Về h́nh thái, u
máu được chia làm 3 loại:
-
U máu mao mạch: Xuất hiện như một vết son
hay một mảng màu rượu chát trên cùng mặt phẳng với da
b́nh thường, ấn xuống không mất màu.
-
U máu dạng hang: Thường lớn, nhô khỏi mặt
da. Trong đa số trường hợp, u lan rộng và xâm lấn mô
dưới da, cơ và có thể làm biến dạng cơ thể. Loại u này
có thể xuất hiện cả ở các cơ quan nội tạng hay trong
năo.
-
U hỗn hợp: Thường gồm cả thể hang và mạch
bạch huyết, gặp nhiều nhất ở tuyến mang tai, thương tổn
nằm cả trong và dưới da.
Các khối u này
thường nằm ở những vị trí sau:
-
Vùng mí mắt và hốc mắt: Bệnh nhân có nguy
cơ bị lăo thị hay lác. Nếu sang thương sâu hơn th́ có
thể bị sụp mí và chèn ép thần kinh thị giác.
-
Tuyến mang tai: Biểu hiện là một khối lớn
ở mang tai, gặp nhiều nhất ở trẻ gái. U ở vị trí này
thường được phát hiện sớm sau sinh, có thể gây biến dạng
mặt nhưng dây thần kinh mặt không bị ảnh hưởng...
-
Hàm trên hay dưới: ít gặp nhưng nếu chẩn
đoán và điều trị không đúng có thể dẫn đến hậu quả
nghiêm trọng (chảy máu niêm mạc số lượng lớn quanh một
răng, răng liên quan bị sưng phù và đau). Nếu nhổ chiếc
răng lung lay này, bệnh nhân có thể bị chảy máu dữ dội
và tử vong.
-
Dưới sụn nắp thanh quản: ít gặp nhưng có
thể đe dọa tính mạng. Triệu chứng (xuất hiện trong ṿng
3 tháng đầu sau sinh) gồm kḥ khè, khó thở thanh quản.
1/3 số trẻ này có u máu trên da kèm theo.
-
Ở cơ tứ đầu của đùi: Có một khối u trong
cơ. Bệnh nhân thường cảm thấy đau, vùng da trên u thay
đổi.
-
Nội tạng: ở gan, lách, dạ dày, ruột, năo.
Sự phát triển
bệnh:
-
Sau khi xuất hiện, u máu có thể lớn dần
lên, từ một vết nhỏ như nốt ruồi son, nó trở thành một
mảng hồng đậm màu, thậm chí có thể gồ lên thành mảng. U
thường lớn dần theo cơ thể trẻ em, phát triển nhanh hay
chậm tùy theo từng vị trí. Chẳng hạn, những u máu ở vùng
gần niêm mạc như môi, mắt, vùng cổ, tuyến nước bọt,
tuyến dưới hàm sẽ phát triển rất nhanh. Những u ở bề mặt
da, tứ chi, ngực, bụng, thường ít phát triển hơn so với
ở mặt.
-
U đạt kích thước lớn nhất vào khoảng
tháng thứ 6 - 10 và bắt đầu quá tŕnh thoái triển tự
nhiên sau 1 năm. U có thể biến mất hoàn toàn hay một
phần khi trẻ 5-8 tuổi.
Cách điều trị:
Trước một bệnh nhi bị u máu cần điều trị, việc cân nhắc thận
trọng giữa hiệu quả can thiệp và tác hại lâu dài cho cuộc sống
sau này của trẻ là rất cần thiết. Theo dơi diễn tiến và không
can thiệp là biện pháp tốt nhất hiện nay trong điều trị u máu.
Các bác sĩ thường rất dè dặt trong việc chỉ định phẫu thuật cho
bệnh nhân. Ngoài nguy cơ tái phát và tử vong do chảy nhiều máu,
việc phẫu thuật các u lớn ở da mặt có thể tạo sẹo xấu, nhất là
các u ở môi, mũi, tai và giữa gốc mũi.
Can thiệp phẫu thuật triệt để
được chỉ định với những u ảnh hưởng tới chức năng hoặc gây biến
dạng. Đó là:
-
U ở vùng niêm mạc.
-
U ở mắt, ống tai, đường thở.
-
U có nguy cơ lan tỏa xâm lấn.
Tùy từng trường hợp cụ thể,
cần phối hợp nhiều phương pháp điều trị.
Theo Người Lao động