|
BẠN BIẾT G̀ VỀ BỆNH
VIÊM GAN SIÊU VI VÀ INTERFERON?
BS. DƯƠNG MINH HOÀNG
Măi đến ngày hôm nay
vẫn c̣n nhiều người chưa rơ về bệnh viêm gan siêu vi, mỗi khi thử máu dương
tính, họ đinh ninh đă mắc căn bệnh khó chữa thế nào cũng đến xơ gan rồi chết
mà thật ra không phải vậy. Bài này nhằm giúp hiểu rơ căn bệnh trên một cách
đầy đủ nhằm có thái độ đúng mức hơn.
1. Viêm gan siêu vi có
mấy loại và nguy hiểm ra sao?
Có 5 loại bệnh viêm gan
siêu vi được đánh bằng chữ: A, B, C, D, E. C̣n một số khác chưa định rơ có
thể gây viêm gan sau truyền máu, viêm gan măn và xơ gan. Hai loại viêm gan
típ A, E thường tự khỏi sau thể cấp, không gây ra viêm gan măn hay xơ gan về
sau này.
Trái lại, viêm gan B, C
hay D có thể dẫn đến xơ gan, suy gan và ung thư gan. Khả năng gây tử vong
của nhóm này cần thiết phải t́m ra phương thức trị liệu hữu hiệu. Trong số
nhiều thuốc thử nghiệm duy chỉ có thuốc Interferon khảo cứu rộng răi ở nhiều
nước trên thế giới, chứng tỏ hiệu quả phần nào trên diễn tiến bệnh viêm gan
siêu vi mạn tính.
2. Diễn tiến b́nh
thường của bệnh viêm gan siêu vi B?
Viêm gan siêu vi B phổ
biến trên khắp thế giới với khoảng 300 triệu người mắc bệnh, 2 triệu người
chết hàng năm. Tần suất cao ở Trung Phi và Nam Mỹ, Âu Châu: các nước cạnh
biển Địa Trung Hải như Italia, Hy Lạp, Ai Cập. Nhưng các nước Bắc Âu tần
suất bệnh này rất thấp 0,1-0,3%.
Tổng quát là vào khoảng
5-10% diễn tiến dẫn đến viêm gan mạn, 50% những người này chết v́ xơ gan,
ung thư gan. Ở nước ta, tần suất nhiễm siêu vi B lên khá cao từ 10-15% tùy
theo quần thể, nghề nghiệp.
Viêm gan siêu vi B gây ra
bởi siêu vi B, một virus DNA có vỏ, một khi tấn công tế bào gan, gây hủy
hoại và viêm. Nhiễm trùng có thể cấp hay mạn đi từ nhiễm trùng không triệu
chứng tự khỏi đến bệnh rất nặng: thể tối cấp rất hiếm, có kết cục tử vong.
Viêm gan siêu vi B cấp có
HBsAg(+), men gan tăng cao 3-4 lần b́nh thường nhưng tự khỏi trong 90-95%
bệnh nhân, có sự biến mất HBsAg và tế bào gan lành lại sau 4-6 tuần lễ mắc
bệnh. Khoảng 5-10% viêm gan B lại diễn tiến thành thể mạn tính có HBsAg(+)
lâu dài trong máu, một số ít diễn tiến viêm gan mạn có xét nghiệm máu
HBsAg(+), HBc(+): khó làm ở nước ta, men gan SGOT, SGPT tăng nhẹ, HBeAg(+).
Trái lại những người chỉ
có một xét HBsAg(+) lâu dài, có men gan SGOT, SGPT b́nh thường dưới 50UI,
hoàn toàn không triệu chứng gọi là người lành mang mầm bệnh, không cần phải
trị nhưng cần phải tiêm ngừa cho những người thân sống chung trong gia đ́nh
.
3. Bệnh nhân nào nghi
ngờ viêm gan siêu vi B cần thử máu những ǵ, ư nghĩa ra sao?
Đầu tiên HBsAg(+) chứng
tỏ nhiễm siêu vi B chứ không phải mắc bệnh. Nồng độ cao hay thấp không chứng
tỏ bệnh nặng hay nhẹ. Viêm gan tối cấp, đa số tử vong có nồng độ HBsAg rất
thấp chứng tỏ cơ chế bệnh là gia tăng đáp ứng miễn dịch với siêu vi B.
Bạn nên thử thêm HBeAg,
nếu dương tính chứng tỏ bệnh lây lan, khả năng viêm gan mạn.
Rất tiếc, HBcAg c̣n gọi
là HBV-DNA, không thử được ở VN v́ phức tạp nhưng rất quan trọng v́ xác nhận
viêm gan mạn, cần sinh thiết gan mới làm được.
Bạn thử các kháng thể
viêm gan như là AntiHBc(+) là tốt: cơ thể có kháng thể. AntiHBc(+) là chứng
tỏ bệnh viêm gan cũ, bị viêm gan mạn khi thuộc loại IgG. AntiHBe(+)là bệnh
viêm gan có khả năng không lây lan.
Cuối cùng là các men gan
như SGOT, SGPT chứng tỏ thương tổn tế bào gan. Viêm gan cấp các men này gia
tăng gấp 2-4 lần mức b́nh thường nhưng viêm gan mạn lại tăng ít hơn, đôi khi
b́nh thường.
Diễn tiến sơ lược các
bệnh nhân nhiễm siêu vi B:
Nhiễm siêu vi B hàng năm
4. Lây lan bệnh viêm
gan siêu vi B
Qua 3 đường chủ yếu như
bệnh AIDS là t́nh dục, máu và mẹ sang con. Nhưng bệnh viêm gan siêu vi B có
thuốc chữa và thuốc ngừa khác hẳn với bệnh AIDS nên bạn thử máu có HBsAg+
đừng có hoang mang. Ắn uống vẫn b́nh thường, bệnh không lây lan qua tiếp xúc
thông thường nhưng cần chích ngừa cho những người thân.
5. Thế nào là viêm gan
mạn cần phải điều trị?
Người viêm gan mạn là
người có tiền sử viêm gan nhiều tháng, nhiều năm trước đây có những dấu hiệu
gợi ư như đau hạ sườn phải, mệt mỏi, ăn khó tiêu nhất là các chất mỡ. Thử
máu có HBsAg + , HBeAg+ , AntiHBc+ và men gan hay SGOT SGPT tăng trên
50UI/ml. Tùy theo t́nh trạng tài chánh, BS có thể cho dùng các thuốc không
chuyên biệt, giảm thiểu tổn thương tế bào gan như Nissel, Fortec, Legalon,
hoặc thuốc thật đắt tiền như Interferon.
6. Người có HBsAg(+)
đơn thuần, không triệu chứng ǵ cần điều trị không? Tại sao không điều trị?
Những người chỉ có
HBsAg(+ ) thường là t́nh cờ phát hiện sau khi thử máu, coi cần phải chích
ngừa không? Những người này không thể chích ngừa v́ vô ích, không tác dụng,
phí tiền. Những người này hoàn toàn khỏe mạnh, không có ǵ là người bệnh nếu
không thử máu gọi là người lành mang mầm bệnh . Bạn vẫn có thể sống b́nh
thường với siêu vi B đến suốt đời không sao cả. Có điều thỉnh thoảng nên thử
men gan xem có viêm gan mạn mới cần điều trị. Siêu vi B sẽ ra khỏi cơ thể
bạn một ngày nào đó khi bạn có sức đề kháng tốt. Bạn không cần phải ăn kiêng
v́ gan bạn không thương tổn, có điều nên chích ngừa cho những người thân
tránh nhiễm thêm. Bạn không cần phải điều trị với bất cứ thuốc ǵ v́ đến nay
y học vẫn chưa khám phá ra thuốc nào diệt được siêu vi B thật sự ngay cả
Interferon. Người ta đă thấy Interferon trị tốt viêm gan mạn đến 40-50%
nhưng người lành mang mầm bệnh thuốc lại ít tác dụng. Bạn không bao giờ uống
Liv 52, Legalon, Carsil nghĩ là thuốc ấy làm âm tính được mầm bệnh. Chỉ phí
tiền và uống 5,6 tháng cũng không thay đổi ǵ t́nh trạng bạn được.
7. Interferon là ǵ?
Năm 1930 , người ta thấy
các sinh vật nhiễm siêu vi đề kháng với một t́nh trạng cùng nhiễm bệnh với
siêu vi thứ 2: hiện tượng này gọi là giao thoa siêu vi. Đến năm 1957, Isaacs
và Lindermann chứng tỏ hiện tượng đó là do một chất ḥa tan mà họ gọi là
Interferon, có khả năng giúp sinh vật chống lại siêu vi.
9. Kỹ thuật bào chế ra
Interferon phức tạp ra sao?
Hăng Roche đă sản xuất
được Interferon bằng công nghệ di truyền từ năm 1984 và tung ra thị trường
từ năm 1986 dưới tên Roferon A. Để có thuốc tinh khiết, biết bao nhà vi
khuẩn học, sinh học phân tử, hóa protein, kỹ thuật gia lên men, các kỹ sư
chế biến... phải qua 4 công đoạn chính với mỗi công đoạn vô cùng phức tạp:
lấy ra gene sản xuất interferon ở tế bào người, gắn gen ấy vào vi khuẩn vô
hại là Escherichia coli, quá tŕnh ủ men để sản xuất tối đa, phân lập, tinh
khiết, t́m ra công thức của Interferon.
10. Cơ chế hoạt động
chống siêu vi của Interferon?
Interferon gắn chặt vào
những thụ thể các tế bào chuyên biệt, kích hoạt tổng hợp một số protein.
Trong đó men oligoadenylate synthetase kích hoạt men endoribonuclease phá
hủy RNA của siêu vi và làm men mRNA không bền, khiến sinh sản của siêu vi
ngừng lại. Interferon c̣n kích hoạt proteine kinase tăng gấp 10 lần, ức chế
tổng hợp protein như thế các siêu vi mới không thành lập được. Interferon
c̣n kích hoạt các đại thực bào, gia tăng hoạt tính các tế bào diệt, gia tăng
sinh sản lymphô bào B và tổng hợp kháng thể IgG.
11. Giá thành của
Roferon A ra sao?
Do kỹ thuật bào chế phức
tạp nên giá thành của một lọ 4,5M khá mắc, trên nửa triệu đồng. Mỗi tuần
phải tiêm 3 lọ như thế, một đợt điều trị viêm gan măn từ 4-6 tháng tốn từ
30-50 triệu đồng. Một số tiền đúng là khó có bệnh nhân nào kham nổi lâu dài.
12. Điều trị viêm gan
siêu vi B mạn tính bằng Interferon
Viêm gan mạn tính: chỉ
định dùng Interferon trước khi có dấu hiệu xơ gan, ung thư gan. Diệt trừ mầm
bệnh siêu vi B chỉ có được trong một số nhỏ bệnh nhân. Sự biến mất HBcAg và
HBeAg coi như có đáp ứng v́ kèm theo giảm thương tổn hủy hoại viêm tế bào
gan và giảm lây nhiễm. Sự tồn tại HBc Ag nhưng sự biến mất HBsAg và HBeAg
không có nghĩa là bệnh c̣n tiến triển.
Interferon alpha hay
Roferon A chứng tỏ ức chế sinh sản siêu vi B và điều trị lâu dài có thể làm
thuyên giảm bệnh, mặc dù cơ chế hoạt động thật sự của Interferon c̣n chưa
hiểu rơ tường tận. Điều không may cho chúng ta, việc điều trị Interferon có
hiệu quả không đầy một nửa số ca viêm gan mạn 40%, tương đối đắt tiền không
phải ai cũng kham nổi, phải tiêm không uống được và không phải không có tác
dụng phụ. Liều lượng dùng c̣n chưa định rơ, do BS điều trị quyết định từ
5-10MU, 3 lần tiêm mỗi tuần và phải tiêm từ 4-6 tháng, có theo dơi sát.
Roferon A không nên dùng
cho những người lành mang mầm bệnh hay chỉ có HBsAg+ v́ Interferon đă chứng
tỏ kém hiệu quả riêng trên mầm bệnh siêu vi B.
Nhiều tác dụng phụ của
Interferon ghi nhận như hội chứng cảm cúm đôi khi sốt rất cao, rét run, nhức
đầu tay chân, ăn không ngon, giảm cân, khó ngủ, kích thích, lo lắng, tóc
rụng, giảm tiểu cầu. Bệnh nhân tuyệt đối không nên tự mua dùng thuốc, phải
có BS chuyên khoa theo dơi chức năng gan, tế bào máu các kháng nguyên siêu
vi B. Lưu ư là hai đến bốn tháng đầu điều trị các men gan có thể tăng nhưng
sau đó giảm dần.
13. Chống chỉ định
dùng Roferon
Dị ứng thuốc Interferon,
bệnh tự miễn, suy tim, gan, thận nặng, cường hay suy tuyến giáp, bệnh động
kinh, tâm thần.
ơ. Viêm gan siêu vi C
ra sao?
Là viêm gan chủ yếu lây
bằng truyền máu đến 90% . Có khoảng 1/2 là bị viêm gan mạn diễn tiến đến xơ
gan, ung thư gan. Interferon chứng tỏ có tác dụng nhưng ít hơn với siêu vi B
khoảng 20-30% hiệu quả.
Để kết luận, Interferon
là thuốc mới chứng tỏ có hiệu quả trị viêm gan mạn do siêu vi B, C là hai
loại nặng nhất. Nhưng hiệu quả chưa được mong muốn, không hoàn toàn dưới
50%. Giá thành cho một đợt điều trị từ 4-6 tháng tốn vài chục triệu đồng.
Interferon không có chỉ định cho người lành mang mầm bệnh, hiệu quả thấp,
phí tiền. Thuốc c̣n nhiều tác dụng phụ, đôi khi khá nguy hiểm nên cần điều
trị trong BV có sự theo dơi sát của các BS chuyên khoa.
|