIV, bệnh gan mất bù (được
định nghĩa là nồng độ bilirubin ?>2,5 x GHTBT, thời gian prothrombin > 3 giây và
albumin huyết thanh <3g/dl), hoặc có bệnh sử cổ trướng, xuất huyết giãn tĩnh
mạch hoặc bệnh não do gan. Những bệnh nhân cũng loại khỏi nghiên cứu nếu sử dụng
những thuốc sau: thuốc điều biến miễn dịch, tác nhân gây độc tế bào, hoặc
corticosteroid trong 6 tháng trước.
- Ðiều trị bệnh nhân bằng lamivudin 100 mg
hoặc 150 mg, uống mỗi ngày một lần trong một năm. Ghi nhận những thông tin từ
lúc khởi đầu nghiên cứu và mỗi 3 tháng như sau:
?
Nồng độ ALT và AST huyết thanh
?
HBeAg và anti-HBe huyết thanh
?
HBV DNA huyết thanh
HBsAg được ghi nhận vào lúc khởi đầu
nghiên cứu và 6 tháng sau. Mỗi lần khám bệnh, đánh giá các tác dụng ngoại ý của
thuốc. ?
Kết quả
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9/1999
đến 4/2000. Tổng cộng có 30 bệnh nhân tham gia. Ðặc điểm ban đầu của bệnh nhân
được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1: Ðặc điểm bệnh nhân được điều trị bảng lamivudin
|
Tuổi
(năm)
|
28? 11
|
|
Phái
tính (nam/nữ)
|
20/10
|
|
HBeAg(+)
|
25
(83,3%)
|
|
HBeAg(-) và HBV DNA (+)
|
5
(16,7%)
|
|
ALT
(U/I)
|
157?76
|
|
AST
(U/I)
|
109?57
|
Trong số 25 bệnh nhân với HBeAg(+), sau điều trị một năm có 11 bệnh nhân (44%)
mất HBeAg và 9 bệnh nhân (36%) có anti-HBeAg(+) (Hình 1).
Trên 5 bệnh nhân với HBeAg(-) và HBV DNA
(+), sau 6 tháng điều trị bằng lamivudin đã không phát hiện được HBV DNA và duy
trì tình trạng này đến tháng thứ 12. Không có bệnh nhân được thấy HBeAg(-). Nồng
độ trung bình ALT trở lại bình thường vào tháng thứ ?6 và kéo dài đến tháng thứ
12 (Hình 2).
Bảng 2: Mất HBeAg liên quan đến nồng độ ALT trước điều trị
sau 1 năm dùng lamivudin
|
Nồng độ ALT khởi đầu nghiên cứu
|
Chuyển đổi huyết thanh HBeAg
|
|
> 2
x GHTBT
|
9/25
(36%)
|
|
2-5
x GHTBT
|
4/16
(25%)
|
|
> 5
x GHTBT
|
5/9
(56%)
|
Ðộ an toàn
Lamivudin được dung nạp tốt với liều 100
mg hoặc 150 mg uống một lần/ngày trong 1 năm. Một bệnh nhân bị nhức đầu và một
người khác bị tiêu chảy, nhưng không biến cố ngoại ý nghiêm trọng.
Bàn luận
Trong nghiên cứu này, điều trị bằng
lamivudin trong vòng một năm đã bình thường hóa nồng độ ALT trên 21 bệnh nhân
(77%). Tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh HBeAg là 36% trên bệnh nhân có nồng độ ALT
trước điều trị >5 lần giới hạn trên của trị số bình thường, tuy nhiên số lượng
bệnh nhân còn ít nên cần có mẫu nghiên cứu lớn hơn nữa mới có đánh giá chính
xác.
Dữ liệu nghiên cứu cho thấy có một số nhỏ
bệnh nhân không bị ảnh hưởng bởi lamivudin, nên cần nghiên cứu sâu hơn nữa về
nồng độ HBV DNA và có thể có đột biến kháng thuốc.
summary
Lamivudine in the treatment of chronic hepatitis B in
Vietnamese patients- A pilot study
The effect of lamivudine in Vietnamese
patients with chronic hepatitis B is unknown. We treated 30 adult patients with
lamivudine 100 mg or 150 mg orally once daily for I year. Of the 25 HBeAg(+)
patients, 11 lost their HBeAg and 9 of those became e-antibody positive (36%).
In all five HBeAg negative, HBV DNA in the serum became undetectable after 6
months. This was sustained at 12 months. There were no serios adverse events.
In a 1-year, lamivudine was very well
tolerated, effective in normalizing ALT levels in many patients, leading to
HBeAg seroconversion in 36% of patients whose ALT levels were > 2
?
ULN at the start of study.
Tài liệu tham khảo
1-
Santantonio T, Mazzola M, Pastore G. Lamivudine is
safe and effective in fulminant hepatitis B . J. Hepatol 1999; 30:551
2-
Lai CL, Liaw YF, Leung NWY, et al. Genotypic
resistance to lamivudine therapy for chronic hepatitis B infection:incidence,
kinetics of emergence, and correlation with disease parameters. Hepatology 1997;
26(4 Part.2):259A
3-
Andreone P, Lok A, Fiorino S, et al. One year
treatment of chronic hepatitis (CHB) with lamivudine: biochemical virological
and histological results. Hepatology 1999; 28(4 Pt.2):647A
4-
Bonino F, Rosina f, Rizzetto M, et al. Chronic
hepatitis in HbsAg carriers with serum HBV DNA and anti-HBe. Gastroenterology
1986; 90:1268-127
