Viêm khớp dạng thấp là một bệnh lư viêm hệ thống tác động chủ
yếu lên các khớp động. Đây là thể bệnh khớp do viêm thường gặp nhất và có ảnh
hưởng quan trọng về mặt xă hội xét trên phương diện chi phí y tế, sự tàn phế và
việc mất năng suất lao động. Mặc dù bệnh sinh của viêm khớp dạng thấp (VKDT)
chưa hoàn toàn được hiểu rơ, nhưng trong thập niên vừa qua đă có thêm nhiều hiểu
biết sâu xa về các cơ chế có liên quan ở mức độ tế bào và phân tử. Trên cơ sở
những hiểu biết này, những liệu pháp mới đă được phát triển, và những thử nghiệm
lâm sàng cũng đă chứng tỏ được hiệu lực của việc điều trị mạnh dạn hơn cho BN có
thể hoạt động. Trong bài tổng quan này, các tác giả thảo luận về những tiến bộ
trong tầm hiểu biết của chúng ta về sinh lư bệnh của viêm màng hoạt dịch do cơ
chế viêm trong VKDT, và những cải thiện trong trị liệu của bệnh lư này. Những
nghiên cứu trong tương lai sẽ được nhắm vào việc cải thiện các phương pháp chẩn
đoán sớm bệnh và cách xác định những BN có thể bệnh tiến triển, cũng như cải
thiện các phương pháp xác định những BN thích hợp cho trị liệu bằng các thuốc
kháng thấp thay đổi được bệnh (disease - modifying antirheumatic drugs =
DMARDs), nhóm thuốc c̣n cần phải ấn định rơ hơn độc tính và hiệu lực dài hạn.
Việc không ngừng làm sáng tỏ các con đường của cơ chế sinh lư bệnh tương ứng
trong VKDT, đi đôi với những tiến bộ không ngừng trong kỹ thuật sinh học và việc
thiết kế thuốc trị liệu hợp lư đă mang lại hy vọng đáng kể cho việc phát triển
tiếp theo của các liệu pháp dùng thuốc đặc hiệu và ngày càng hiệu nghiệm trong
điều trị VKDT.
Bệnh viêm khớp dạng thấp (VKDT) xảy ra ở khoảng 1% dân số, tỉ
lệ nữ/nam là 2,5/1. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng nhiều nhất là ở lứa tuổi 40 -
70 tuổi, tỉ lệ mắc mới tăng theo tuổi. Bệnh có ở mọi nơi trên thế giới và không
có sự liên hệ rơ rệt nào giữa tỉ lệ bệnh VKDT và địa vị kinh tế xă hội.
CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
Phạm vi thể hiện của VKDT th́ lớn rộng, nhưng khởi phát của
bệnh trong đa số trường hợp lại âm thầm, và cơ thể phải mất vài tháng để có được
một chẩn đoán chắc chắn. Các triệu chứng bao trùm là đau, cứng và sưng các khớp
ngoại biên (bảng 1). Diễn tiến lâm sàng của bệnh vô cùng thay đổi, từ viêm khớp
nhẹ, tự giới hạn đến bệnh lư viêm tiến triển nhanh đa cơ quan với mức độ tổn hại
trầm trọng và cả đến tử vong (bảng 2). Việc phân tích diễn tiến lâm sàng và các
bất thường về xét nghiệm và X quang đă xác định các yếu tố tiên lượng xấu đối
với sự hủy khớp tiến triển (bảng 3). Không may là không có yếu tố nào đủ tin cậy
để cho phép thực hiện một quyết định điều trị (bảo tồn hay tích cực).
Vào thời điểm hiện nay, việc đánh giá thường xuyên
hoạt tính của bệnh và sự đáp ứng với điều trị là yếu tố quyết định cho xử trí
thành công về lâu dài bệnh VKDT.
Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng của vkdt
?
Sưng khớp
?
Đau và cứng khớp (thường vào buổi sáng và kéo dài trên
một giờ)
?
Yếu người
?
Biến dạng khớp
?
Mệt mỏi
?
Khó ở (malaise)
?
Sốt
?
Sụt cân
?
Trầm cảm
Những đặc trưng về khớp
?
Sờ đau
?
Dày? màng hoạt dịch
?
Tràn dịch khớp (sớm)
?
Hồng ban (sớm)
?
Giảm biên độ vận động (muộn)
?
Dính khớp (muộn)
?
Bán trật khớp (muộn)
Phân bố
?
Có tính đối xứng (nhất là ở giai đoạn muộn)
?
Khớp xa gặp thường hơn khớp gần thân.
?
Khớp liên đốt gần, khớp bàn - ngón tay/khớp bàn - ngón
chân, khớp cổ tay/khớp cổ chân gặp thường hơn các khớp khủy/đầu gối, khớp
vai/háng
Bảng 2. - Các biểu hiện ngoài khớp có liên quan
Cơ
quan? Biểu hiện có liên quan
Da ??????? Nốt dạng thấp, viêm mạch
Mắt??????? Khô kết - giác mạc, viêm mống
mắt, viêm
??????????? thượng cũng mạc.
Miệng???? Viêm tuyến nước bọt (với các
triệu chứng khô miệng)
Hô hấp??? Xơ phổi, tràn dịch màng phổi,
viêm khớp nhẫn phễu.
Tim??????? Viêm ngoại tâm mạc, h́nh thành các nốt ở van tim,
viêm cơ tim.
Thần kinh Viêm đơn dây thần kinh, không vững cột sống cổ,
chèn ép thần kinh.
Gan?????? Tăng nồng độ các aminotransferase.
Huyết học Thiếu máu, tăng tiểu cầu, tăng bạch cầu, Hội chứng
Felty: lách to, giảm tiểu cầu.
Mạch máu??????????? ? Viêm mạch
Bảng 3. Các yếu tố tiên lượng nặng
?
Các yếu tố dạng thấp
?
Có alen HLA DR4
?
Xuất hiện sớm h́nh ảnh bào ṃn tại khớp
?
Số khớp bị tổn thương ngày càng tăng
?
Tàn phế sớm
?
Tuổi càng cao lúc khởi phát bệnh
?
Có số năm đi học tại trường lớp ít
?
Có biểu hiện ngoài khớp
Sự phá hủy khớp do viêm màng hoạt dịch có thể xảy ra sớm và
nhanh chóng trong tiến tŕnh của bệnh: có chứng cứ hủy khớp trên X quang trong
hơn 70% số BN trong ṿng 2 năm đầu của bệnh. Các kỹ thuật nhạy hơn như cộng
hưởng từ hạt nhân (MRI), có thể xác định sớm trong ṿng 4 tháng sau khi khởi
bệnh cho thấy sự ph́ đại đáng kể của màng hoạt dịch, phù xương và những biến đổi
tạo loét sớm (McQueen FM, et al. 1998; McGonagle D, et al. 1999). Những thay đổi
Xquang này xảy ra trước sự lệch trục của khớp và tàn phế chức năng đến hàng
nhiều năm, và vào thời điểm sự biến dạng thực thể đă rơ ràng, thường đă có tổn
thương đáng kể ở khớp không đảo ngược được. Ngoài ra, việc phân tích các mẫu
sinh thiết lấy từ các khớp gối không có triệu chứng lâm sàng ở những BN VKDT sớm
cho thấy đă có viêm màng hoạt dịch hoạt động (Soden M, et al. 1989), điều này
càng làm rơ thêm mối tương quan nghèo nàn giữa lượng giá lâm sàng và tiến triển
của bệnh, và sự phát triển nhanh chóng của viêm màng hoạt dịch đa khớp.
Tốc độ tiến triển bệnh của VKDT vẫn c̣n đang được bàn căi.
Kết quả của vài nghiên cứu nêu lên một tiến triển nhanh ngay trong vài năm đầu
của bệnh; trái lại các nghiên cứu khác nêu lên một tiến triển liên tục, lâu dài
đến cả 19 năm. Tuy nhiên, tất cả các phân tích đều cho thấy có sự tiến triển và
tích lũy của việc phá hủy khớp không đảo ngược ở mọi giai đoạn của bệnh.
SINH LƯ BỆNH
Các dữ liệu di truyền
Kết quả của một số nghiên cứu chứng tỏ sự tương hợp bệnh ở
những người sinh đôi một trứng (12 - 15%) cao hơn so với những người sinh đôi
khác trứng (4%), nghĩa là có ảnh hưởng của các yếu tố di truyền (Aho K, et al.
1986; Silman AJ, et al. 1993). Phân tích về khả năng di truyền trong những
nghiên cứu này đưa ra kết quả có thể đến 60% tố chất (predisposition) mắc VKDT
của một dân số là do yếu tố di truyền (MacGregor AJ, et al. 2000).
Việc phân tích các dấu ấn di truyền cũng cho thấy có sự liên
kết giữa việc phát triển bệnh VKDT và việc có một epitope chung trên những vùng
nhỏ của các alen DR B1*0401 và *0404 (Wordsworth BP, et al. 1989; Ronningen KS,
et al. 1990). Những phân tích này cũng cho thấy vài alen HLA có liên hệ với các
biểu hiện có tiên lượng xấu như yếu tố dạng thấp, nốt dưới da, khuyết xương.
Những thay đổi về mô học
Màng hoạt dịch bị viêm là yếu tố chủ chốt của sinh lư bệnh
VKDT. Một số đặc điểm nổi bật về mặt mô học ở màng hoạt dịch viêm là: Có sự tân
sinh mạch máu rơ rệt, có tăng sản tế bào, và thấm nhập các tế bào bạch cầu đặc
hiệu cho viêm. Những thay đổi này biến thiên theo tiến triển của bệnh. Trong
những tuần lễ đầu, h́nh ảnh nổi bật là phù nề mô và lắng đọng fibrin với thể
hiện lâm sàng là sưng khớp và đau. Chỉ trong một thời gian ngắn, lớp tế bào phủ
màng hoạt dịch trở nên tăng sản, dày tới trên 10 lớp tế bào và gồm các tế bào
màng hoạt dịch kiểu A (giống đại thực bào) và kiểu B (giống nguyên bào xơ). Lớp
tế bào bên dưới có sự thâm nhập của các tế bào đơn nhân như lymphô bào T và B,
đại thực bào và tương bào (H́nh 1 -đối diện trang 337- và h́nh 2). Các tế? bào
nội mô mạch máu màng hoạt dịch sớm biến đổi thành các tiểu tĩnh mạch có nội mô
cao (high endothelial venules) giúp cho sự di chuyển bạch cầu từ máu đến mô được
dễ dàng (H́nh 2 -trang 339).
Sự thành lập tổ chức màng hoạt dịch xâm lấn tại chỗ: pannus
(lớp màng h́nh lông) là biểu hiện đặc trưng của VKDT. Lớp pannus này biểu thị
các giai đoạn tiến triển bệnh. Đầu tiên, lớp pannus hoạt dịch cấu tạo gồm các TB
đơn nhân và nguyên bào xơ với metalloproteinase có độ biểu hiện cao xâm lấn và
sụn khớp (McCachren SS, et al. 1990; Gravallese EM, et al. 1991). Đến giai đoạn
muộn của bệnh, lớp pannus có cấu tạo tế bào được thay thế bằng lớp pannus xơ với
cấu tạo gồm một lớp tế bào màng pannus có phân bố mạch tối thiểu và chất tạo
keo. Nguồn gốc của những tế bào màng pannus chưa được biết rơ mặc dù người ta
cho rằng chúng phát xuất từ các TB màng hoạt dịch tưp B. Cơ chế bệnh sinh ở mức
độ phân tử của sự thành lập màng pannus cũng chưa được hiểu rơ (Lafyatis R, et
al. 1989).
Tế bào t
Mặc dù có chứng cứ chứng tỏ vai tṛ của tế bào T trong bệnh
sinh của VKDT, một số chứng cứ khác lại cho thấy các tế bào T không trực tiếp
gây viêm màng hoạt dịch. Phân tích các tế bào T thấm nhập màng hoạt dịch không
thấy có sự tăng sinh nhiều của quần thể này (Nykanen P, et al. 1986). Tóm lại
mặc dù tế bào T có thể giữ một vai tṛ trong khởi động toàn thân các tiến tŕnh
trong VKDT, vai tṛ trực tiếp của chúng trong viêm màng hoạt dịch và phá hủy
khớp chưa được biết rơ.
Các cytokin
Cytokin là những phân tử protein nhỏ, tan được, trung chuyển
thông tin với nhau giữa các tế bào có liên quan trong các đáp ứng miễn dịch - có
tác động đến sự phân bào, biệt hóa và hóa ứng động cũng như các hoạt động trợ
viêm (proimflammatory) hoặc kháng viêm.
Các phân tích bằng kỹ thuật miễn dịch hóa học mô và lai tại
chỗ mRNA chứng minh sự hiện diện của các cytokin TNF-a và interleukin 1 trong tế
bào của các lớp màng hoạt dịch với số lượng lớn. Cả TNF-a lẫn interleukin 1 là
những chất kích thích có hiệu quả chức năng tạo hiệu ứng sinh học của tổ chức
màng hoạt dịch bao gồm tăng sinh mô, biểu hiện enzym metallo-proteinase, biểu
hiện của phân tử kết dính, sự xuất tiết các cytokin khác và sản xuất
prostaglandin (h́nh 3). TNF và interleukin dường như có tác dụng cộng lực trong
việc cảm ứng chức năng hiệu ứng này.
Những kết quả của các công tŕnh trên súc vật thí nghiệm cho
thấy vai tṛ chủ yếu của TNF-a và interleukin 1 trong tiến tŕnh của viêm màng
hoạt dịch và hủy khớp. Việc thêm interleukin 1 hoặc TNF ngoại sinh vào mô h́nh
viêm khớp thực nghiệm làm cảm ứng hoặc làm trầm trọng hơn viêm màng hoạt dịch.
Xử lư mô h́nh viêm khớp ở chuột với kháng thể kháng TNF hoặc interleukin 1 hoặc
với các thụ thể TNF ḥa tan làm giảm hoặc khỏi bệnh (Taylor GA, et al. 1996;
Williams RO, et
al.
1992; Joosten LA, et al. 1996). Dù không phải là những mô h́nh hoàn hảo cho VKDT
ở người, các dữ liệu ở súc vật vừa kể cũng cung cấp được bằng chứng trên sinh
vật có tính khái niệm và một cơ sở lư luận cho những thử nghiệm điều trị ở
người.
Metallo proteinase của chất cơ bản
Metalloproteinase trong VKDT được các tế bào màng hoạt dịch
tưp B sản sinh ở mức độ cao. Đó là một họ enzym cần cho sự tái cấu trúc và phá
hủy chất cơ bản ngoại bào. Trong VKDT, hoạt tính ở mức độ cao của
metallo-proteinase được cho là có góp phần trong sự thoái giáng của sụn khớp và
xương (Martel-Pelletier J, et al. 1994).
Các cytokin của phản ứng viêm hiện diện trong VKDT (TNF-a và
interleukin 1) làm tăng sự sản sinh metalloproteinase.
Những phân tử kết dính
Những
phân tử kết dính được xem là có vai tṛ trong việc chiêu tập các tế bào viêm đến
các khớp trong VKDT. Sự hiện diện của các phân tử kết dính cho phép các tế bào
kết dính được với nhau và với chất căn bản, và là trọng tâm trong nhiều tiến
tŕnh sinh học khác nhau như hằng định nội mô, toàn vẹn mạch máu và biểu mô, các
đáp ứng miễn dịch .v.v. Độ biểu hiện của phân tử kết dính trong màng hoạt dịch
có lẽ tiêu biểu cho một cơ chế điều ḥa việc chiêu tập và lưu giữ các bạch cầu,
sự rối loạn điều ḥa cơ chế này có thể góp phần vào bệnh sinh của VKDT.
Sự tân tạo mạch máu
Sự tân tạo mạch máu có hoạt tính cao độ trong VKDT, đặc biệt
vào giai đoạn khởi phát sớm (FitzGerald O, et al. 1991). Những mạch máu mới
thành lập cung cấp oxygen và chất dinh dưỡng cho màng hoạt dịch ph́ đại và cung
cấp phương tiện cho sự chiêu tập các tế bào viêm đến vùng khớp viêm. Các yếu tố
sinh tân mạch gồm các cytokin, yếu tố tăng trưởng, yếu tố kích thích quần thể tế
bào (colony - stimulating factors) và các phân tử kết dính, tất cả đều hiện diện
ở màng hoạt dịch và dịch khớp của BN ở VKDT (Koch AE. 1998).
ĐIỀU TRỊ
Sự chuyển đổi mô h́nh
Thập niên vừa qua đă chứng kiến một sự thay đổi chủ yếu liên
quan đến cách tiếp cận và lựa chọn thuốc trong điều trị VKDT. Cách tiếp cận điều
trị trước đây, được mệnh danh là tháp điều trị, một cách tổng quát bao gồm cách
xử trí bảo tồn ban đầu với kháng viêm không steroid (NSAIDs) trong nhiều năm,
riêng các thuốc kháng thấp thay đổi được diễn tiến bệnh (DMARDs) chỉ được sử
dụng khi có chứng cứ rơ rệt của bào ṃn. Lúc đó các DMARDs sẽ được dần dần thêm
vào trị liệu lần lượt từng loại một trong một thời gian dài. Mô h́nh điều trị
này đă bị gạt sang bên qua việc sử dụng sớm các DMARDs và liệu pháp phối hợp các
DMARDs với nhau ở những BN có tiềm năng mắc bệnh thể tiến triển. Ư tưởng can
thiệp sớm với DMARDs đă được chứng minh là hợp lư trong nhiều thử nghiệm lâm
sàng ngẫu nhiên (van der Heide A, et al. 1996; Egsmose C, et al. 1995).
Sự chuyển đổi mô h́nh nêu trên một phần do kết quả kém cỏi
của cách tiếp cận trị liệu h́nh tháp và sự gia tăng quan tâm đến chi phí y tế,
việc mất năng suất lao động, mức độ tổn thương nặng của bệnh và giảm tuổi thọ dự
tính được cho là có liên hệ với bệnh VKDT (Egsmose C, et al. 1995; Cooper NJ.
2000; Scott DL, et al. 1987). Tất cả những sự kiện này là hậu quả của căn bệnh
tiến triển và là nguồn động lực cho sự phát triển của một liệu pháp hiệu quả hơn
nhằm dự pḥng việc phá hủy khớp và duy tŕ trạng thái chức năng.
Đo lường kết quả
Một bước tiến quan trọng trong việc lượng giá các liệu pháp
cho VKDT là sự chấp thuận những công cụ đo lường kết quả lâm sàng đă được chuẩn
hóa và có giá trị sử dụng như thang điểm hoạt tính bệnh (disease activity, score
= DAS) được sử dụng tại Châu Âu và thang điểm đáp ứng của Hội Thấp học Hoa Kỳ
(American College of Rheumatology = ACR) tại Bắc Mỹ (bảng 4). Thang điểm DAS và
ACR cung cấp một số lượng giá về kết quả chức năng và chất lượng cuộc sống và
không trực tiếp lượng giá sự phá hủy khớp (Fries JF, et al. 1980). V́ sự phá hủy
khớp có thể không tương ứng trực tiếp với các dấu hiệu lâm sàng của hiện tượng
viêm theo như đánh giá bằng thang điểm DAS và ACR, những phương pháp lượng giá
phá hủy khớp bằng Xquang - như thang điểm Larsen (Larsen A. 1975) và Sharp
(Sharp JT. 1989)- đă được pháp triển rộng răi. Những thang điểm này cho điểm dựa
trên sự hiện diện và độ nặng của khuyết xương và độ hẹp khe khớp.
Bảng 4. - Đo lường hoạt tính bệnh VKDT
Hội Thấp Học Hoa Kỳ (Acr)
?
Số khớp đau
?
Số khớp sưng
?
Lượng giá cơn đau của BN
?
Lượng giá toàn bộ hoạt tính bệnh của BS
?
Lượng giá chức năng thực thể/tàn phế của BN
?
Trị giá của các chất phản ứng pha cấp (Tốc độ lắng
hồng cầu, protein phản ứng C)
Thang điểm
hoạt tính bệnh (das)
?
Số khớp đau
?
Số khớp sưng
?
Thời gian kéo dài của triệu chứng cứng khớp buổi sáng
?
Chỉ số khớp của Ritchie
?
Lượng giá cơn đau của BN
?
Lượng giá toàn bộ hoạt tính bệnh
?
Trị giá của các chất phản ứng pha cấp (Tốc độ lắng
hồng cầu, protein phản ứng C)
?
Nồng độ Hemoglobin.
Một sự cải thiện 20% được định nghĩa là
việc giảm được ít nhất 20% số khớp đau và số khớp sưng cộng với sự cải thiện 20%
ở ít nhất 3 trong số các tiêu chuẩn đánh giá hoạt tính c̣n lại.
Đơn trị liệu với dmard
Khả năng tác động của trị liệu nội khoa đến sự gia tăng phá
hủy khớp về lâu dài và sự suy giảm dần trạng thái chức năng tỏ ra rất kém; cũng
như ít có dược phẩm nào vừa làm giảm bệnh vừa dung nạp được tốt. Trước năm 1999,
thuốc điều trị VKDT gồm glucocorticoid, kháng viêm không steroid và DMARDs.
DMARDs - gồm dược phẩm thuộc nhiều nhóm khác nhau - cải thiện được các triệu
chứng viêm hoặc làm chậm được tiến triển của ăn ṃn khớp ở một số BN, thông qua
những cơ chế chưa hoàn toàn được hiểu rơ. Những chất này gồm: methotrexat, muối
vàng, hydroxochloroquin, sulfa-salazin, ciclosporin, và azathioprin.
DMARDs thường chỉ có hiệu quả một phần và dung nạp rất kém
trong điều trị dài hạn. Trong các tổng phân tích về tỉ lệ rút khỏi nghiên cứu
lâm sàng, có từ 20-40% BN ngưng dùng đơn trị liệu DMARDs trong thử nghiệm
(Felson DT, et al. 1990; Morand EF, 1992; Pincus T, 1992) và trên thực hành lâm
sàng, thời gian trung b́nh sử dụng đơn trị liệu DMARD là dưới 2 năm đối với
những chất không phải là methotrexat. Mặc dù có nhiều lư do giải thích sự thiếu
gắn bó lâu dài với trị liệu nhưng hiệu lực kém, chậm có tác dụng và độc tính là
những điểm đáng quan tâm nhất (Felson DT, et al. 1992). Ngoài ra, đa số trị liệu
với DMARD đ̣i hỏi BN phải chịu những kiểm tra huyết học và thăm khám thực thể
thường xuyên để phát hiện tác dụng độc hại của thuốc (Arthritis Rheum
1996; 39: 723-31).
Kết quả của những thử nghiệm lâm sàng cho thấy trị liệu với
DMARD làm giảm các dấu ấn của hiện tượng viêm như giảm tốc độ lắng hồng cầu,
giảm số khớp viêm và cải thiện triệu chứng ở một số nhỏ BN; tuy nhiên đa số BN
vẫn tiếp tục cho thấy có sự tiến triển của phá hủy khớp không đảo ngược được
trên X quang (Mulherin D, et al. 1996).
Methotrexat
Việc đưa vào sử dụng Methotrexat liều thấp uống một lần trong
tuần đă đem lại một sự cải thiện đều đặn về khả năng dung nạp và hiệu lực cho
nhiều BN. Mặc dù chưa có báo cáo nào về sự thuyên giảm lâu bền nhưng các kết quả
của những thử nghiệm lâm sàng về methotrexat cho thấy một đáp ứng lâm sàng? hằng
định 50-80% so với ban đầu, cùng với sự ổn định lâu dài của trạng thái chức năng
(Weinblatt ME, et al. 1998; Kremer JM. 1997; Tugwell P, et al. 2000). Hơn nữa
methotrexat làm chậm tốc độ phá hủy xương và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Trong những nghiên cứu này, BN cho thấy có sự gắn bó lâu dài với đơn trị liệu
methotrexat liều thấp hàng tuần: 46-64% BN tiếp tục dùng thuốc đến 5 năm và 34 -
38% tiếp tục dùng trên 10 năm. Methotrexat liều thấp hàng tuần do đó đă trở
thành thuốc DMARD được kê đơn nhiều nhất. Theo dơi cẩn thận qua các xét nghiệm
đến tế bào máu, Creatinin, aminotransferase gan và các triệu chứng về phổi đă
giữ cho các độc tính nghiêm trọng của trị liệu ở mức tối thiểu... Cho thêm folic
acid uống (1mg/ ngày) hoặc folinic acid (5mg/tuần) làm giảm các tác dụng ngoại ư
chuyên biệt như rụng tóc, viêm miệng, không dung nạp tiêu hóa (nôn, buồn nôn) và
độc tính lên hệ tạo máu mà không làm giảm hiệu lực đáng kể.
Trên thực hành lâm sàng, thường cần đến liều Methotrexat cao
hơn 10mg mỗi tuần và nhiều BN cần leo thang liều đến 15-25mg/tuần để đáp ứng tối
đa. Cần từ 4-8 tuần để thuốc khởi sự có tác dụng. Trước khi cho là điều trị thất
bại, nên tăng dần liều dùng cho đến khi đạt được lợi ích trị liệu đáng kể hoặc
đến khi đạt đến liều điều trị tối đa (thường là 25mg/ tuần hoặc liều gây tác
dụng phụ) và thời gian điều trị phải đủ để thuốc kịp có tác dụng. Do khả năng
dung nạp và hiệu lực tốt của nó, Methotrexat đă trở thành một dược phẩm mẫu để
so sánh với các thuốc khác trong các nghiên cứu lâm sàng.
Điều trị phối hợp
Nhiều nghiên cứu đă được thực hiện để đánh giá hiệu lực của
trị liệu phối hợp các DMARD nhằm làm giảm các triệu chứng viêm và làm chậm lại
việc phá huỷ khớp trong lúc vẫn duy tŕ được một độc tính có thể dung nạp được.
Tuy nhiên những nghiên cứu ban đầu cho nhiều kết quả mâu thuẩn nhau. Những
nghiên cứu gần đây hơn lại cho thấy điều trị phối hợp mang lại nhiều lợi ích rơ
ràng và có độc tính dung nạp được. Những nghiên cứu này phối hợp Methotrexat với
Ciclosporin (Tugwell P, et al. 1995), infiliximab (Lipsky PE, et al. 2000),
etanercept (Weinblatt ME, et al. N Engl J Med 1999), leflumomid
(Weinblatt ME, et al. Arthritis Rheum 1999), sulfasalazin và
hydroxychloroquin (O'Dell JR, et al. 1996), sulfasalazin + prednisolon (Boers M,
1997), và sulfasalazin + hydro-xyquinolon + prednisolon (Mottonen T, et al.
1999). Những BN mắc bệnh nhiều năm đă điều trị DMARD trước đây nhưng thất bại
đều đạt kết quả tốt. Những kết quả này đề xuất rằng các BN ở nhiều giai đoạn
tiến triển của bệnh đều có thể nhận được lợi ích điều trị từ những trị liệu tấn
công mạnh dạn hơn. Tóm lại việc sử dụng cùng một lúc nhiều thuốc DMARD là một
cách xử lư hợp lư.
Những dược phẩm mới được chấp nhận
Trong năm 1999, cơ quan quản lư thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ
đă chấp nhận 3 loại DMARD mới (leflunomid, etanercept và infliximab) và một
kháng viêm không steroid ức chế thụ thể COX- 2 được dùng trong điều trị VKDT
Leflunomid
Leflunomid là thuốc ức chế enzym dihydro-orotate
dehydrongenase dạng uống, một enzym cần cho sự tái tổng hợp pyrimidin. Mặc dù cơ
chế hoạt động chuyên biệt trong VKDT chưa được biết rơ, leflunomid có tác động
lên lymphô bào in vivo và in vitro (Elder RT, et al. 1997). Sau khi uống vào,
leflunomid nhanh chóng được chuyển đổi thành chất chuyển hóa có hoạt tính là
A7771726. Sự đào thải thuốc xảy ra chậm qua đường phân và thận với thời gian bán
hủy là 14 ngày. V́ cần nhiều thời gian để đạt một nồng độ hằng định nên để đẩy
nhanh tiến tŕnh cần cho một liều cao 100 mg /ngày trong 3 ngày. Sau đó
leflunomid được cho uống với liều 10-20 mg/ngày.
Hiệu lực của leflunomid được chứng minh trong nhiều thử
nghiệm mù đôi, có đối chứng với giả dược. Trong những nghiên cứu kéo dài 6 và 12
tháng so sánh leflunomid với giả dược, sulfasalazin hoặc methotrexat, leflunomid
cho những kết quả tương tự như của methotrexat và sulfalazin và tốt hơn giả dược
(Smolen JS, et al. 1999; Strand V, et al. 1999). Trong số BN được điều trị với
leflunomid, 52% và 55% có cải thiện 20% thang điểm ACR lần lượt vào tuần lễ 24
và 52 so với 26% và 29% ở nhóm giả dược. Tỉ lệ tương ứng cho mức cải thiện 50%
thang điểm ACR vào tuần lễ 24 và 52 là 34% và 33% ở nhóm leflunomid so với 8% và
14% ở nhóm giả dược. Ngoài ra các nghiên cứu khác cũng cho thấy leflunomid làm
chậm tiến triển phá hủy khớp và cải thiện trạng thái chức năng và chất lượng
cuộc sống (Tugwell P, et al. 2000). Thời khoảng bắt đầu có hiệu quả của
leflunomid hơi nhanh hơn của sulfasalazin và methotrexat trung b́nh là 7-8 tuần.
Về lư thuyết hiệu quả của leflunomid có thể bổ sung cho
methotrexat v́ chúng tác động vào những đường chuyển hoá riêng biệt của nucleic
acid; tính an toàn và hiệu lực của leflunomid dùng phối hợp với methotrexat liều
thấp hàng tuần đă được sơ bộ lượng giá trong một thử nghiệm (Kremer JM, et al.
2000) ngẫu nhiên có đối chứng đa trung tâm, kết quả là leflunomid + methotrexat
có hiệu quả hơn metho-trexat + giả dược (tỉ lệ có cải thiện 20% thang điểm ACR
là 52% so với 23%). Sự phối hợp này cho dung nạp tốt, tuy nhiên vẫn c̣n mối băn
khoăn có thể có độc tính gan.
Các tác dụng phụ của leflunomid tương tự như của methotrexat
và sulfasalazin- Tiêu chảy là tác dụng phụ thường gặp nhất 33% so với nhóm giả
dược là 17%. Nồng độ aminotransferase gia tăng gặp ở 15% BN so với 12% BN dùng
methotrexat và 3% BN giả dược. Các tác dụng phụ khác gồm rụng tóc (8-10%), phản
ứng dị ứng (nổi mẫn và ngứa 24%) và hiếm thấy là giảm bạch cầu, giảm toàn bộ tế
bào máu (<1%) hoặc bệnh gan. V́ leflunomid có tác dụng sinh quái thai ở súc vật
thí nghiệm, phụ nữ c̣n khả năng sinh nở phải tránh có thai trong thời gian điều
trị. Chi phí điều trị với leflunomid ước tính khoảng 3000USD mỗi năm.
Các chất thay đổi đáp ứng sinh học đối với tnf
Etanercept và infliximab là những chất thay đổi đáp ứng
sinh học đầu tiên được chấp thuận cho sử dụng trong điều trị VKDT. Sự nhanh
chóng phát triển trên lâm sàng của các chất thay đổi đáp ứng sinh học với TNF
thật đáng chú ư. Thuốc bắt đầu được thử nghiệm lâm sàng trên người vào năm 1992.
Cả hai loại thuốc này được thiết kế để gắn với TNF -a và làm giảm sinh khả dụng
của nó. Etanercept là dạng tái tổ hợp của receptor p75 của thụ thể TNF.
Etanercept gắn với cả hai TNF-a? và TNF-b. Infliximab là kháng thể đơn clôn của
chuột được nhân cách hóa một phần (partly humanised mouse monoclonal antibody;
kháng thể có sự lai ghép phần thay đổi của Ig chuột với phần hằng định của Ig
người) nhằm vào mục đích đối kháng TNF-a nhưng không với TNFb.
Etanercept
Một số nghiên cứu mù đơn ban đầu cho thấy Etanercept có hiệu
lực thực sự trong thể VKDT hoạt động không đáp ứng thuốc (active refractory R.A)
như làm giảm đáng kể số khớp đau và số khớp sưng cũng như nồng độ protein C phản
ứng. Những nghi6en cứu mù đôi có đối chứng giả dược nhằm lượng giá Etanercept
dùng như một đơn trị liệu hoặc phối hợp với Methotrexat về sau này đă xác nhận
những kết quả nêu trên, nghĩa là có từ 60 - 75% BN đạt sự cải thiện 20% trên
thang điểm ACR sau 3 tháng và từ 40 - 57% BN đạt sự cải thiện 50% sau trên 6
tháng, so với đáp ứng của nhóm giả dược tương ứng lần lượt là 14-33% và 0-8%
(Weinblatt ME, et al. 1999; Moreland LW, et al. 1999; Moreland LW, et al. 1997).
Những lợi ích điều trị được duy tŕ trên 24 tháng. Ngoài ra những kết quả từ một
nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng trên những BN VKDT sớm (thời gian mắc bệnh
dưới 3 năm) cho thấy etanercept đơn trị liệu cũng hiệu quả như methotrexat trong
việc cải thiên hoạt tính của viêm khớp và làm chậm tốc độ hủy khớp (Bathon JM,
et al. 2000).
Etanercept nói chung dung nạp tốt: không có biến cố ngoại ư
đe dọa tử vong hoặc độc tính làm giới hạn liều lượng nào được ghi nhận qua các
thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên. Tác dụng ngoại ư được báo cáo thường nhất và
đáng lưu ư nhất là phản ứng tại nơi tiêm, gặp trên 40% BN. Tuy nhiên đă có những
trường hợp nhiễm trùng đe dọa tử vong xảy ra răi rác bởi điều trị với etanercept
và những thuốc đối kháng TNF khác được báo cáo; đồng thời việc tổn thương khả
năng tiêu diệt các vi sinh vật do TNF bị ức chế vẫn c̣n là một mối bận tâm.
Etanercept chỉ có dạng tiêm và liều lượng chuẩn là 25mg tiêm
dưới da 2 lần trong tuần. Thời gian bán hủy trung b́nh là 115 giờ. Chống chỉ
định gồm nhiễm trùng nặn và quá mẫn với thuốc trước đó. Chi phí điều trị hàng
năm ước tính là vào khoảng 12.000 USD.
Infliximab
Những nghiên cứu lâm sàng về infliximab trên những BN có bệnh
vẫn hoạt tính dù đă sử dụng methotrexat đơn trị cho thấy có những đáp ứng lâm
sàng đáng kể, cụ thể như 50-59% BN sử dụng infliximab có sự cải thiện 20% trên
thang điểm ACR và 27-31% có sự cải thiện 50% sau thời gian 30 tuần so với các BN
giả dược theo thứ tự là 20% và 4%. Đáp ứng này giữ nguyên trong 54 tuần. Tỉ lệ
chung các BN đạt cải thiện 20% trên? thang điểm ACR là 42-59% trong tất cả các
nhóm điều trị bằng infliximab (Lipsky PE, et al. 2000). Những tỉ lệ đáp ứng này
không kể đến BN có đang sử dụng methotrexat hay không, tuy nhiên, những BN điều
trị phối hợp infliximab và methotrexat có tỉ lệ đáp ứng điều trị cao hơn và thời
gian đáp ứng cũng kéo dài hơ. Hơn nữa, sự phát triển các kháng thể chống
infliximabi cũng thấp hơn.
Infliximab chỉ có dạng tiêm truyền. Thời gian bán hủy thay
đổi và dài, từ 8 đến 9,5 ngày. Lịch tiêm được cơ quan Quản Lư Dược Phẩm và Thực
Phẩm Hoa Kỳ chấp thuận cho sử dụng là 3mg/Kg vào các tuần 0, 2 và 6, sau đó là
liều duy tŕ mỗi 8 tuần và chế độ thuốc được chấp thuận buộc infliximab phải
điều trị phối hợp với methotrexat. Tác dụng phụ ít gặp và gồm chủ yếu là các
phản ứng tiêm truyền như sốt, lạnh run, ban mề đay, đau ngực, khó thở hoặc hạ
huyết áp. Chống chỉ định gồm phản ứng quá mẫn với thuốc được biết trước đó. Cũng
như entercept, chưa thấy có sự gia tăng đáng kể nào về tỉ lệ nhiễm trùng nhưng
đă có báo cáo về những ca nhiễm trùng nghiêm trọng và thậm chí đe dọa tử vong.
Do đó không được sử dụng infliximab trong trường hợp có nhiễm trùng hoạt động.
Chi phí ước tính hàng năm của trị liệu infliximab với liều lượng 30mg/Kg là
khoảng 9000 USD cộng với phí truyền dịch.
KẾT LUẬN
Khả năng can thiệp được vào tiến tŕnh bệnh của các chất
thay đổi đáp ứng sinh học kháng TNF-a mới đă làm nẩy sinh niềm phấn khởi v́ trị
liệu đă cho thấy có kết quả và khả năng có được những dược phẩm trong tương lai
chuyên biệt cho từng con đường sinh học của phản ứng viêm. Tuy nhiên, các tác
dụng phụ về lâu dài và độc tính của thuốc đă làm giảm bớt sự phấn chấn này. Các
biến cố ngoại ư đi với trị liệu kháng TNF, trước đây hiếm nhưng nay đă có gặp
gồm nhiễm trùng (Mycobacterium, tuberculosis, nhiễm khuẩn huyết do nấm và vi
khuẩn), hội chứng giống hepus và hội chứng mất myelm. Do đó việc phải làm trong
tương lai là phải tiếp tục theo dơi các phản ứng phụ hiếm gặp cũng như các độc
tính do việc tích lũy liều dùng. Sau cùng, nhờ có các chất thay đổi đáp ứng sinh
học hiện nay được phát triển ồ ạt, chúng ta rồi sẽ có thể điều chỉnh trị liệu
tùy theo những con đường sinh học của phản ứng viêm vận hành bên trong mỗi cá
thể.
BS Nguyễn Hoàng Tuấn dịch theo
David M lee, Michael E Weinblatt, Lancet 2001; 358: 903-11