Ít nhất 50% dân số thế giới bị nhiễm Helicobacter pylori.(1)
Tuy vậy, hầu hết người nhiễm không có triệu chứng hoặc có những dấu hiệu có thể
nhận biết bệnh. Ở đa số trẻ em, nhiễm H. pylori không dẫn đến bệnh lư lâm
sàng rơ ràng, ngay cả khi vi khuẩn thường trú tại niêm mạc dạ dày gây viêm dạ
dày thể hoạt động mạn tính. Sự hiểu biết về nhiễm H. pylori, đặc biệt
trong dân số nhi khoa c̣n một khoảng trống rất lớn.
Con người có lẽ là nguồn nhiễm H. pylori tự nhiên tiên
phát, những nguồn nhiễm khác bao gồm nước, mèo nuôi trong nhà và ruồi. Những yếu
tố nguy cơ nhiễm bệnh bao gồm kiều dân ở những nước đang phát triển, điều kiện
kinh tế xă hội nghèo nàn, gia đ́nh sống đông đúc và có thể có yếu tố chủng tộc
và di truyền. Con đường lan truyền H. pylori ở người chưa được biết rơ,
nhưng được công nhận là đường phân-miệng, dạ dày-miệng (chất ói), hoặc đường
miệng-miệng.
Nhiễm H. pylori ?có mối liên hệ với viêm dạ dày, loét
tá tràng, ung thư dạ dày, lymphoma mô bạch huyết. Ngày nay, người ta đều công
nhận là nhiễm H. pylori xảy ra lúc nhỏ hoặc tuổi thành niên. Nhiễm H.
pylori t́m thấy ở 90% trẻ bị loét tá tràng và 25% trẻ bị loét dạ dày. Nhiễm
H. pylori giai đoạn sớm có thể làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày, do đó cần
có? chẩn đoán chính xác nhiễm H. pylori ở trẻ em. Tuy nhiên vẫn c̣n những
hạn chế trong việc hướng dẫn điều trị ở trẻ em và tuổi vị thành niên, v́ vậy,
Hiệp Hội Tiêu Hoá và Dinh Dưỡng Bắc Mỹ (NASPGN) đă lập ra hướng dẫn thực hành
lâm sàng nhằm xử lư trẻ bị nhiễm H. pylori.
Chẩn đoán nhiễm H. pylori
Có 2? phương pháp chẩn đoán nhiễm H. pylori:
Test xâm lấn
để phát hiện vi khuẩn trong mẫu sinh thiết niêm mạc dạ dày qua ngă nội soi, gồm
cấy, test urea, mô học, và phản ứng chuỗi polymerase trên mẫu sinh thiết dạ dày.
Test không xâm lấn,
tránh được nội soi và an thần hoặc gây mê, gồm huyết thanh chẩn đoán, test hơi
thở urea carbon 13C, test kháng nguyên trong phân.
Giá trị chẩn đoán H. pylori
Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương (PPV),
giá trị tiên đoán âm (NPV) và độ chính xác của 7 test được tŕnh bày trong bảng
1.

Các test xâm lấn và không xâm lấn có độ chính xác khoảng 95%, là những test
(ngoại trừ huyết thanh chẩn đoán) chẩn đoán nhiễm H. pylori ở trẻ em rất
tốt. Huyết thanh chẩn đoán có giá trị chẩn đoán thấp nhất (có thể do sự kéo dài
nhiễm trùng, sự khác biệt tính miễn dịch và ổ vi trùng, nồng độ kháng thể ở trẻ
em khác với người lớn, hơn nữa ở một số trẻ có sự thanh thải tự nhiên trong khi
vẫn tồn tại kháng thể, do đó cho kết quả dương giả.
Bảng 1: Giá trị chẩn đoán H. pylori của các test
|
%
|
BUT
|
Mô học
|
PCR
|
Cấy
|
13CBUT
|
IgG
|
KN /phân
|
|
Độ
nhạy
|
92.6
|
96.3
|
92.6
|
96.3
|
100
|
88.9
|
92.6
|
|
Độ đặc hiệu
|
100
|
100
|
96.2
|
100
|
100
|
80.8
|
100
|
|
PPV
|
100
|
100
|
96.2
|
100
|
100
|
82.8
|
100
|
|
NPV
|
92.9
|
96.1
|
92.6
|
96.1
|
100
|
87.5
|
92.9
|
|
Độ
chính xác
|
96.2
|
98.1
|
94.3
|
98.1
|
100
|
84.9
|
96.2
|
?A. Test xâm lấn:
1. Sinh thiết và giải phẫu bệnh lư:
Chẩn đoán xác định H. pylori và bằng chứng nhiễm trùng
chỉ có thể thực hiện một cách đáng tin cậy qua nội soi với nhiều mẫu sinh thiết
ở một hay nhiều vùng của dạ dày bao gồm hang vị, thân và vùng chuyển tiếp. Mô
học cung cấp những thông tin về sự hiện diện vi khuẩn, mức độ nặng và sự phân bố
trên dạ dày gồm viêm teo dạ dày, dị sản ruột và mô lymphoid kết hợp trong lớp
niêm mạc (Dohil R et al. 1993). Giống như ở người lớn, những mẫu sinh thiết vùng
tiền môn vị phát hiện có nhiều vi khuẩn nhất. Ở trẻ em cũng được khuyến cáo nên
sinh thiết nhiều mẫu, ở những trẻ có bằng chứng loét dạ dày trên nội soi hoặc
khi chụp X quang. Đây là test xâm lấn, cần an thần hoặc gây mê, hơn nữa giá
thành mắc và đánh giá nội soi, cần có chuyên gia nội soi nhi khoa, điều này c̣n
hạn chế ở một số nơi.
2.? Test nhanh urease qua mẫu mô sinh thiết:
Các test urease (CLO, Hp-fast..) cung cấp gián tiếp xác định
nhiễm H.pylori, trong ṿng vài giờ nội soi (Elisur Y et al. 1999). Tuy
vậy, ở trẻ em, test này có giá trị tiên đoán dương thấp (50%) trong khi giá trị
tiên đoán âm lại cao 97-98% (Elisur Y, Neace C et al. 1999; Elisur Y, Hill I et
al. 1999). Độ chính xác của test này tùy thuộc số lượng mẫu mô được lấy, vị trí
sinh thiết, tải vi trùng,? và sử dụng những kháng sinh và ức chế bơm proton
trước đó .
3- Cấy vi trùng:
Cấy vi khuẩn H. pylori từ mẫu mô niêm mạc dạ dày, cho
biết độ nhạy kháng sinh, từ đó có thể xác định khả năng thất bại điều trị do đề
kháng kháng sinh (van der Hulst RW, et al. 1999). Cấy vi trùng cũng cung cấp
chủng loại vi trùng để dùng trong nghiên cứu dịch tể nhằm khảo sát độc lực vi
trùng với hệ quả gây bệnh. Tuy nhiên, giá thành mắc và tỉ lệ cấy phát hiện vi
trùng? ở nhiều pḥng xét nghiệm c̣n thấp (Holton J, 1997). Cấy vi trùng chỉ dùng
trong nghiên cứu.
4- Phản ứng chuỗi polymerase:
Phản ứng chuỗi polymerase (PCR) là một kỹ thuật có độ nhạy
cao, được dùng để phát hiện sự hiện diện của vi khuẩn H. pylori trong các
chất dịch của cơ thể (dịch dạ dày, phân), trong các mẫu mô (niêm mạc dạ dày) và
trong nước. Test có thể cung cấp những thông tin về sự đề kháng kháng sinh và
những yếu tố độc lực vi trùng. Tuy nhiên, PCR mắc, khó thực hiện, tính chuyên
biệt có thể bị ảnh hưởng bởi lây nhiễm vô t́nh, không được sử dụng rộng răi
ngoài labo nghiên cứu.
B. Test không xâm lấn:
1.Test điện di miễn dịch phát hiện H.pylori
Test ELISAs không mắc tiền, và dễ dàng sử dụng trên
lâm sàng, tuy nhiên, so với mô học nó có độ nhạy và độ chuyên biệt thấp hơn ở
trẻ em lẫn người lớn. Nh́n chung độ chính xác khoảng 60-70% (De Oliveira AMR
1999; Czinn SJ 1999; Khanna B 1998). Hơn nữa, giá trị ngưỡng có liên quan đến
tuổi ở những test miễn dịch trên thị trường chưa được xác định ở trẻ em. Ở một
trung tâm nghiên cứu, test phát hiện IgG-đặc hiệu H. pylori? có độ nhạy
91% so với 70% của 3 test trên thị trường (Khanna B 1998). Ở những nơi tỷ lệ lưu
hành nhiễm
H. pylori thấp chẳng hạn tại những nước phát triển, test huyết thanh chẩn
đoán không đủ độ chính xác để chẩn đoán nhiễm H. pylori
ở trẻ em. Theo đó, chiến lược điều trị dựa trên kết quả những tets này không
được khuyến cáo. Test huyết thanh không đủ tin cậy để kiểm tra tiệt trùng, bởi
v́ kháng thể c̣n dương tính trong vài tháng, mặc dù đă loại bỏ vi trùng.
2. Test? nước bọt và nước tiểu t́m kháng thể H. pylori.
Tương tự như test huyết thanh, test này dùng để phát hiện
kháng thể IgG-đặc hiệu H. pylori. Test dễ thực hiện, không đau, rẻ tiền.
Test nước bọt kém nhạy hơn test huyết thanh (Alemohammad MM et al. 1993). Những
test này chưa được khuyến cáo sử dụng .
3. Test t́m kháng nguyên H.pylori trong phân:
Test t́m kháng nguyên H. pylori trong phân đă chứng tỏ
cho những kết quả hứa hẹn trong chẩn đoán nhiễm trùng dạ dày ở người lớn (Varia
D et al. 1999). Test dường như có độ chính xác cao trong việc theo dơi điều trị
tiệt trùng. Tuy nhiên, bệnh nhân phải miễn cưỡng lấy những mẫu phân, hơn nữa
phân được làm lạnh khó thực hiện test. Cần có thêm nhiều đánh giá về test này
thực hiện trên trẻ em (Oderda G et al. 2000).
4. Test hơi thở urea:
Test hơi thở urea có độ nhạy và độ chuyên biệt cao >95% ở
người lớn (Cutter AF 1995) lẫn trẻ em (Rowland M 1997; Bode G 1998). Test này
đ̣i hỏi bệnh nhân uống hoặc 14c-urea hoặc urea có đánh dấu đồng vị
13c. Kết quả test có thể bị
ảnh hưởng bởi kháng sinh và thuốc ức chế acid đang dùng và những vi khuẩn khác
sinh urease ở vùng khoang miệng. Những thông số sử dụng test chỉ chuyên biệt ở
những labo và không được chuẩn hóa tốt cho trẻ em, hơn nữa về kỹ thuật khó tiến?
hành ở trẻ nhỏ, tỉ lệ thất bại khoảng 10%, đặc biệt khi thực hiện ngoài các
trung tâm nghiên cứu lâm sàng (Rowland M 1997).
Tóm lại, chẩn đoán bệnh có liên quan đến H. pylori
thường được tin cậy vào nội soi và mô học, hơn là chỉ dựa vào một test không xâm
lấn đơn thuần.
Vai tṛ H. pylori trong đau bụng? ở trẻ em:
Những dữ kiện dịch tể cho thấy nhiễm H. pylori
thường xảy ra lúc nhỏ và kéo dài cho đến tuổi trưởng thành. Nhiễm trùng dễ xảy
ra ở những trẻ có điều kiện sống hỗn tạp, vệ sinh kém và những nơi kinh tế xă
hội thấp. H. pylori gây viêm dạ dày và loét tá tràng tái phát, ở người
lớn cũng như? trẻ em. Nó được xem như là tác nhân gây ung thư tưp 1,
adenocarcinoma dạ dày và một số lymphoma ống tiêu hoá.
Đau bụng là một trong những lư do đến khám ở pḥng khám Nhi
khoa thường gặp nhất. Đau bụng mạn tính hay đau bụng tái diễn chiếm 10-15% trẻ
em ở tuổi đi học (Turck D 1998). Gọi là đau bụng mạn khi có ít nhất 3 cơn đau
với mức độ đủ gây rối loạn những hoạt động thường ngày của trẻ, trong ít nhất 3
tháng (tiêu chuẩn Apley).
Trong số những triệu chứng được báo cáo ở trẻ em bị nhiễm
H. pylori, đau bụng thường gặp nhất và chiếm 40-90%. Tần suất cao có thể là
do trẻ được gởi đến khám chuyên khoa v́ những triệu chứng tái diễn hoặc gởi khám
nội soi, trong số này bệnh lư thường gặp loét dạ dày hay tá tràng. Vả lại, nhiễm
H. pylori có thể hoàn toàn không có triệu chứng.
Loét dạ dày hay tá tràng hiếm gặp ở trẻ em, nhưng loét dạ dày
hay tá tràng thường kèm nhiễm H. pylori ?theo thứ tự là 11-75% và
33-100%. Trong trường hợp này, đau bụng? thường gặp nhất và có thể kèm theo
nhiễm trùng. Những đặc điểm của đau bụng hướng đi t́m H. pylori là:
?
Đau bụng dữ dội vùng thượng vị,
?
Có nhịp theo bữa ăn,
?
Làm thức giấc nửa đêm;
?
Làm ảnh hưởng xấu đến tổng trạng;
?
Kèm theo xuất huyết tiêu hoá.
- Không t́m H. pylori bằng test huyết thanh hoặc test
hơi thở trước cơn đau bụng tái diễn ở trẻ, nếu đau bụng không có biểu hiện bệnh
lư thực thể. Trong trường hợp đau bụng gợi ư bệnh lư thực thể, nội soi được chỉ
định và thực hiện sinh thiết (nhằm mục đích làm giải phẫu bệnh và xét nghiệm vi
khuẩn học)
Điều trị loét và tiệt trùng H. pylori sẽ làm mất triệu
chứng và ngăn ngừa loét tái phát. Ngược lại, trong trường hợp không có loét,
triệu chứng đau bụng không thể giúp phân biệt được trẻ bị nhiễm với trẻ không
nhiễm.
Tóm lại chỉ định của test t́m H. pylori khi:
1. Loét? dạ dày hay loét tá tràng được xác định qua nội soi hoặc chụp X quang
2. Có bằng chứng giải phẫu bệnh MALT lymphoma.
3. Theo dơi điều trị , đặc biệt trong trường hợp loét
dạ dày có biến chứng (xuất huyết tiêu hoá, thủng dạ dày hay tắc ruột) và đối vối
bệnh nhân c̣n triệu chứng sau điều trị được khuyến cáo nội soi và sinh thiết để
đánh giá sự tồn tại H. pylori kết hợp bệnh lư loét dạ dày.
Chỉ định điều trị
Điều trị nhiễm H. pylori khi:
1. Loét dạ dày hay tá tràng được xác định qua nội soi và có
bằng chứng nhiễm H. pylori qua mô học.
- Điều trị tiệt trùng cho trẻ em được khuyến cáo khi nhiễm
H. pylori? thể hoạt động và có triệu chứng đường tiêu hoá.
Nhiễm H. pylori thể hoạt động được định nghiă là xác
định vi khuẩn qua xét nghiệm mô học, cấy dương tính từ sinh thiết dạ dày qua ngă
nội soi. Test huyết thanh không đủ tin cậy để xác định thể hoạt động, do nó chỉ
cho biết nhiễm H. pylori trong quá khứ chứ không phải hiện tại.
Néu ổ loét được xác định trên X quang, điều trị tiệt trùng
khi test xâm lấn hoặc không xâm lấn (+).
2. Lymphoma: hiếm trẻ bị MALT lymphoma rơ ràng và
nhiễm HP được điều trị tiệt trùng. Hơn nữa những nghiên cứu ở bệnh nhi bị nhiễm
lymphoma nên được tiến hành để theo dơi sự tái phát, tiến triển hoặc biến mất
khối u sau điều trị.
3.Viêm dạ dày thể teo với loạn sản ruột (Metaplasia )
Điều trị tiệt trùng được khuyến cáo cho trẻ hiếm viêm dạ
dày thể teo. Theo phân loại Sydney về viêm dạ dày. Do bản chất tiền ung thư của
những biến đổi này, việc theo dơi nội soi được khuyến cáo để xác định nhiễm H.
pylori đă được điều trị sạch cũng như để đảm bảo rằng không có tiến tŕnh? bệnh
lư khác xăy ra sau, của bệnh lư niêm mạc dạ dày.
??? 4. Viêm dạ dày không loét : chưa có đủ bằng chứng hỗ trợ
cho việc điều trị tiệt trùng trong bệnh trạng này.
? Phác đồ điều trị:
-
RAM: Đối kháng thụ thể H2 (Ranitidin 4mg/kg /ngày +? Amoxicillin
40mg/kg/nặng + Metronida-zol 30mg/kg /ngày.
-
OMA: Ức chế bơm proton Omeprazol 0,7mg/kg /ngày + Amoxicillin +
Metronidazol dùng phác đồ này trong trường hợp không đáp ứng với RAM
Kháng sinh 10-14 ngày. Đối kháng thụ thể H2? 3-6 tuần. Hiện
nay, theo hướng dẫn của NASPGN, có một số phác đồ có thể sử dụng trong Nhi khoa
(bảng 2)
tài liệu tham khảo
1.
Ernst-PB; Gold-BD. Helicobacter pylori in childhood:
new insights into the immunopathogenesis of gastric disease and implications for
managing infection in children. J-Pediatr-Gastroenterol-Nutr. 1999 May; 28(5):
462-73
2.
Gottrand F., Place d'helicobacter pylori dans les
douleurs abdominales de l'enfant, Arch pediatrie 2000,7,197-200.
3.
Yen-Hsuan Ni, MD, PhD, al, Accurat diagnosis of
Helicobacter pylori infection by stool antigen test and 6 other currently avaibl
tests in children,the journal of pediatrics , V 136,No 6.page 823-827.
4.
Gold Benjamin D, et al. Helicobacter pylori
Infection in children: Recommendations for diagnosis and treatment -The North
American Society for Pediatric Gastroenterology and Nutrition. J Pediatr
Gastroenterol Nutr, Volum 31 (5), November 2000, 490-497
5.
Phác đồ điều trị Nhi khoa 2000,Bệnh viện Nhi Đồng I,tr
331-333.
6.
Blaser MJ: Helicobacter pylori and gastric
diseases. BMJ 316:1507, 1998.
7.
Bode G, Rothenbacher D, Brenner H, et al:
Helicobacter pylori and abdominal symptoms: A population-based study among
preschool children in southern Germany. Pediatrics 101:634, 1998.
8.
Bourke B, Jones N, Sherman P: Helicobacter pylori
infection and peptic ulcer disease in children. Pediatr Infect Dis J 15:1, 1996.