Bước tiến mới cho ngành loãng
xương
Video: New test
assesses fracture risk
GS Nguyễn Văn Tuấn phát biểu trên ABC
News về phương pháp mới tiên đoán nguy cơ gãy xương.
Hiện nay ở nước ta có khoảng 20%
phụ nữ trên tuổi 60 có triệu chứng loãng xương. Hệ quả của
loãng xương là xương dễ bị gãy. Gãy xương, nhất là gãy xương
hông, là một vấn nạn y tế công cộng trên thế giới, và đang là
gánh nặng y tế ở nước ta. Mô hình chẩn đoán loãng xương hiện nay
dựa vào đo lường mật độ xương bằng máy DXA. Người được chẩn đoán
loãng xương thường được điều trị bằng thuốc để phòng ngừa gãy
xương.
Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây
vừa công bố hôm qua trên tập san y khoa Osteoporosis
International thách thức cách chẩn đoán này. Tác giả chính
của công trình nghiên cứu này là hai nhà khoa học gốc Việt: tiến
sĩ Nguyễn Đình Nguyên và giáo sư Nguyễn Văn Tuấn thuộc Viện
nghiên cứu y khoa Garvan (Australia). Trả lời báo chí phương Tây
ngày hôm qua, giáo sư Tuấn cho biết hơn phân nửa phụ nữ và đàn
ông bị gãy xương nhưng không hề bị loãng xương! Nói cách khác,
cách chẩn đoán loãng xương dựa vào mật độ xương như thế bỏ sót
hơn phân nửa “nạn nhân”.
Để khắc phục tình trạng này, hai
nhà khoa học gốc Việt phát triển một mô hình tiên lượng gãy
xương mới, được xem là mô hình đầu tiên trên thế giới về chuyên
ngành và hy vọng sẽ giúp đưa loãng xương vào một thời kỳ mới. Mô
hình này sử dụng các thông tin về mật độ xương, gen COLIA1, tiền
sử gãy xương, tuổi, trọng lượng, và tiền sử bị té để tiên lượng
nguy cơ gãy xương trong vòng 5 năm hay 10 năm.
Giáo sư Tuấn cho biết mô hình mới
này được phát triển dựa vào nghiên cứu do ông phụ trách từ 20
năm qua. Năm 1989, sau khi nhận được kinh phí tài trợ nghiên
cứu, nhóm nghiên cứu của Gs. Tuấn bắt đầu theo dõi khoảng 2000
người trên 60 tuổi. Bệnh nhân được đo mật độ xương, phân tích
gen, và thu thập các thông tin lâm sàng cũng như lối sống. Sau
15 năm theo dõi số người bị gãy xương lên đến 30%. Sau đó nhóm
nghiên cứu phân tích mối tương quan giữa nguy cơ gãy xương với
các yếu tố ban đầu (như mật độ xương, các chỉ số lâm sàng, gen,
và lối sống), và qua mô hình tương quan này họ phát triển thành
một biểu đồ tiên lượng (nomogram) để đánh giá nguy cơ gãy xương
cho từng cá nhân trong vòng 5 hay 10 năm. Tuy nhiên, mô hình
tiên lượng "chính xác khoảng 80%, vẫn còn sai sót khoảng 20%",
Gs. Tuấn cho biết.
Để có được thành quả nghiên cứu
này, GS.Tuấn đã kiên nhẫn nghiên cứu và phân tích ròng rã 20 năm
trời và tốn nhiều triệu đôla để có dữ liệu phát triển thành một
mô hình như thế. Trong một trả lời phỏng vấn cho đài truyền hình
ABC của Úc, giáo sư Tuấn dí dỏm nói với phóng viên rằng đây là
"một biểu đồ rất đắt tiền!"
Mô hình này được giới khoa học
đánh giá rất cao và được ví như là một "cách mạng" trong ngành
loãng xương, đưa ngành này lên một bước cao hơn. Ông cho biết
trong tương lai gần giới y khoa sẽ không chẩn đoán loãng xương
như hiện nay nữa, nhưng sẽ áp dụng mô hình mà nhóm nghiên cứu
của ông trình bày.
Trao đổi qua email, chúng tôi
được biết giáo sư Tuấn còn có một đề cương nghiên cứu loãng
xương ở tỉnh Kiên Giang, và nếu được tài trợ, ông sẽ cùng đồng
nghiệp trong nước phát triển một mô hình tương tự cho người
Việt.
Đức Phương |