Hầu hết các bệnh nhân đều than phiền v́:
- Cảm giác kích thích, bất ổn tại mắt.
- Cảm giác như có dị vật trong mắt, nóng rát như phải bỏng.
- Nh́n mờ nhất thời.
- Ra gỉ mắt trong và nhầy.
- Một số người có cảm giác ngứa mắt, mỏi và nặng mi mắt.
- Ở thể nặng, bệnh nhân thấy đau rát thực sự mỗi khi chớp mắt.
Những khó chịu trên thường xảy ra khi có hoàn cảnh thuận lợi cho nước mắt bay hơi nhiều, như ra gió, đọc sách lâu, ở trong pḥng có điều ḥa nhiệt độ.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Các biểu hiện lâm sàng rất đa dạng và phức tạp, những khám nghiệm bổ sung cũng rất phong phú và cần thiết. Để dễ h́nh dung, chúng ta hăy xem xét lại những vấn đề cơ bản về sinh lư nước mắt.
Nước mắt tráng phủ trên ḷng trắng (kết mạc) và ḷng đen (giác mạc) được sản xuất từ 2 nguồn: 95% do tuyến lệ nằm ẩn dưới mi trên tiết ra, 5% c̣n lại do các tuyến lệ phụ đảm trách. Dù nguồn gốc từ đâu th́ nước mắt luôn tạo thành một khối thống nhất. Khi tráng lên tṛng đen chúng tạo nên phim nước mắt gồm 3 lớp: Lớp mỡ; Lớp nước trong suốt; Lớp nhầy mucin.
Mỗi lớp có một chức năng riêng biệt.
- Lớp mỡ làm chậm lại quá tŕnh bay hơi của lớp nước liền kề với nó, đảm bảo sức căng bề mặt của phim nước mắt theo phương thẳng đứng giúp cho nước mắt khỏi tràn ra ngoài bờ mi, bôi trơn mi mỗi khi mi chớp trên diện nhăn cầu.
- Lớp nước trong suốt ở giữa đảm bảo cung cấp oxy cho biểu mô giác mạc, có tính sát trùng nhẹ, làm cho giác mạc trơn nhẵn, rửa trôi bụi bẩn.
- Lớp nhầy mucin ở trong cùng do tế bào h́nh đài hoa của kết mạc tiết ra, giúp chuyển biểu mô giác mạc từ dạng kỵ nước sang ái nước. Như vậy giác mạc sẽ luôn được làm ẩm bằng lớp nước đă nêu.
Phim nước mắt chỉ ổn định nếu phản xạ chớp mắt được duy tŕ tốt, có tương thích tốt giữa mi và nhăn cầu, biểu mô giác mạc phải nguyên vẹn.
Các biểu hiện lâm sàng thể hiện sự bất thường của phim nước mắt và bề mặt giác mạc
Các dấu hiệu bất thường của phim nước mắt: Dấu hiệu sớm là sự gia tăng của các sợi nhầy và bụi bẩn trên giác mạc. Ở mắt b́nh thường sau khi phim nước mắt bị vỡ, lớp nhầy mucin sẽ bị nhiễm lipid nhưng sau đó lipid sẽ lập tức bị rửa trôi. Ở mắt bị khô, lớp mucin nhiễm lipid tích tụ trên phim nước mắt và có xu hướng dao động sau mỗi lần chớp mắt. Lớp mucin sẽ mau khô và chậm ngậm nước. Mặt cong giới hạn của phim nước mắt bị nhỏ đi, lơm vào, đôi khi biến mất trong những trường hợp nặng. Với mắt b́nh thường mặt cong của phim nước mắt là mặt lồi, cao khoảng 1mm.
Các biến đổi của bề mặt giác mạc: Chỉ xuất hiện khi bệnh đă tương đối nặng. Mức độ nhẹ là bệnh lư biểu mô giác mạc dạng chấm, dạng sợi. Dạng nặng hơn sẽ có các mảng nhầy màu hơi đục hoặc xám, hơi lồi lên bề mặt giác mạc. Đó là các phức hợp của tế bào biểu mô bong ra cùng với chất nhầy, protein và lipid. Các mảng trên thường xuất hiện cùng với tổn thương dạng sợi, bắt màu khi nhuộm rose bengal.
Các khám nghiệm bổ sung đặc biệt: Đo thời gian vỡ phim nước mắt (break up time-BUT): Khám nghiệm này chỉ thực hiện được ở môi trường chuyên khoa sâu, với thuốc nhuộm fluorescein và sinh hiển vi khám bệnh có kính lọc xanh cobalt. BUT được coi là bất thường nếu < 10 giây.
Nhuộm rose bengal: Rose bengal là thuốc nhuộm có ái lực đặc biệt với các tế bào biểu mô chết hoặc đang bị hủy hoại. Đặc tính này làm các tổn thương giác mạc dạng sợi và dạng mảng trở nên dễ nhận biết. Nhược điểm của thuốc là gây kích ứng cho mắt.
Test Schirmer: Test này thực sự hữu hiệu nếu chúng ta không có sinh hiển vi khám bệnh, các tổn thương giác mạc c̣n chưa rơ ràng. Nó cho phép nhận định lượng chế tiết nước mắt cơ bản và chế tiết phản xạ bằng một loại giấy thấm đặc biệt của hăng Whatman, kích cỡ chuẩn là 5mm chiều rộng và 35mm chiều dài. Kết quả b́nh thường nếu vùng có nước mắt thấm > 15mm.
NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ CHỨNG KHÔ MẮT
(Xem tiếp kỳ sau)