Biểu hiện
Các khoang liên sườn, hơm trên ức, co kéo, cánh mũi phập phồng,
toàn thân tím tái. Cho thở oxy không đỡ. Khám phổi thấy tiếng ŕ
rào phế nang giảm, có ran ở đáy phổi. Chụp X-quang phổi b́nh
thường hoặc thay đổi nhanh là tổn thương mờ hai phổi, nên chụp
phổi nhiều lần để so sánh. Nếu nhẹ và điều trị đúng th́ sau 72
giờ các triệu chứng giảm, dần dần bệnh thoái lui.
Nếu nặng, các dấu hiệu tím tái, khó thở tăng lên, huyết áp hạ,
thân nhiệt hạ, trẻ sẽ tử vong sau vài giờ. Nếu may mắn thoát,
sau khi khỏi có thể để lại các di chứng như thiếu oxy năo, xuất
huyết năo, hạ đường huyết… Trẻ đủ tháng phục hồi tốt và tỷ lệ tử
vong ít hơn trẻ thiếu tháng.
Sự h́nh thành màng trong
Ở phổi người b́nh thường, bên trong phế nang có chứa một chất
Surfactant c̣n gọi là chất giảm hoạt bề mặt (GHBM) hay chất diện
hoạt, có tác dụng giúp cho các phế nang không bị xẹp. Chất GHBM
ở phổi bào thai xuất hiện tương đối vào tuần thứ 20. Nó phủ vách
trong của phế nang và có trong nước ối vào tuần thứ 28-36.
Ở trẻ sinh non, phổi chưa trưởng thành, chất GHBM thiếu cả về
lượng và chất, nên phế nang bị xẹp, huyết tương tràn vào phế
nang, chất fibrin của huyết tương lắng đọng phía trong của các
phế nang và các tiểu phế quản, tạo thành một lớp màng, gọi là
màng trong. Nh́n qua kính hiển vi thấy một màng màu hồng, acid,
trên màng có hồng cầu, sợi fibrin và một số mảnh vụn tế bào.
Màng này cản trở sự lưu thông khí và sự trao đổi oxy, CO2 từ
phế nang qua các mao mạch. Đưa đến dấu hiệu suy hô hấp và tử
vong rất nhanh.
Yếu tố thuận lợi gây bệnh màng
trong
Trẻ sinh non dưới 28 tuần, tỷ lệ mắc bệnh màng trong là 50-60%,
nhất là cân nặng của trẻ dưới 1.000g hoặc trẻ sinh đôi.
Trong thời gian chuyển dạ, mẹ chuyển dạ lâu, băng huyết, thai bị
suy cấp hoặc sinh ra bị ngạt.
Trong thời kỳ có thai mẹ bị bệnh đái tháo đường hoặc điều trị
một bệnh nào đó bằng corticoide kéo dài.
Yếu tố gen di truyền
Chẩn đoán
Chẩn đoán sớm: Định lượng chất GHBM trong nước ối. Tỷ lệ hai
chất lecithin/sphingomyelin (L/S). B́nh thường L/S > 2. Nếu L/S
< 2 th́ trẻ sơ sinh có nguy cơ mắc bệnh màng trong.
Trẻ sau sinh: Nếu L/S < 2 và có các biểu hiện suy hô hấp cấp. Đo
khí máu PaO2 giảm, PaCO2 tăng, có biến đổi X-quang phổi, th́
chẩn đoán là trẻ bị bệnh màng trong.
Điều trị
Đặt trẻ trong lồng ấp 36,50 - 370.
Truyền glucose, đạm mỡ, bicarbonat.
Hô hấp hỗ trợ.
Nhỏ giọt dung dịch surfactant qua ống nội khí quản vào phổi trẻ.
Dự pḥng
Đối với mẹ: Điều trị tốt
bệnh đái tháo đường, không lạm dụng chất corticoide trong thời
gian mang thai. Xác định tỷ lệ L/S trong nước ối để tiên lượng
nguy cơ trẻ bị bệnh màng trong.
Với trẻ sinh non, thiếu tháng, cân nhẹ, nên chủ động bơm chất
surfactant vào phổi qua ống nội khí quản để pḥng tránh bệnh
màng trong.
Theo TS. ĐÀO KỲ HƯNG - Sức khỏe & Đời sống