|
Bộ môn Pháp Y
PGS.TS. Trần Văn Liễu
TS. Đinh Gia Đức

Các cán bộ của bộ môn Pháp Y
Ở Việt Nam môn học Y pháp được
đưa vào giảng dạy tại Trường Y Đông Dương - tiền thân của Trường Đại học Y Dược
khoa Hà Nội sau này và Trường Đại học Y Hà Nội ngày nay - từ 1919 theo quyết
định của Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp, do một số thầy thuốc người Pháp đảm nhận,
không có bộ môn. Từ năm 1935 nước Pháp cử ông Galliard giáo sư thực thụ của Đại
học Paris sang làm hiệu trưởng Trường Y Đông Dương, một số bác sỹ người Việt Nam
sau này được bổ nhiệm đứng đầu các Bộ môn, trong đó có Bác sỹ Vũ Công Hoè trưởng
Labô kiêm phó trưởng Khoa nội (1937) và sau 1945 phụ trách Labô Kư sinh trùng và
Y pháp, sau 1945 phụ trách bộ môn Giải phẫu bệnh Y pháp, sau 1945 phụ trách bộ
môn Giải phẫu bệnh - Y pháp; c̣n bác sỹ Trương Cam Cống trưởng Labô Mô học -
Giải phẫu khẳng định bác sỹ Vũ Công Hoè và bác sỹ Trương Cam Cống là những người
thầy Việt Nam đầu tiên giảng dạy môn học Y pháp ở Trường Đại học Y Hà Nội, nhưng
vẫn kiêm nhiệm, không có Bộ môn Y pháp.
Tiền thân của Bộ môn Y pháp.
Từ những năm 1960 lănh đạo Trường
Đại học Y Hà Nội đă có ư tưởng thành lập Bộ môn Y pháp nên đă giữ lại một số
sinh viên tốt nghiệp bác sỹ loại khá giỏi làm cán bộ giảng dạy ṇng cốt cho bộ
môn như bác sỹ Tưởng Bích Trúc, bác sỹ Nguyễn Văn Quán, v.v... nhưng không
thành. Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 30/4/1975, do công tác
điều tra, xét xử phạm vi cả nước đ̣i hỏi, công tác giám định Y pháp phải đáp
ứng, nên ngày 24/2/1977 hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Hà Nội ra Quyết định
số 34/YK-QĐ thành lập tổ Y pháp trong bộ môn Giải phẫu bệnh gồm có các cán bộ:
- BS. Nguyễn Như Bằng: Chủ nhiệm
Khoa Giải phẫu bệnh, bệnh viện Việt Đức - Tổ trưởng.
- BS. Trần Văn Liễu: Cán bộ giảng dạy - Tổ phó.
- BS. Đinh Gia Đức: Cán bộ giảng dạy.
- BS. Nguyễn Văn Tuyển: Cán bộ giảng dạy.
- KTV. Nguyễn Thị Kim Hương.
TỔ Y PHÁP được thành lập mở đầu
giai đoạn cho việc giảng dạy môn học Y pháp với chương tŕnh gồm 50 tiết lư
thuyết và 32 tiết thực tập, giảng vào học kỳ II năm VI. Tổ đă đào tạo 5 khoá
chuyên khoa.
* Khoá I - 1975 - 1976 có 5 sinh
viên:
Đinh Gia Đức - Nguyễn Chí Việt - Nguyễn Trọng Hải - Lê Ngọc Hùng.
* Khoá II - 1976 - 1979 gồm 5
sinh viên"
Đào Thế Tân - Nguyễn Ngọc Quư - Đỗ Xuân Soạn - Nguyễn Trọng Lợi (Bộ nội vụ gửi)
- Lê Việt Vùng (Bộ nội vụ gửi)
* Khoá V - 1980 - 1981 có 7 sinh
viên
Phạm Xuân Toàn - Nguyễn Hữu Mạnh - Ngô Văn Trung - Đặng Văn Thao - Nguyễn Văn
Toàn - Nguyễn Đăng Thiên Tích.
Bên cạnh công tác giảng dạy, phục
vụ tố tụng, Tổ Y pháp đă quan tâm đào tạo cán bộ đi trước một bước, tạo mọi điều
kiện để BS. Đinh Gia Đức thi nghiên cứu sinh thành công và học tập ở Tiệp Khắc
về tai nạn giao thông.
Bộ môn Y pháp ra đời.
Công tác điều tra phá án ngày
càng mở rộng, xă hội đ̣i hỏi điều tra, xét xử phải công bằng, khoa học, khách
quan, đúng người đúng tội, trong đó vài tṛ của Y pháp góp phần rất quan trọng,
việc đào tạo bác sỹ Y pháp phục vụ tố tụng yêu cầu số lượng lớn, phạm vi chức
năng của Tổ Y pháp bị hạn chế, nên ngày 19/5/1983. Bộ Y tế ra Quyết định 388/
BYT-QĐ ngày 25/5/1983 thành lập Bộ môn Y pháp. Tiếp theo Quyết định 388/ BYT-QĐ
ngày 25/5/1983 Bộ Y tế có Quyết định 389/ BYT-QĐ bổ nhiệm PTS Trần Văn Liễu làm
Phó trưởng Bộ môn.
Trên cơ sở các Quyết định 388,
389/BYT-QĐ của Bộ Y tế, ngày 2/8/1983 quyền Hiệu trưởng trường Đại học Y Hà Nội
TS Nguyễn Năng An kư Quyết định 237/YK-QĐ xác định: Bộ môn Y pháp được tách từ
Bộ môn Giải phẫu bệnh là đơn vị trực thuộc Ban Giám hiệu. Biên chế của Bộ môn Y
pháp gồm có các cán bộ sau đây chuyển từ Bộ môn Giải phẫu bệnh :
1. PTS Trần Văn Liễu: Phó trưởng
Bộ môn.
2. BS Nguyễn Văn Tuyển: Cán bộ giảng dạy.
3. BS Đào Thế Tân: Cán bộ giảng dạy.
4. BS Ngô Hường Dũng: Cán bộ giảng dạy.
5. KTV Nguyễn Thị Kim Hương.
6. KTV Nguyễn Huy Tuấn.
Nhà trường mời BS Nguyễn Như
Bằng: Chủ nhiệm Khoa Giải phẫu bệnh , bệnh viện Việt Đức làm trưởng Bộ môn.
Năm học 1983 - 1984 là năm học
đầu tiên Bộ môn được thành lập, cán bộ công nhân viên ít, cơ sở vật chất hầu như
không có ǵ, chủ nhiệm Bộ môn là cán bộ kiêm nhiệm, ít có điều kiện chỉ đạo sát
sao công việc của Bộ môn, không có cán bộ chuyên sâu về Y pháp, địa bàn hoạt
động phân tán. Đặc biệt Bộ môn mới ra đời đă phải đảm nhận vai tṛ cấp trung
ương đầu ngành Y pháp cả nước do GS. Hoàng Đ́nh Cầu Thứ trưởng thường trực Bộ Y
tế giao 5/11/1983. Năm học này Bộ môn đặt tên là "NĂM XÂY DỰNG BỘ MÔN" trên 2
mặt công tác:
1. Xây dựng chính trị tư tưởng:
Đoàn kết nội bộ, đoàn kết với Khoa Giải phẫu bệnh, bệnh viện Việt Đức - ư thức
tổ chức kỷ luận - tinh thần làm chủ - chống tiêu cực.
2. Xây dựng tổ chức - cơ sở vật
chất, bám sát hiện trường - gắn giảng dạy với phục vụ.

Hoạt động của bộ môn Pháp Y
Bộ môn nhận đỡ đầu công tác giám
định Y pháp cho Sở Công an Hà Sơn B́nh (nay là tỉnh Hoà B́nh và Hà Tây) từ năm
1982 -1985, đă giúp cho Hà Sơn B́nh làm tốt công tác đấu tranh chống tội phạm
h́nh sự, nhất là trong các vụ án giết người. Đồng thời cũng tích luỹ cho Bộ môn
nhiều kinh nghiệm ứng xử pháp lư. Một khó khăn lớn đến với Bộ môn, từ năm 1984
đến 1986 Chủ nhiệm Bộ môn biệt phái giúp Đại học Cần Thơ, 2 cán bộ được động
viên vào phục vụ quân đội: (BS Ngô Hường Dũng, BS Lưu Sỹ Hùng), 2 cán bộ đi
nghiên cứu sinh nước ngoài (BS Đinh Gia Đức, BS Nguyễn Văn Tuyển), chỉ c̣n lại
PTS Trần Văn Liễu, BS Đào Thế Tân và PTS Nguyễn Phúc Cương giảng viên kiêm
nghiệm với kỹ thuật viên Nguyễn Thị Kim Hương, Nguyễn Huy Tuấn đă phải làm việc
hết sức ḿnh để hoàn thành nhiệm vị chính trị của Bộ môn.
Giai đoạn ổn định và phát
triển:
Từ sau 1988, khó khăn lớn không
c̣n, những thuận lợi căn bản đến với Bộ môn: có chi bộ, có tổ công đoàn và một
phân đoàn thành niên. Chủ nhiệm và các cán bộ đi học, biệt phái lần lượt trở về,
4 cán bộ của Bộ môn và 1 giảng viên kiêm nghiệm được bổ nhiệm làm giám định
viên, giám định viên trưởng Y pháp trung ương. Bộ Y tế giao cho trọng trách là
bộ môn đầu ngành, chủ nhiệm được phong phó giáo sư (3/3/1992) được bầu làm Bí
thư Đảng uỷ Nhà trường (1989 - 1991) và giảng viên kiêm nghiệm PTS Nguyễn Phúc
Cương cũng được phong phó giáo sư là những yếu tố góp phần làm cho uy tín của Bộ
môn được các đơn vị trong và ngoài trường biết đến.
Bộ môn đă xây dựng được chương
tŕnh, nội dung giảng dạy cho Y6 đa khoa ổn định cả về lư thuyết và thực tập.
Chương tŕnh này được các trường
Đại học Y cả nước áp dụng. Chương
tŕnh đào tạo cao học, BS chuyên khoa cấp I, BS chuyên khoa định hướng cũng đă
hoàn thành.
Bộ môn đă có tập Bài giảng Y pháp
dùng cho Y6 đa khoa xuất bản 1985, tái bản 1991 là tài liệu cơ bản cho sinh viên
học tập. Tập thể cán bộ của Bộ môn đă viết cuốn sách tham khảo Y PHÁP VỚI ĐIỀU
TRA H̀NH SỰ xuất bản 1989, tái bản 1992.
Đă hỗ trợ giảng và đào tạo cán bộ
giảng dạy cho các trường bạn như: Đại học Y Bắc Thái (Thái Nguyên), Y Hải Pḥng,
Y Thái B́nh, Y Tây Nguyên, Y Cần Thơ, Đại học Luật Hà Nội và trường Cao Đẳng
Kiểm soát Hà Nội. Giúp Tổ chức giám đinh Y pháp trung ương mở các lớp tập huấn
nghiệp vụ Y pháp cho 24 tỉnh thành phố (8 phía Bắc, 16 tỉnh phía Nam).
Đă đào tạo sau đại học: 11 khoá
chuyên khoa định hướng, 4 khoá chuyên khoa cấp I, 3 Thạc sỹ và 1 Nghiên cứu
sinh.
Nâng cao tŕnh độ cán bộ: 3 cán
bộ bảo vệ thành công luận án phó Tiến sỹ ở nước ngoài (Ba Lan, Tiệp), 2 kỹ thuật
viên cơ bằng cử nhân và 1 Y công có bằng trung cấp văn thư.
Bám sát hiện trường, bám sát thực
tế, bộ môn đă chủ tŕ và phối hợp hoàn thành 27 đề tàu cấp cơ sở, 3 đề tài cấp
Bộ và đă nghiên cứu xây dựng được 8 mô h́nh quy tŕnh thực nghiệm trên súc vật
phục vụ thực tập, minh hoạ cho lư thuyết.
Gắn cán bộ với thực tế bệnh viên
- Khoa Giải phẫu bệnh Bệnh viện Việt Đức có nhiều khó khăn nhưng lănh đạo bộ môn
luôn xác định gắn với bệnh viện là sự sống c̣n và phát triển của Bộ môn. V́ vậy,
mọi người coi công việc của bệnh viện, của Khoa như công việc của nhà trường,
của Bộ môn, hội nhập với cán bộ viên chức của khoa, nên được khoa ủng hộ giúp đỡ
có hiệu quả.
Gắn cán bộ với thực tế phục vụ tố
tụng trên tất cả các lĩnh vực giám đinh, giám định người sống, giám định tử thi
trên hiện trường, giám định qua hồ sơ... là những mục tiêu mà Bộ môn luôn bám
sát thực hiện vô điều kiện. Đă khám nghiệm hàng ngàn tử thi, hàng chục ngàn lượt
giám định tổn hại sức khoẻ, qua đó có tư liệu minh hoạ cho bài giảng đồng thời
góp phần đắc lực giúp cơ quan điều tra, xét xử giải quyết tốt các vụ án. Trong
phục vụ khó khăn gian khổ, không sợ hy sinh, b́nh đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đồng
cam cộng khổ với cán bộ điều tra v́ lợi ích chung là giữ ǵn an ninh trật tự và
an toàn xă hội.
BỘ MÔN VỚI SỰ RA ĐỜI VIỆN Y
HỌC TƯ PHÁP TRUNG ƯƠNG
Viện Y học Tư pháp Trung ương ra
đời là tất yếu của quá tŕnh xây dựng nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa Việt Nam.
Song sự ra đời của Viện không thể không nói đến công lao của cán bộ công chức Bộ
môn Y pháp trường Đại học Y Hà Nội, bởi họ là những người gieo hạt "Viện" nảy
mầm thành cây. Là bộ môn đầu ngành Y pháp được xác định từ 1983 đă tham gia giải
quyết hầu hết các vụ việc liên quan đến tố tụng phạm vi cả nước. Ngày 21/7/1989
Nghị định 117/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra đời, trên cơ sở
đó Bộ Y tế ra Quyết định 64/BYT-QĐ và Quyết định 1059/BYT-QĐ bổ nhiệm giám định
viên Y pháp trung và thành lập Tổ chức giám định Y pháp trung ương thuộc Bộ Y
tế, Bộ môn Y pháp đều có trách nhiệm ở đó. Tất cả các văn bản dự thảo các đề án
thành lập Viện dù mô h́nh lồng ghép hay không lồng ghép, chắp bút, giải tŕnh
với cấp trên, ṇng cốt vẫn là cán bộ của Bộ môn Y pháp. Viện được thành lập việc
sắp xếp tổ chức, nhân sự ban đầu của Viện, con người thuộc Bộ môn cũng được góp
phần quan trọng: Viện trưởng là chủ nhiệm Bộ môn PGS.TS Trần Văn Liễu, 1 phó
Viện trưởng là phó trưởng Bộ môn (TS Đinh Gia Đức); Trưởng pḥng kế hoách là trợ
lư giáo tài của bộ môn (BSCKI Ngô Hường Dũng). Phó khoa khám nghiệm từ thi hài
cốt trợ lư quản trị của Bộ môn (ThS Lưu Sỹ Hùng); Trợ lư Viện trưởng là trợ lư
giáo vụ của Bộ môn (BSCKI Đào Thế Tân) và tất cả các cán bộ viện chức của bộ môn
cũng đều kiêm nghiệm, công tác của Viện Trụ sở của Bộ môn đồng thời cũng là trụ
sở của Viện. Đặc biệt Viện mới thành lập, khung cán bộ chủ chốt thiếu, theo yêu
cầu của Viện, bộ môn sẵn sàng để BS Ngô Hường Dũng và CN Nguyễn Thị Kim Hương
chuyển biên chế sang Viện trực tiếp xây dựng Viện lâu dài.
Có thể khẳng định, Bộ môn Y pháp
với sự ra đời cỉa Viện Y học Tư pháp Trung ươn đă nói lên phần nào sự đóng góp
đáng kêt vào quá tŕnh h́nh thành Viện, và Bộ môn cũng đă thực hiện được chức
năng Bộ môn đầu ngành mà Bộ Y tế giao phó. Đồng thời cũng nhắc nhở cán bộ công
chức của Bộ môn, của Viện hiện nay cũng như sau này gắn bó với nhau cả về ư chí
cũng như hành động trong sinh hoạt, trong chuyên môn nghiệp vụ giúp đỡ lẫn nhau
v́ sự nghiệp khoa học Y pháp và sự nghiệp đào tạo của Bộ môn của Trường Đại học
Y Hà Nội, xây dựng Viện, xây dựng Bộ môn tiến nhanh, tiến vững chắc trên con
đường hiện đại hoá ngành Y pháp Việt Nam, từng bước hội nhập ngang tầm với các
nước trong khu vực và trên thế giới.
Update 2/3/2002
|