Nghệ thuật của pháp y (phần II)
 |
| Bác sĩ Alphone Bertillon. |
Thoạt đầu, nghệ thuật pháp y thường chỉ là việc vẽ lại nhân dạng
của tên tội phạm để đăng truy nă trên báo. Sau đó, pháp y được dùng để dựng lại
hiện trường vụ án. Bước tiếp theo, pháp y được dùng để dựng lại nhân dạng của kẻ
t́nh nghi theo những ǵ mà các nhân chứng c̣n nhớ được.
Trong lịch sử của ngành pháp y, bác sĩ Alphone Bertillon là
người có công lớn trong việc phát triển các phương pháp nhận diện mặt người. Tất
cả bắt đầu một cách đơn giản từ ư tưởng lưu trữ thông tin để phát hiện ra tỷ lệ
tái phạm tội trong những kẻ đă có tiền án. Ông đă tạo ra cả một bộ hoàn chỉnh
các tiêu chuẩn đo đạc cơ thể người. Trước khi người ta phát hiện ra đặc điểm dấu
vân tay, bộ tiêu chuẩn của ông là hệ thống chính xác nhất trong việc nhận dạng
người. Cuốn sách của Bertillon xuất bản năm 1896 về kỹ thuật này với nhiều h́nh
ảnh minh họa đă tạo ra một nền tảng cho khoa nhận diện sau này của ngành pháp y.
Một trong những minh chứng rơ nét cho hiệu quả của nghệ thuật
pháp y là vụ án bác sĩ Hawley Harvey Crippen. Năm 1910, khi vợ mất tích, Crippen
tuyên bố bà xă đă bỏ nhà đi theo một người đàn ông Mỹ. Tuy nhiên, ngay sau đó,
cô thư kư trẻ đẹp của Crippen chuyển tới ở cùng ông ta. Cô ta mặc rất nhiều quần
áo và đeo đồ trang sức của người mất tích. Khi một thám tử của Scotland Yard hỏi
Crippen về việc này th́ ông ta hoảng sợ và chạy trốn. Cảnh sát lục soát nhà
Crippen và phát hiện ra thi thể của một người phụ nữ. Dựa vào ảnh chụp cũ của bà
Crippen và hộp xương sọ t́m được, các nhà pháp y khẳng định đó chính là xác của
bà. Bác sĩ - tên sát nhân Crippen đă phải quay về nước Anh để chịu tội xử tử
bằng h́nh thức treo cổ.
Năm 1935, cảnh sát t́m được ở biên giới Anh - Scotland hai
chiếc đầu lâu và nhiều phần thân thể khác bị cắt rời, đang trong giai đoạn phân
hủy. Họ ngờ rằng đó là xác của người phụ nữ có tên Isabella Ruxton, đă mất tích
cùng với người hầu gái của ḿnh cách đó hai tuần. Dựa vào ảnh chụp chiếc xương
sọ và những ảnh cũ của bà Ruxton khi c̣n sống, cảnh sát khẳng định được nhận
định trên là chính xác. Cùng với giám định của pháp y, cảnh sát đă có đủ chứng
cứ để kết tội chồng của bà Ruxton và đưa hắn ra xử tử.
Năm 1954, bác sĩ Sam Sheppard cho biết, một kẻ đột nhập đă
đánh vợ ông đến chết ngay tại nhà. Cảnh sát sử dụng bản miêu tả của hàng xóm
sống xung quanh đó và dựng nên được một bức ảnh về nhân dạng của tên tội phạm.
Và chính nhờ bức h́nh này mà Sheppard thoạt đầu bị kết án là giết vợ nhưng sau
đó đă được tha bổng.
Đến giai đoạn những năm 1950, việc nghiên cứu xây dựng h́nh
ảnh của các khuôn mặt từ sự làm chứng của nhiều người đă trở thành một môn khoa
học thực thụ. Và các nhà nghiên cứu đă phát triển một bộ dụng cụ dùng để nhận
diện, mà phần thứ nhất là một loạt tấm giấy có h́nh ảnh các loại khuôn mặt (vẽ
tay). Căn cứ vào mẫu đó, nhân chứng có thể chọn ra loại h́nh tóc, mắt kính,
miệng, mũi, mắt, xương má, tai, râu, ria, cằm và lông mày của kẻ bị t́nh nghi.
Sau đó, những h́nh này được xếp chồng lên nhau và cho ra nhân diện tổng quát của
kẻ đó. Nhân chứng có thể điều chỉnh khuôn mặt cuối cùng sao cho nó trùng khớp
với h́nh ảnh trong trí nhớ của họ.
Sau này, các bộ nhận diện c̣n dùng ảnh thể hiện từng khuôn mặt
người, nhưng vẫn theo những nguyên lư cổ điển. Các mẫu mặt và bộ phận trên cơ
thể người được các nhà khoa học phát triển theo một mẫu chung nào đó và đưa tới
đồn cảnh sát để bổ sung vào bộ dụng cụ nhận diện. Chẳng hạn như tại Canada, cảnh
sát sử dụng tất cả 7 mẫu khuôn mặt, được coi là tổng hợp tất cả các đặc điểm
trong nhân diện người để xác định kẻ t́nh nghi.
Bộ dụng cụ xác định nhân dạng đă giúp cảnh sát t́m ra và chặn
đứng bàn tay của Harvey Glatman, một trong những tên giết người hàng loạt ghê
tởm nhất trong lịch sử nước Mỹ. Năm 1950 tại Los Angeles, hắn đóng vai một người
thợ chụp ảnh chuyên nghiệp, chuyên quyến rũ những phụ nữ trẻ muốn trở thành
người mẫu. Hắn dụ họ ra sa mạc, trói họ lại, hăm hiếp và bóp cổ họ đến chết.
Những người ở cùng pḥng với nạn nhân đầu tiên đă miêu tả kẻ giết người cho cảnh
sát. Dựa vào những lời miêu tả ấy, họ dựng nên bức chân dung của hắn chính xác
một cách kỳ lạ. Nạn nhân thứ tư của Glatman t́m cách giật được súng của hắn và
khống chế tên đồ tể. Chính những bức ảnh của kẻ t́nh nghi mà cảnh sát dựng được
đă góp phần buộc Glatman phải cúi đầu nhận tội.
Ngày 14/7/1966, Richard Speck dắt súng và dao trong người, tới
khu nhà ở của 9 nữ sinh ngành y. Hắn lần lượt hăm hiếp và giết chết 8 người và
chuẩn bị tiếp tục gây án th́ người thứ 9 may mắn trốn thoát. Cô gái duy nhất c̣n
sống sót đă miêu tả chính xác nhân dạng của kẻ giết người. Khi bức ảnh được đưa
ra rộng răi trên báo chí th́ một bác sĩ từng chăm sóc vết thương cho Speck đă
nhận ra hắn.
Đến thập niên 1970, các nhà khoa học pháp y chấm dứt việc sử
dụng những bộ công cụ nhận dạng, chuyển sang dùng tranh vẽ tổng hợp dựa vào miêu
tả của các nhân chứng. Tuy nhiên, bộ công cụ nhận dạng hoàn toàn không rơi vào
dĩ văng. Nó tiếp tục được sử dụng hiệu quả hơn nhờ sự trợ giúp của máy tính. Nhờ
công cụ này, nhân chứng được xem một loạt gương mặt theo từng nhóm cụ thể, phù
hợp với miêu tả của họ, chứ không phải từng phần khuôn mặt như trước đây. Nhân
chứng chỉ ra những đặc tính của khuôn mặt mẫu không giống với bộ mặt của kẻ t́nh
nghi, và các nhà khoa học sẽ thực hiện các thay đổi cho đến khi chúng đạt độ
chính xác cao nhất có thể. Hầu như không có hoạt động thay đổi nào liên quan tới
nhận dạng người mà lại không thể thực hiện với bộ công cụ mới này.
Tuy nhiên, dù đă có những máy móc tinh vi như vậy, vẫn có
những nhà khoa học pháp y tin vào bản vẽ của các họa sĩ hơn. Và ví dụ rơ nét
nhất là trường hợp của Jeanne Boylan, người có khả năng tạo ra phác họa về khuôn
mặt của kẻ tội phạm từ miêu tả mang tính cảm tính của các nhân chứng.
Kỳ trước
Xuân Tùng dịch
|