WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

B́nh luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

Hội chứng Rapunzel


Một bé gái 4 tuổi, tâm trí phát triển b́nh thường, vào viện với bệnh sử đau vùng thượng vị 18 tháng nay và đau ngày càng nhiều hơn, dùng thuốc kháng-acid chỉ giảm phần nào. Đau về đêm làm bé mất ngủ. Nội soi dạ dày phát hiện thấy một khố? dị vật tóc lớn. Khi mổ lấy dị vật thấy h́nh dạng của nó được đúc khuôn theo h́nh dạng dạ dày, và trải dài xuống tận phần thứ ba của tá tràng và đầu hỗng tráng. Cô bé có thói quen xoắn tóc, bứt tóc và nhai. Dị vật tóc thường do chứng bứt tóc ở trẻ em khỏe mạnh và trẻ có các hội chứng như hội chứng Prader Willi. Tóc có thể gây tắc nghẽn ruột hoàn toàn và gây thủng ruột. Tắc ruột non do các búi tóc dị vật được gọi là hội chứng Rapunzel, theo tên một nàng công chúa trong truyện cổ Grimm thường thả mái tóc vàng của ḿnh từ tháp lâu dài xuống để giúp người t́nh đến với ḿnh.

Theo Lancet 20/10/2001

Vitamin giúp giảm nguy cơ giảm thị lực do thoái hóa điểm vàng

Bổ sung những chất có chứa kẽm và chất chống ôxy-hóa có thể làm chậm tiến triển thoái hóa điểm vàng ở người lớn tuổi và giảm nguy cơ giảm thị lực. Đó là kết luận của các bác sĩ ở Viện Mắt Hoa Kỳ. Tuy vậy, cách này không giúp khỏi hẳn bệnh, nhưng có thể hữu ích cho những BN mà trước đây không có thuốc nào điều trị.

Trong nghiên cứu đa trung tâm AREDS (Age-Related Eye Disease Study), Chew và cộng sự đă đánh giá 3640 BN từ 55 đến 80 tuổi về các dấu hiệu thoái hóa điểm vàng do tuổi tác. BN được phân ngẫu nhiên để dùng 80 mg kẽm, kèm với đồng để ngừa thiếu chất đồng; hoặc dùng một phối hợp chống chất ôxy-hóa gồm 500 mg vitamin C, 400 IU vitamin E, và 15 mg caroten b; hoặc dùng kẽm (kèm đồng) và các chất chống ôxy-hóa; hoặc dùng giả dược. Sau khoảng 6 năm, những người không có dấu hiệu thoái hóa điểm vàng hay chỉ ở giai đoạn đầu (chỉ có một ít drusen kích thước nhỏ hoặc trung b́nh ở một hoặc hai mắt, nhưng không giảm thị lực) không cho thấy lợi ích nào của việc bổ sung như trên, Nhưng những đối tượng có bệnh ở mức trung b́nh (nhiều drusen kích thước trung b́nh hoặc một hay nhiều drunsen lớn ở một hoặc cả hai mắt) được hưởng lợi từ cách bổ sung này. Kẽm và phối hợp các chất chống ôxy-hóa làm giảm 25% nguy cơ phát triển bệnh sang giai đoạn nặng và 19% nguy cơ mất thị trường trung tâm; kẽm đơn thuần giảm khoảng 21% nguy cơ bệnh tiến triển nặng và 11% nguy cơ mất thị lực; các chất chống ôxy-hóa giảm được các nguy cơ, theo thứ tự trên, khoảng 17% và 10%.

Một nghiên cứu phân tích riêng, cũng của Viện Mắt Hoa Kỳ, cho thấy việc bổ sung trên không có tác dụng trên sự phát triển đục thủy tinh thể.

Arch Ophthalmol 2001;119:1417-35,1439-52,1533-4.

Kết quả nghiên cứu 96 tuần về nevirapin tại Hội nghị AIDS châu Âu

Ngày 28/10 vừa qua, tại Hội nghị châu Âu lần thứ 8 về đặc điểm lâm sàng và điều trị nhiễm HIV, có hai nghiên cứu được tŕnh bày cho thấy những người có HIV (+) được dùng các phác đồ phối hợp dựa vào nevirapin (Viramune?) đă cải thiện được nồng độ lipid, với những kết quả có ư nghĩa như tăng HDL-cholesterol, cải thiện tỉ số cholesterol toàn phần/HDL và nồng độ triglycerid.

Nghiên cứu thứ nhất là nghiên cứu FRAMS (Fat Redistribution and Metabolic Substudy, một bộ phận của nghiên cứu ATLANTIC). Mục tiêu chủ yếu của nghiên cứu phân nhóm này là đánh giá sự khác biệt tiềm năng về nồng độ lipoprotein của BN dùng ba phác đồ điều trị khác nhau (ddI và d4T phối hợp với nevirapin, indinavir hoặc 3TC). Số BN được khảo sát là 98 người trong số 298 BN tham gia nghiên cứu Atlantic hội đủ tiêu chuẩn nghiên cứu. Trong nghiên cứu 96 tuần này, BN được dùng nevirapine, ddI và d4T đều có sự cải thiện nồng độ lipid. Ở nhóm điều trị nevirapine, HDL cholesterol tăng 40% so với ban đầu và giảm tỉ số cholesterol toàn phần/HDL. Trái lại, BN dùng thuốc ức chế protease indinavir cho thấy cholesterol toàn phần và LDL tăng có ư nghĩa, cũng như tăng tỉ số cholesrterol toàn phần/HDL, một t́nh trạng có thể tăng nguy cơ bệnh mạch vành.

Nghiên cứu thứ hai được tŕnh bày là Đánh giá kết cục lâm sàng và chuyển hóa các phác đồ dựa vào thuốc ức chế protease (PI). Đây là một nghiên cứu ngẫu nhiên, tiền cứu, công khai tên thuốc. BN được tiếp tục dùng phác đồ có PI (n=26) hoặc đổi sang dùng phác đồ có nevirapine (n=26) hoặc efavirenz (n=25). Kết quả sau 12 tháng cho thấy nồng độ trung b́nh của cholesterol toàn phần và LDL, cũng như của triglycerid giảm một cách có ư nghĩa trên BN dùng nevirapin, nhưng không thay đổi trên hai nhóm BN kia. Cả ba phác đồ đều ức chế kéo dài sự nhân đôi HIV-1: 96% số BN dùng nevirapin, 92% số BN dùng efavirenz và 92% số BN dùng PI có tải siêu vi dưới 80 bản sao/mL huyết tương sau 12 tháng điều trị Số lượng tế bào CD4+ trung b́nh tăng được 115 tế bào /mm3 ở nhóm nevirapin, 106 tế bào/mm3 ở nhóm efavi-renz và 67 tế bào/mm3 ở nhóm PI. Ngoài ra, c̣n thấy nồng độ trung b́nh của cholesterol toàn phần, LDL và triglycerid giảm có ư nghĩa ở nhóm nevirapin, trong khi các chỉ số này ở hai nhóm kia giảm không có ư nghĩa.

Nói chung, các phác đồ trên đều được dung nạp tốt. Có 6 BN ngưng điều trị v́ độc tính của thuốc: 1 BN ở nhóm nevirapin có độc tính gan; 3 ở nhóm efavirenz có độc tính ở hệ thần kinh trung ương và 2 ở nhóm PI có độc tính thận (sỏi thận) và tiêu chảy.

Theo Thông cáo báo chí 8th European Conference on the Clinical Aspects and Treatment for HIV-Infection (28/10/2001)

Một bé gái vẫn sống b́nh thường sau khi cắt bỏ một nửa năo

Một cô bé 14 tuổi không có ǵ đặc biệt, nhưng lại là một chuyện lớn khi cô vẫn sống b́nh thường mà không c̣n bán cầu năo bên phải. Bán cầu năo này đă được cắt bỏ cách đây 5 năm khi Christina - tên cô bé - mắc một chứng bệnh hiếm, tiến triển dần, gây những cơn co giật không kiểm soát được. Hiển nhiên, cách điều trị triệt để này để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho Christina: liệt bán phần tay và chân trái, mất thị trường mắt trái. Và mỗi khi nghiêng đầu không đúng tư thế, cô bé c̣n cảm thấy có nước lơm bơm trong đầu, nơi phần năo đă được cắt bỏ. Thế nhưng, về những mặt khác, Christina vẫn phát triển b́nh thường như một thiếu niên điển h́nh. Trí thông minh và trí nhớ vẫn tốt, vẫn biết yêu biết ghét những ǵ mà một cô bé ở tuổi học tṛ vẫn làm như vậy.

Bệnh của Christina là bệnh viêm năo Rasmussen, một rối loạn tự miễn hay xảy ra ở trẻ em dưới 10 tuổi, có thể do siêu vi hoặc do phản ứng miễn dịch gây ra và để lại di chứng nặng nề về tâm-thần kinh. Trong trường hợp của Christina, triệu chứng bệnh xuất hiện lần đầu là run chân trái khi em cùng gia đ́nh đi nghỉ hè ở băi biển New Jersey. Bác sĩ pḥng cấp cứu đă gửi em đến một bệnh viện nhi. Sau ba ngày làm các xét nghiệm, người ta đă chẩn đoán ra căn bệnh quái ác này. Đó là vào tháng 8/1995, khi Christina mới 8 tuổi.

Cô bé được dùng thuốc chống động kinh nhưng triệu chứng run không giảm. Một tháng sau, em được gửi đến bệnh viện John Hopkins. John Freeman, bác sĩ điều trị, giải thích rằng chỉ có cách cắt bỏ bán cầu năo bên phải mới có thể có thể cắt được các cơn co giật. Bệnh viện? này đă thực hiện hơn 100 trường hợp cắt bỏ bán cầu năo v́ bệnh Rasmussen. Ca mổ thường kéo dài đến 12 giờ, bác sĩ phẫu thuật cắt bỏ phẫn năo bị tổn thương nhưng vẫn cố giữ lại các cơ cấu sâu như đồi thị, thân năo và các nhân xám đáy năo. Theo bác sĩ phẫu thuật thần kinh Benjamin Carson, cắt bỏ một bán cầu năo ở trẻ em có tiên lượng tốt hơn ở người lớn. Phần năo c̣n lại có thể làm thay chức năng của phần đă bị cắt bỏ, thậm chí đôi khi c̣n cải thiện được trí thông minh, v́ không c̣n co giật và nhu cầu dùng thuốc chống động kinh cũng giảm đi. Christina được mổ vào tháng 2/1996. Sau 14 giờ căng thẳng, Christina mới được đưa về pḥng hồi sức. Những ngày sau đó, cô bé nhức đầu dữ dội, mặt sưng to và chỉ có thể mấp máy nửa miệng. Một tháng rưỡi sau, cô bé đi học trở lại. Năm năm sau, cô đă là một học sinh trung học.

Theo CNN.com 8/10/2001

Vai tṛ của bác sĩ tim mạch trong việc đánh giá BN nhiễm HIV

Các bác sĩ lâm sàng Hoa Kỳ và Ư khuyến nghị rằng nên làm siêu âm tim cho BN nhiễm HIV mỗi khi họ có bất kỳ biểu hiện nào về t́nh trạng lâm sàng. Họ cho rằng trên quần thể BN này, các triệu chứng tim mạch thường không đặc hiệu và có thể bị quy nhầm là do t́nh trạng sức khỏe chung hoặc do nhiễm khuẩn cơ hội.

BS. Steven E. Lipshultz (Trường Y Nha khoa, Đại học Rochester, New York) cho biết: "Rối loạn chức năng tim được chứng minh qua siêu âm tim liên tiếp nhiều lần là một yếu tố tiên đoán độc lập và mạnh mẽ cho tử vong do mọi nguyên nhân".? Theo ông, tỉ lệ của tràn dịch màng tim được ước lượng vào khoảng 22% trên BN nhiễm HIV không có triệu chứng. Tỉ lệ tăng áp phổi đi kèm với nhiễm HIV vào khoảng 1/200, trong khi một nghiên cứu khác cho thấy bệnh lư giăn nở cơ tim được ghi nhận ở 8% số BN nhiễm HIV không có triệu chứng trong thời gian 5 năm. Chính v́ thế, trong một bài xă luận của tạp chí Heart, số tháng 10/2001, đă có ư kiến thúc giục các bác sĩ tim mạch nên mở rộng vai tṛ của ḿnh trong việc chăm sóc BN nhiễm HIV, bằng cách đánh giá những người đang dùng liệu pháp chống retrovirus tác dụng cao hoặc đang được xem xét để dùng những liệu pháp đó, đặc biệt là những người có nguy cơ cao về tim mạch.

Một số thuốc kinh điển có thể gặp khó khăn khi đang điều trị HIV. Ví dụ, thuốc ức chế men chuyển có thể không được dung nạp tốt, và lovastatin sẽ tăng độc tính khi dùng thuốc chống retrovirus.

Các tác giả của bài xă luận trên khuyến nghị nên điều trị sớm rối loạn chức năng thất trái và ph́ đại thất trái, kể cả điều trị globulin miễn dịch. Ăn kiêng và tập thể dục có thể có hiệu quả trong điều trị bệnh mạch vành mà không gây tác dụng phụ.

Đối với BN nhiễm HIV bị tràn dịch màng tim, chỉ khuyến nghị chọc ḍ màng tim khi tràn dịch quá nhiều, BN không chịu đựng được, để chẩn đoán hoặc khi có chèn tim. Nhiều BN nhiễm HIV bị khó thở thường hay được dùng kháng sinh, v́ bác sĩ lâm sàng thường chú ư đến những triệu chứng chung khác? hoặc nhiễm khuẩn cơ hội mà ít để ư đến chẩn đoán suy tim. Do vậy việc đánh giá thường quy tim mạch trên những BN nhiễm HIV cần tập trung trên những đối tượng có nguy cơ.?????

?Theo Heart 2001;86:365-367

Tim vẫn đập bên ngoài cơ thể

Ngày 7/10/2001, các bác sĩ tại Trung tâm Y khoa Đại học Pittsburgh (Pennsylvania, Hoa Kỳ) đă thử nghiệm thiết bị bảo quản dùng trong ghép tạng. Trong thử nghiệm này, một quả tim người vẫn tiếp tục tự co bóp sau khi được lấy khỏi cơ thể một ông cụ 80 tuổi. Thiết bị

này là hệ thống bảo quản tạng xách tay.Trước đó, nó đă được thử nghiệm với thận người và tạng của động vật.

Các bác sĩ nói rằng công nghệ này có thể giúp phẫu thuật viên có nhiều thời gian hơn để đợi BN được ghép

tạng đến bệnh viện, đồng thời cũng có nhiều thời gian hơn để thử sự tương hợp của tạng ghép. Nếu không dùng thiết bị này, quả tim chỉ có thể giữ được khoảng 6 giờ. Công cụ bảo quản tạng này là một sản phẩm của TransMedics Inc. (Woburn, Massachusetts) dùng để bơm máu được sưởi ấm vào cơ quan giúp nó hoạt động.

Quả tim của ông cụ 80 tuổi nói trên không thích hợp để ghép tạng, nhưng dự kiến nó được thử nghiệm để hoạt động trong 24 giờ. Theo BS. W. Hassanein, Giám đốc công ty TransMedics, thiết bị này sẽ được tŕnh cho FDA để xin phép bán trên thị trường vào cuối năm nay.

? Theo CNN.com 8/10/2001

MỘT THIẾT BỊ HỖ TRỢ THẤT TRÁI CHO bệnh nhân? SUY TIM

Từ khi bắt đầu thực hiện Chương tŕnh tim nhân tạo tại Hoa Kỳ vào năm 1964, đă có nhiều thiết bị nâng đỡ tuần hoàn ra đời và chỉ sử dụng ngắn ngày trên BN suy tim giai đoạn cuối. Năm 1994, Cục Quản lư Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) đă công nhận tim nhân tạo chạy bằng hơi làm thiết bị hỗ trợ thất trái cho BN suy tim chờ ghép tim; đến năm 1998 mới có thiết bị chạy điện. Tuy vậy, tất cả những thiết bị đó chỉ sử dụng ngắn ngày. Mới đây, một thiết bị hỗ trợ thất trái mới đă được thử nghiệm (HeartMate?, Thoratec, Pleasanton, California) dùng dài ngày mà không cần uống thuốc chống đông máu.

Trong thử nghiệm này, 129 BN suy tim độ IV, không đủ điều kiện để ghép tim, được chọn ngẫu nhiên để sử dụng thiết bị hỗ trợ thất trái (68 người hoặc điều trị nội khoa bằng các biện pháp tối ưu (61 BN). Kết quả cho thấy nhóm gắn thiết bị hỗ trợ giảm được 48% nguy cơ tử vong so với nhóm điều trị nội khoa (nguy cơ tương đối 0,52 ; KTC 95%: 0,34-0,78; p=0,001). Tỉ lệ sống sót sau 1 năm là 50% ở nhóm gắn thiết bị hỗ trợ thất trái và 25% ở nhóm điều trị nội khoa; sau 2 năm là 23% so với 8%. Tuy vậy, tỉ lệ các tác dụng phụ nghiêm trọng (nhiễm khuẩn, xuất huyết, thiết bị trục trặc) ở nhóm gắn thiết bị cao hơn nhóm điều trị nội khoa gấp 2,35 lần.??

H́nh vẽ trên đây tóm tắt cấu tạo và hoạt động của thiết bị hỗ trợ thất trái này.


Các thành phần của HeartMate, thiết bị hỗ trợ thất trái: can-nuyn đi vào được gắn vào mỏm thất trái, can-nuyn đi ra được nới với phần lên của cung động mạch chủ. Máu từ phổi về tim trái và xuống mơm thất trái, đi qua van chiều vào để vào buồng tim nhân tạo . Sau đó, máu được bơm một cách chủ động qua van chiều ra để vào động mạch chủ. Buồng tim nhân tạo được đặt trong thành bụng hoặc khoang màng bụng. Một đường dây xuyên qua da mang cáp điện và khí đến túi đựng pin (ở đây chỉ thể hiện túi pin bên phải, được mang trên đai vai) và bộ phận kiểm soát điện (được mang trên thắt lưng).

Theo Rose E.A và cộng sự, N Engl J Med 15/11/2001

CHIẾN DỊCH VITAMIN A CỦA LIÊN HIỆP QUỐC TẠI ẤN ĐỘ BỊ PHÁ SẢN

Các chuyên gia y tế công cộng Ấn Độ đă lên tiếng chỉ trích chiến dịch điều trị thiếu vitamin A ở trẻ em dưới 15 tuổi sau cái chết của 15 em bé tại bang Assam trong chiến dịch vitamin A toàn quốc ngày 11/11/2001. Theo chính quyền bang Assam cho biết, có 700 em bé ngă bệnh trong sồ 32 triệu trẻ em được uống vitamin A trong chiến dịch này. Ô?g Umesh Kapil (Viện Nghiên cứu Khoa học Y học toàn Ấn Độ, New Delhi) tỏ ra nghi ngờ sự cần thiết của chiến dịch này. Ông nói: "Những cuộc điều tra tại các huyện Dibrugarh và Nagaon ở Assam cho thấy chỉ có 0,3% số trẻ em có dấu hiệu Bitot, một dấu hiệu chỉ điểm của thiếu vitamin A. "

Theo C. Gopalan (Tổng Giám đốc Cơ quan Dinh dưỡng Ấn Độ), người đi tiên phong trong việc dự pḥng thiếu vitamin A tại Ấn Độ trong những năm 1970: "H́nh thức chiến dịch là hoàn toàn không cần thiết. Các thể nhẹ của thiếu vitamin được những kẻ lắm tiền xem là trầm trọng, thường gặp ở người nghèo, không cần thiết phải tổ chức một chương tŕnh phân phối vitamin A bổ sung." Tuy nhiên, Kapil lưu ư rằng từ năm 1970 nhân viên y tế được tập huấn dùng muỗng có vạch 2 ml để cho uống vitamin A., c̣n tại Assam người ta dùng cốc 5 ml thay v́ dùng muỗng. và quá liều vitamin A đă xảy ra.??

Bộ trưởng Y tế bang Assam, Bhumidhar Barman cảnh báo UNICEF rằng sẽ đưa ra luật pháp nếu xét nghiệm cho thấy xi-rô vitamin A bị vấy nhiễm; trong khi đó có những gợi ư cho rằng xi-rô có thể đă hết hạn dùng. Tuy nhiên, các viên chức UNICEF nói rằng xi-rô có hạn dùng đến tháng 3/2003? và đă được kiểm tra chất lượng độc lập tại Ấn Độ? (Lancet 24/11/2001)

LEVACETYLMETHADOn (Orlaam?) gây các biến cố trầm trọng trên tim

Cơ quan Quản lư Thực phẩm và Dược phẩm Hoa kỳ (FDA) đă tăng cường cảnh báo với các thầy thuốc về những biến cố trầm trọng trên tim có liên hệ với việc điều trị bằng levacetylmethadon (Orlaam?), một loại thuốc cai nghiện nha phiến. Dược phẩm này không được dùng như là biện pháp điều trị hàng đầu, và chỉ dùng trong các trường hợp BN tỏ ra không đáp ứng với các thuốc cai nghiện thích hợp khác. Trong khi đó th́ Chi cục Lượng giá các sản phẩm y học châu Âu đă ra công bố ngưng cho phép tiếp thị dược phẩm này ở châu Âu.

Cảnh giác với PROPOFOL

Propofol (Diprivan?) là thuốc gây mê tĩnh? mạch? có tác dụng ngắn nhưng cũng thường được dùng? làm thuốc an thần dịu đau trong một số trường hợp BN cần chăm sóc đặc biệt. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây cho rằng có thể có sự liên quan giữa việc tiêm truyền liều cao và kéo dài Diprivan để giảm đau an thần cho những BN bị tổn thương đầu với chứng suy tim. Bảy BN có biểu hiện nhiễm toan chuyển hoá, tăng kali huyết hoặc tiêu cơ vân. Cũng có những báo cáo tương tự về các trường hợp trẻ em được tiêm truyền propofol để an thần giảm đau trong các khoa chăm sóc đặc biệt có biểu hiện tăng kali-huyết, gan to .

V́ vậy các thầy thuốc được khuyến cáo sử dụng propofol để giảm đau an thần không được dùng liều tối đa 4mg/kg/giờ và không nên dùng cho trẻ em.?????

Theo WHO Drug Information Vol. 15, No.1.2001

THUỐC TRIPTAN DẠNG UỐNG TRONG ĐIỀU TRỊ ĐAU ĐẦU MIGRAIN CẤP

Triptan là những thuốc đối kháng chọn lọc với serotonin 5-HT1B/1D chủ vận, rất hữu hiệu trong điều trị đau đầu migrain cấp và được phát triển trên cơ sở lư luận khoa học, chẳng bao nữa sẽ được đưa ra sử dụng trên lâm sàng. Việc đó đ̣i hỏi có những hướng dẫn cần thiết dựa vào chứng cứ. V́ thế, đă có một nghiên cứu tổng phân tích gồm 53 thử nghiệm lâm sàng với triptan, có thiết kế tương tự nhau, để tạo cơ sở cho việc dùng thuốc trong thực hành lâm sàng.?

Các tác giả đă yêu cầu các công ty dược phẩm và các nghiên cứu viên chính (độc lập với các hăng dược phẩm) cung cấp số liệu thô về BN trong tất cả các nghiên cứu lâm sàng mù đôi, ngẫu nhiên, có đối chứng về thuốc uống triptan dùng trong bệnh migrain. Các thông số quan trọng về tính hiệu quả và an toàn của thuốc được tính toán qua phân tích chung tất cả những nghiên cứu đó, và từ những tóm tắt riêng lẽ của các nghiên cứu có dùng thuốc khác để so sánh trực tiếp.?

Tổng cộng có 53 thử nghiệm lâm sàng (12 công tŕnh chưa công bố) gồm 24 089 BN, tất cả đều hội đủ tiêu chuẩn để đưa vào phân tích. Kết quả trung b́nh của liều sumatriptan 100 mg là 59% (KTC 95%:57-60) đối với đáp ứng nhức đầu 2 giờ (cải thiện từ đau vừa phải hoặc đau nặng sang đau nhẹ hoặc không đau); 29% (27-30 đối với tiêu chí 2 giờ không đau (cải thiện không c̣n đau); 20% (18-21) đối với tiêu chí không đau kéo dài (không đau 2 giờ và không tái diễn nhức đầu hoặc phải dùng thuốc giảm đau trong ṿng 2-24 giờ sau khi uống thuốc đặc trị; và 67% (63-70) đối với tiêu chí phù hợp (có đáp ứng ít nhất ở 2-3 cơn được điều trị); tỉ lệ sau khi hiệu chỉnh với giả dược đối với BN có ít nhất là một tác dụng phụ (TDP) là 13% (8-18), đối với ít nhất là một TDP ở hệ thần kinh trung ương là 6% (3-9), và đối với ít nhất là một TDP tim mạch là 1?9% (1?0-2?7). So với những số liệu này, rizatriptan 10 mg cho thấy hiệu quả và độ phù hợp tốt hơn, có khả năng được dung nạp th́ tương tự; eletriptan 80 mg có hiệu quả tốt hơn, độ phù hợp tương tự, nhưng khả năng được dung nạp thấp hơn; almotriptan 12?5 mg có hiệu quả tương tự sau 2 giờ nhưng các kết quả khác lại tốt hơn; naratriptan 2?5 mg và eletriptan 20 mg có hiệu quả thấp hơn và (thuốc thứ nhất) được dung nạp tốt hơn; c̣n zolmitriptan 2?5 mg và 5 mg, eletriptan 40 mg, và rizatriptan 5 mg có kết quả rất tương tự nhau. Kết quả của 22 nghiên cứu so sánh trực tiếp các triptan cho thấy cùng một dạng thức chung như? vậy. Các tác giả không nhận được số liệu về frovatriptan, nhưng số liệu đă công bố gợi ư rằng thuốc có hiệu quả thấp hơn.

Các tác giả nhận định rằng, triptan dùng liều cao có hiệu quả và được dung nạp tốt. Rizatriptan 10 mg, eletriptan 80 mg, và almotriptan 12?5 mg có khả năng điều trị thành công cao nhất.

Theo Michel D Ferrari và cs. Lancet 2001; 358: 1668-75

THIẾU XƯƠNG MŨI Ở THAI NHI CÓ HỘI CHỨNG DOWN VÀO TUẦN 11-14 THAI KỲ: MỘT NGHIÊN CỨU QUAN SÁT

Chẩn đoán tiền sản hội chứng Dowm (tam nhiễm sắc thể 21) cần xét nghiệm xâm lấn trên thai phụ được xem là có nguy cơ cao sau khi đă tầm soát. Hiện nay, có bốn test tầm soát, với tỉ lệ dương tính giả là 5%, độ nhạy khoảng 30% đối với tuổi mẹ đơn thuần, 60-70% đối với tuổi mẹ và xét nghiệm sinh hoá máu mẹ vào ba tháng giữa, 75% đối với tuổi mẹ và san độ trong của gáy thai vào ba tháng đầu thai kỳ, và 85% đối với tuổi mẹ kèm với độ trong của gáy thai và xét nghiệm sinh hóa máu mẹ vào tuần 11-14. Trong nghiên cứu này, các tác giả đă khảo sát khả năng cải thiện việc tầm soát tam nhiễm sắc thể 21 bằng cách khảo sát xương mũi thai nhi bằng siêu âm vào tuần 11-14 trong thai kỳ

Tổng cộng có 701 thai nhi được khảo sát siêu âm vào tuần 11-14 của thai kỳ, ngay trước khi xét nghiệm nhiễm sắc thể để t́m những bất thường có thể có được phát hiện qua tầm soát bằng tuổi mẹ và độ trong của gáy thai nhi. Qua siêu âm, ghi nhận xem có xương mũi thai hay không.


H́nh ảnh thai nhi lúc 12 tuần tuổi ở một thai nhi b́nh thường (h́nh trên), cho thấy xương mũi, và của một thai nhi mắc hội chứng Down (h́nh dưới) cho thấy không có xương mũi

Đặc điểm của thai được khảo sát thành công trong tất cả các trường hợp. Không phát hiện thấy xương mũi ở 43 trong số 59 (73%) thai nhi mắc hội chứng Down và ở 3 trong số 603 (0,5%) thai nhi có bộ nhiễm sắc thể b́nh thường. Tỉ suất khả năng của tam nhiễm sắc thể 21 là 146 (KTC 95%: 50-434) đối với hiện tượng không có xương mũi và 0,27 (0,18-0,40) khi có xương mũi. Trong tầm soát tam nhiễm sắc thể 21, bằng cách phối hợp tuổi mẹ với độ trong của gáy thai, các tác giả ước tính rằng nếu đưa thêm việc khào sát xương mũi thai nhi qua siêu âm có thể tăng độ nhạy đến 85% và giảm tỉ lệ dương tính giả c̣n khoảng 1%.

Theo nhận định của các tác giả nghiên cứu, trong việc tầm soát hội chứng Down, khảo sát xương mũi của thai nhi có thể làm giảm đáng kể nhu cầu xét nghiệm xâm lấn và tăng độ nhạy một cách vững chắc.?

Theo Simona Cicero và cs. Lancet 17/11/2001; 358: 1665-67

ĐĂ ĐẾN LÚC NÊN TẦM SOÁT HỘI CHỨNG DOWN VÀO BA THÁNG ĐẦU THAI KỲ?

Trong 15-20 năm qua đă có nhiều tiến bộ về hiệu suất tầm soát trong chẩn đoán tiền sản hội chứng Down. Nay với một dấu hiệu chỉ điểm siêu âm trên thai nhi, có thể chuyển việc tầm soát hội chứng này sang 3 tháng đầu thai kỳ.

Thật vậy, hiệu suất tầm soát được cải thiện từ khi khám phá ra rằng nồng độ alpha-fetoprotein (AFP) trong máu mẹ giảm trong các trường hợp thai bị hội chứng Down. Tuy AFP chỉ là một dấu ấn yếu, nhưng nó đă thúc đẩy việc thay đổi phương pháp tầm soát. Trước đây,? phụ nữ được chọn để chẩn đoán tiền sản bằng các phương pháp xâm lấn dựa trên các yếu tố nguy cơ dịch tể học - mẹ lớn tuổi, sinh nhiều - nhưng phương pháp này không hiệu quả v́ hai phần ba số thai nhi có hội chứng Down được t́m thấy ở các bà mẹ trẻ, và rất ít trường hợp tái diễn. Quan niệm mới là làm xét nghiệm AFP cho mọi phụ nữ, bất luận ở tuổi nào và tiền sử ra sao, và phối hợp cả ba yếu tố để ước lượng nguy cơ trên bà mẹ. Nếu nguy cơ này vượt quá một mốc cố định, kết quả được cho là "dương tính", và người phụ nữ được gửi làm chẩn đoán tiền sản.?

Tỉ lệ phát hiện dự kiến của các phương pháp tầm soát

Phương pháp

Tuổi thai? (tuần)

Dấu ấn

Tỉ lệ phát hiện (%)

1

15-19

b-hCG tự do và AFP

63?2

2

15-19

b-hCG tự do, AFP, và uE3

66?8

3

15-19

b-hCG tự do, AFP, uE3 và inhibin A

72?1

4

10

b-hCG tự do, AFP, uE3 và PAPP-A

77?4

5

11-13

NT

72?9

6

10 và11

b-hCG tự do, AFP, uE3, PAPP-A, và NT

91?6

7

11-13

NT và NB

92?4

8

10 và 11

b-hCG tự do, AFP, uE3, PAPP-A, NT và NB

97?5

NT=độ trong của gáy thai (nuchal translucency); NB=xương mũi (nasal bone).

Sau AFP, nhiều dấu ấn huyết thanh tốt hơn đă được phát hiện như gonadotrophin màng nhau người (hCG) và inhibin A trong ba tháng giữa thai kỳ; protein huyết tương liên kết với thai nghén (PAPP)-A trong ba tháng cuối; b-hCG tự do và estriol không liên hợp (uE3) trong cả hai quư sau thai kỳ. V́ AFP đă được dùng vào tuần 15-19 của thai kỳ để tầm soát dị tật ống thần kinh, nên đa số các trung tâm chỉ thêm hCG, hoặc muộn hơn, là b-hGG tự do, làm dấu ấn chỉ điểm thứ hai. Một số c̣n thêm uE3 làm dấu ấn thứ ba, and gần đây nhất là inhibin A được dùng làm dấu ấn thứ tư. Khái niệm tầm soát nguy cơ được mở rộng thành một đặc tả gồm nhiều nguy cơ, và các kỹ thuật mô h́nh hóa thống kê được phát triển để tiên đoán tỉ lệ phát hiện. Đối với 2-3 dấu ấn ở ba tháng giữa, tỉ lệ thai có bệnh và có kết quả dương tính là 63-67% (xem bảng), một tỉ lệ đă được khẳng định ở hơn 20 nghiên cứu can thiệp tiền cứu, sau khi chấp nhận một sai số hệ thống được cho phép do chấm dứt thai kỳ (đối với những thai không có khả năng sống được). Tỉ lệ tiên đoán bằng mô h́nh đối với bốn dấu ấn nói trên là 72%.

Một lư do để giữ lại test sàng lọc AFP là để tầm soát dị tật ống thần kinh, tuy rằng chỉ cần siêu âm vào tuần 19-28 cũng đủ. Tuy nhiên, việc khám phá một dấu ấn siêu âm mạnh trong ba tháng đầu (độ trong của gáy thai nhi) đă đổi hướng tầm soát. Dấu ấn siêu âm này có độ mạnh đến 73%. Phối hợp độ trong của gáy với các dấu ấn trong ba tháng đầu làm tăng tỉ lệ phát hiện đến 92%.

Về dấu ấn xương mũi, Cicero và cộng sự đă thực hiện nghiên cứu trên những phụ nữ được tầm soát dương với độ trong của gáy thai. Kết quả cho thấy ở trẻ sau này có hội chứng Down, tỉ lệ không có xương mũi là 73%, so với 0,5% ở trẻ không mắc hội chứng Down. Như vậy không có xương mũi trên siêu âm làm tăng nguy cơ hội chứng Down lên hơn 140 lần, và nếu có xương mũi th́ giảm nguy cơ 3 lần. Rơ ràng tầm soát trong ba tháng đầu thai kỳ có lợi hơn ba tháng giữa.

Theo Howard Cuckl, Lancet 08/11/2001

ĐÁNH GIÁ TẦN SUẤT diễn TIẾN ĐẾN CAO HA TRÊN ĐỐI TƯỢNG KHÔNG CAO HA

Những BN có huyết áp (HA) tối ưu (<120/80 mm Hg), b́nh thường (120-129/80-84 mm Hg), và b́nh thường cao (130-139/85-89 mm Hg) theo thời gian có thể tiến triển đến tăng HA (?140/90 mm Hg). Nhóm nghiên cứu của Ramachandran S Vasan đă t́m cách xác định tần suất tầm soát HA tốt nhất bằng cách đánh giá tỉ lệ và các yếu tố quyết định của sự tiến triển đến cao HA.

Các tác giả đă đo HA lặp lại nhiều lần trên những người không bị cao HA (HA<140/90 mmHg) trong nghiên cứu Framingham (4200 nam, 5645 nữ, trung b́nh 52 tuổi) được khám trong những năm 1978-1994. Xuất độ tăng HA (hoặc dùng thuốc hạ áp) và những yếu tố quyết định HA được khảo sát.

Kết quả nhận thấy có một sự gia tăng từng bước về xuất độ tăng HA ở ba nhóm trước đó không tăng áp như sau: 5,3% (KTC 95%: 4,4-6,3%) số người có HA tối ưu; 17,6% (15,2-20?,3%) số người có HA b́nh thường; và 37,3% (33,3-41,5%) số người dưới 65 tuổi có HA b́nh thường cao tiến triển đến cao HA trong thời gian 4 năm. Tỉ lệ diễn tiến tương ứng trong 4 năm ở người từ 65 tuổi trở lên, theo thứ tự, là 16,0% (12,0-20?,9), 25,5% (20,4-31,4), và 49,5% (42,6-56,4). Béo ph́ và tăng cân cũng góp phần làm tiến triển; tăng cân 5% trong thời gian theo dơi đi kèm với tăng 20-30% tỉ suất độ chênh cao HA.

Theo các tác giả, HA b́nh thường cao và HA b́nh thường hay tiến triển đến cao HA trong thời gian 4 năm, đặc biệt là trên người lớn tuổi. Những kết quả ở đây ủng hộ cho khuyến nghị cần theo dơi những người có HA b́nh thường cao mỗi năm một lần, và những người có HA b́nh thường cần theo dơi mỗi hai năm một lần, đồng thời những kết quả này c̣n nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc kiểm soát cân nặng như là một biện pháp dự pḥng chủ yếu bệnh cao HA.?

Vasan R. S.và cs. Lancet 2001; 358: 1682-86


[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net