26o BỆNH TẬT TRẺ EM
PHẦN HAI: NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TỪNG PHẦN THÂN THỂ
------------------------------------------------------------
I. ĐẦU
1. Thóp.
Thóp là vùng mềm giữa các xương sọ bên trên trán của trẻ SƠ
SINH. THÓP SẼ CỨNG LẠI Ở
KHOẢNG từ 8 tới 18 tháng tuổi: các xương sọ lúc đó sẽ liền lại. Nếu cháu bé đă
ngoài 2 tuổi mà thóp vẫn c̣n mềm, bà mẹ cần nói cho bác sĩ biết. Ngược lại nếu
mới trong 1, 2 tháng đầu mà cháu bé đă không c̣n thóp nữa, th́ đấy cũng là điều
bất thường, có ảnh hưởng không hay tới sự phát triển của đứa bé.
Các bà mẹ thường thấy thóp căng ra khi cháu bé khóc: đó là
việc b́nh thường. Cả hiện tượng nh́n thấy và sờ thấy thóp phập phồng cũng vậy.
Thóp lúc nào cũng phải dẹt và đàn hồi. Nếu thóp bị phồng căng
lên th́ là hiện tượng bất thường: Bé có thể bị bệnh ở màng óc. Nếu thóp hơm
xuống là biểu hiện cơ thể bé thiếu nước.
Nếu v́ một tai nạn nào đó mà thóp bị va mạnh hoặc tổn thương,
phải đưa bé vào bệnh viện ngay.
2. Vẩy trên đầu.
Nếu đầu cháu có những vẩy nhỏ, phải bôi va-dơ-lin lên mỗi
chiều rồi hôm sau gội đầu cho cháu bằng loại xà bông nhẹ (shampoing). Nếu không
khỏi, cần hỏi các bác sĩ da liễu.
3. Bệnh viêm màng năo.
Ngày nay, bệnh viêm màng năo là một bệnh đáng ngại, tuy rằng
việc chẩn đoán và phát hiện bệnh có nhiều điều kiện để thực hiện được nhanh hơn
trước.
Một triệu chứng rơ nhất ở trẻ sơ sinh là khi các cháu bị bệnh
viêm màng năo th́ thóp bị căng và phồng lên: cần phải đưa cháu đi bệnh viện hoặc
tới bác sĩ ngay.
Những triệu chứng ở các cháu lớn là nôn ói nhiều, phọt ra
thành tia, sốt, đau đầu và đặc biệt là hiện tượng bị cứng gáy không thể gập cổ
lại, để cằm đụng được ngực như ngày thường giống với mọi NGƯỜI.
Ở BỆNH VIỆN, NGƯỜI ta thường phải lấy nước tủy để xét
nghiệm xem cháu bị bệnh do vi trùng HOẶC VI RÚT.
BệNH VI? MàNG NăO DO VI TRùNG - Làm
cho nước tủy của cháu bé bị bệnh có mủ. Cháu bé càng nhỏ th́ bệnh càng nguy
hiểm. Một số vi trùng có thể là nguyên nhân của bệnh này như vi trùng bệnh phổi
(phế cầu trùng), liên cầu trùng, hoặc hémophilus (xem mục 210: hémophilus là
ǵ?). Bệnh này có thể xuất hiện thành dịch. Trong thời gian có dịch, người ta có
thể lấy chất mẫu ở họng những trẻ nghi bị bệnh để xét nghiệm và phát hiện những
trẻ có mang vi trùng. Đối với những người có tiếp xúc với người bệnh và các trẻ
bị bệnh, bác sĩ thường cho uống thuốc kháng sinh hoặc thuốc sulfamide trong 5
ngày liền để trị hoặc pḥng bệnh.
Hiện nay, đă có thuốc tiêm pḥng vi trùng hémophilus, nhưng
chưa có thuốc pḥng bệnh hữu hiệu đối với màng năo cầu.
BệNH VI? MàNG NăO DO VI RúT - Chất
lỏng lấy ra từ cột sống các cháu bị bệnh này do vi rút thường trong vắt, không
có mủ và vi trùng. Những triệu chứng của bệnh cũng giống như trên, nhưng nhẹ
hơn. Không cần thuốc kháng sinh bệnh cũng tự khỏi trong vài ngày, người ta phát
hiện bệnh bằng cách xét nghiệm kháng thể trong máu. Bệnh có THỂ DO CHÁU BỊ QUAI
BỊ HAY NHIỄM MỘT SỐ VI RÚT KHÁC.
BệNH VI? MàNG NăO DO LAO - Hiện nay
hiếm thấy v́ các cháu đă được tiêm BCG pḥng lao từ nhỏ.
4. Bé rụng tóc hoặc không có tóc.
Nhiều bà mẹ lo ngại con ḿnh bị hói v́ quăng đầu Bé đè lên
gối khi nằm, không có tóc. Thật ra, hiện tượng này là b́nh thường, chỉ do v́ ma
sát mà thôi. Lẽ dĩ nhiên, có nhiều đứa trẻ khác cũng nằm như thế mà vẫn có tóc.
Nhưng, tóc Bé có thể mảnh mai hơn, dễ rụng hơn và cháu hay nằm lâu ở một tư thế
hơn là các Bé khác, đặc biệt là nằm ngửa.
Nếu cháu đă lớn nhưng vẫn rụng tóc th́ rơ ràng là có vấn đề
cần chú ư: có thể cháu bé có thói quen giật tóc hoặc soắn tóc ḿnh. Ngoài ra,
sau khi khỏi bệnh sốt thương hàn cũng bị rụng tóc. Một số dược phẩm, thuốc uống
cũng có tác dụng như vậy.
Một số ít các cháu có những mảng da trống không có tóc trên
đầu do bị nấm tóc, cần phải chữa trị ngay v́ bệnh này có thể kéo dài và lây.
Một số trẻ từ 2 tuổi trở lên bị rụng tóc từng mảng lại do
những nguyên nhân tám lư.
Nói chung, khi xác định một đứa trẻ có chứng rụng tóc, cần
phải đưa cháu tới bác sĩ để t́m nguyên nhân và chữa trị .
5. Chấy.
Một cháu bé sạch sẽ vẫn có thể lây chấy của các cháu khác,
các cháu có chấy hay găi đầu v́ bị ngứa. Nh́n kỹ vào tóc của các cháu, bạn sẽ
thấy các trứng chấy nhỏ, tṛn, mầu xám bám vào tóc.
Hăy gội đầu hàng ngày cho cháu bằng các chất thuốc chống chấy
bán ở hiệu thuốc trong 5 ngày liền. Hăy dùng xà pḥng gội kỹ lại, chải tóc bằng
lược bí (có răng lược khít).
Nhúng lược vào dấm nóng để chải rồi lấy khăn sạch trùm lên
tóc các cháu một hồi lâu.
Thay và giặt áo gối, khăn trải giường và quần áo mỗi ngày cho
các cháu!
6. Mắt.
Những vấn đề về mắt đă được đề cập trong những mục: đau mắt
đỏ, chắp, lác v.v...
Nếu đau mắt v́ bị chấn thương cần phải tới ngay bác sĩ chuyên
khoa mắt để khám mắt. Tất cả các hiện tượng bất thường ở mắt nói chung; ở giác
mạc, thủy tinh thể, con ngươi nói riêng, đều ảnh hưởng tới thị giác và có thể
làm khả năng nh́n của cháu bé kém đi.
PHáT HIệN MắT KéM - Cũng như việc
nghe kém, việc nh́n kém của các cháu cần phải phát hiện và t́m nguyên nhân từ
sớm. Thí dụ: hiện tượng lác mắt cần phải luyện tập cho các cháu cách nh́n theo
một phương pháp riêng để chữa trị và luyện tập càng sớm càng tốt.
Có nhiều phương pháp thử nghiệm để phát hiện xem các cháu có
bị kém về thị giác hay không. Có cháu mới được vài tháng cũng cần phải đeo kính.
7. Giảm thị lực.
Trẻ mới được mấy tháng có thể mắc chứng giảm thị lực nh́n
không tinh ở một bên hay cả hai bên mắt. Có thể thử đơn giản bằng cách rọi tia
sáng vào mắt cháu rồi theo dơi phản ứng. Nếu có nghi ngờ ǵ phải đưa cháu đến
bác sĩ chuyên khoa mắt.
8. Chắp (lẹo) mắt.
Chắp mắt là loại mụn nhỏ mọc ở bờ mi mắt, dưới chân một lông
mi. Chắp chóng khỏi nhưng dễ bị lại. Muốn trị chắp, chỉ cần bôi lên chắp loại
pommát kháng sinh.
Nguyên nhân chắp là do một loại tuyến nhỏ ở bờ mi bị nhiễm
trùng.
9. Chứng lác mắt.
Trong mấy tháng đầu, có lúc mắt trẻ sơ sinh có vẻ như hơi
lác. Hiện tượng này về sau tự nhiên sẽ hết, v́ trong những ngày đầu của cuộc
sống, hai mắt các cháu chưa phối hợp khớp với nhau mà thôi.
Nhưng, nếu hiện tượng này kéo dài và thường xuyên th́ bà mẹ
phải đưa cháu tới bác sĩ chuyên khoa mắt ngay, càng sớm càng tốt.
Lác thường là khuyết tật của một bên mắt. Cần phải tập luyện
cho bên mắt bị tật. Bác sĩ sẽ băng kín bên mắt không bị tật lại để luyện tập cho
mắt kia hoặc cho cháu đeo kính có mắt kính đặc biệt để điều chỉnh hướng nh́n cho
mắt cháu. Khi mắt cháu đă nh́n được b́nh thường rồi bác sĩ có thể thực hiện thêm
một cuộc phẫu thuật thẩm mỹ nhỏ nữa.
10. Đau mắt đỏ.
Nhiều khi các cháu nhỏ vừa bị ho, vừa đau mắt đỏ. Ḷng trắng
mắt ngứa, hơi sưng và màu đỏ. Khi cháu hết ho, th́ mắt cũng khỏi.
Nếu cháu chỉ bị đau mắt thôi, ḷng trắng mắt màu đỏ, luôn
chảy nước mắt, buổi sáng mí mắt dính vào nhau v́ dỉ màu vàng đến nỗi cháu không
mở mắt được, th́ phải đưa cháu tới bác sĩ khám mắt. Trong khi chưa có bác sĩ,
bạn có thể rửa nhẹ nhàng mắt cháu bằng nước ấm.
Nếu cháu mới được mấy tuần mà đă bị đau mắt như vậy th́ chúng
ta phải t́m xem có phải cháu bị tắc ống lệ đạo hay không. Lệ ĐẠO LÀ ĐƯỜNG DẪN
NƯỚC MẮT.
CHƯNG ĐAU MắT CủA TRẻ SƠ SINH -
Cháu bé khi mới sinh ra dễ bị lây nhiễm chất bẩn hay vi trùng vào mắt. Bởi vậy,
khi mới lọt ḷng, cháu thường được các bà đỡ tra thuốc pḥng bệnh vào mắt như
dung dịch nitrat bạc.
V́ nitrat bạc cũng không trừ diệt được một số vi trùng như
trùng bệnh chlamydia, ngày nay người ta thường nhỏ thêm thuốc kháng sinh như
cycline.
KHI MỘT CHÁU BÉ VỪA S ỐT, HO, VÀ MẮT RẤT ĐỎ, CŨNG NÊN NGHĨ TỚI MỘT SỐ BỆNH
DO VI RÚT GÂY RA, CHẲNG HẠN NHƯ BỆNH SỞI.
11. Xỏ lỗ tai.
Một số bà mẹ muốn xuyên vành tai dưới cho con gái để đeo đồ
trang sức. Việc làm này không có ǵ nguy hiểm với điều kiện các dụng cụ dùng để
xuyên lỗ tai cho trẻ phải được rửa sạch và tiệt trùng cẩn THẬN, NHẤT LÀ HIỆN
NAY, KHI ĐANG CÓ DỊCH BỆNH AIDS tràn lan trong thành phố.
12. Viêm xương chũm ở tai.
Sau vành tai mỗi người chúng ta đều có một g̣ xương vồng lên
với đặc điểm là có những điểm nhỏ hơm xuống, v́ thế được gọi là xương chũm.
Trong số các hơm này, quan trọng nhất là hơm thông với tai trong. Khi tai giữa
bị viêm, hơm này dễ bị nhiễm trùng và mưng mủ.
Ngày nay, chứng viêm xương chũm không c̣n phổ biến như trước
kia. Nhưng việc phát hiện các cháu nhỏ, nhất là các cháu sơ sinh mắc chứng này ở
giai đoạn đầu rất khó, v́ các cháu chỉ biết khóc mà không nói được là đau ở đâu.
Bởi vậy, các bà mẹ cần chú ư, khi thấy tai của cháu bé chảy
nước hay chảy mủ nhiều, màng nhĩ có sắc thái khác thường, cháu bị sốt và người
gầy rộc đi. Cần đưa cháu tới bác sĩ chuyên khoa tai-mũi-họng để khám. Nếu việc
uống thuốc kháng sinh đă kéo dài mấy tuần mà cháu vẫn không khỏi th́ phải phẫu
thuật để chữa trị.
13. Viêm tai trong.
Phần trong tai, sau màng nhĩ khi bị viêm thường kèm theo viêm
họng. Các cháu bé sơ sinh hay bị chứng viêm này v́ trong tư thế nằm, con đường
thông nhau giữa tai và sau mũi trở nên rộng thoáng khiến vi trùng và VI RÚT DỄ
LÂY LAN Ở CẢ 2 NƠI.
NHƯNG BIểU HIệN ở CHáU Bé - Những
cháu bé chưa nói được khiến người lớn không biết cháu đau ở trong tai. Cháu có
thể khóc, cọ tai xuống gối, nhưng cũng không đủ để mọi người hiểu. Tuy vậy, có
một số triệu chứng sau làm chúng ta có thể nghĩ tới chứng viêm tai trong: cháu
bị rối loạn tiêu hóa, đi tướt (ỉa lỏng), nôn ói, ho, cựa quậy luôn và khó ngủ.
Việc đầu tiên của bác sĩ là khám tai và coi nhĩ tai cho cháu.
Với các cháu lớn th́ việc xác định bệnh dễ dàng hơn v́ CÁC
CHÁU NÓI ĐƯỢC LÀ THẤY ĐAU TRONG TAI.
PHƯƠNG PHáP CHữA TRị - Thoạt đầu,
khi tai bé bắt đầu bị sưng, đau, bác sĩ thường cho thuốc nhỏ vào tai để giảm
đau. Sau này khi chỗ viêm đă có mủ, nhiều khi bác sĩ tai-mũi-họng phải t́m cách
chọc một lỗ thủng ở nhĩ làm lối thoát cho mủ chảy ra và lấy mủ xét nghiệm xem
chỗ viêm bị loại vi trùng hay vi rút nào gây bệnh.
HIệN TƯợNG TAI CHảY Mủ - Nhĩ có thể
tự thủng để mủ chảy ra ngoài. Trường hợp này vẫn cần phải đi khám bác sĩ chuyên
khoa tai-mũi-họng, v́ như vậy chưa phải là bệnh sẽ hết. Ngay việc cho các cháu
uống thuốc kháng sinh, bác sĩ cũng phải cân nhắc và theo dơi. Nhiều khi nh́n bề
ngoài nhĩ, tưởng như đă khỏi v́ thuốc có tác dụng nhanh nhưng thật ra không phải
như vậy. Bệnh vẫn âm ỉ, chưa khỏi hẳn và có những biến chứng vào xương chũm
khiến đứa trẻ sút cân, gầy yếu, và tới một lúc nào đó, bệnh lại trở lại.
Sau nhiều lần uống thuốc kháng sinh, tai không có mủ nữa
nhưng lại có một chất nước sền sệt. Hiện tượng này kéo dài khiến nhĩ bị tổn
thương nặng làm Bé bị giảm thính lực.
Trong thời gian chữa trị, Bé phải gài trong tai một ống
thông, có khi trong nhiều tháng.
Nếu Bé bị đau tai nhiều lần, bị đi bị lại, các bác sĩ sẽ nạo
V.A cho cháu.
14. Vành tai dị dạng.
Nếu vành tai cháu bé xa da đầu quá, chớ nên dính vành tai vào
da đầu bằng băng keo hoặc bắt cháu đội mũ xụp xuống cả ngày để ḥng sửa đổi được
cái dáng của đôi tai.
Bạn hăy kiên tŕ đợi tới khi cháu lên 8 hoặc 9 tuổi, v́ tới
lúc đó mới sửa được cho cháu bằng phương pháp phẫu thuật rất đơn giản.
15. Vật lạ trong tai.
Nếu bạn không thể lấy ngay vật mà Bé đă nhét vào tai cháu th́
đừng cố. Như vậy, bạn có thể làm tổn thương ống tai của Bé. Hăy đưa BÉ TỚI BÁC
SĨ KHOA TAI-M ŨI-HỌNG NGAY. Ở đó, bác sĩ có các dụng cụ chuyên môn để lấy vật ra.
16. Điếc.
Điếc là chứng bệnh không phải là hiếm thấy ở trẻ em. Các cháu
có thể bị nghễnh ngăng hoặc điếc hoàn toàn. Hậu quả của tật điếc làm các cháu
chậm biết nói. Nhiều bà mẹ không biết con ḿnh bị tật này v́ thấy con vẫn b́nh
thường, nghĩ rằng cháu bé chỉ phát triển chậm đôi chút về trí tuệ. Một cháu bé
hát sai có thể v́ nghe không tốt: cần phải kiểm tra KHẢ NĂNG THÍNH GIÁC CỦA
CHÁU.
PHáT HIệN TậT ĐIếC của các cháu
càng nhỏ, càng khó. Bố, mẹ các cháu nhỏ nên để ư theo dơi phản ứng của các cháu
với các tiếng động hàng ngày như: tiếng nói nhỏ, tiếng rađiô, tiếng tích tắc
đồng hồ, tiếng kẹt cửa v.v... Nếu có điều ǵ nghi ngại, nên đưa ngay cháu tới
bác sĩ chuyên khoa tai để thử.
Việc kiểm tra định kỳ về thính giác cho các cháu thường được
tiến hành khi các cháu được 9 tháng và 24 tháng. Hiện nay, ở các bệnh viện sản
hoặc nhà hộ sinh, người ta đă áp dụng các phương pháp kiểm tra thính giác cho
các cháu bé mới sinh được vài ngày hay vài tuần.
NGUY? NHÂN CủA TậT ĐIếC th́ nhiều :
- Cháu bé có thể bị điếc bẩm sinh do di truyền hoặc bị nhiễm
bệnh ngay từ khi c̣n trong bụng mẹ, như bệnh thủy đậu chẳng hạn.
- Cháu bị điếc nhẹ sau khi mắc một số bệnh; hoặc bị viêm tai
mà chữa trị nửa chừng; hoặc do uống một số thuốc kháng sinh (như gentamicine) và
bị ảnh hưởng của thuốc.
17. Vật lạ trong mũi.
Nếu Bé tống một vật nhỏ và làm kẹt vật đó trong mũi, th́ bạn
cần lấy ngay ra cho cháu. Nhưng phải cẩn thận, nếu không, bạn có thể làm cho vật
tụt sâu thêm vào làm thương tổn tới phần niêm mạc bên trong. Nếu khó lấy vật ra,
không nên cố mà nên đưa Bé tới bác sĩ chuyên khoa về tai-mũi-họng v́ ở đó có
nhiều dụng cụ chuyên môn để thực hiện việc đó có kết quả.
18. Sổ mũi, viêm mũi, viêm mũi - họng.
S Ổ MŨI LÀ MỘT CHỨNG NHẸ Ở trẻ em: thán nhiệt hơi cao hơn b́nh thường, mũi chảy nước (một chất
nhầy lỏng, không màu). Với các cháu lớn, chỉ vài hôm là khỏi. Các cháu bé sơ
sinh th́ kèm theo một vài hiện tượng như khó ngủ, khó thở làm cho các cháu bú
khó (v́ khi bú không thở được).
Các bà mẹ có thể dùng các dụng cụ hút nước mũi cho các cháu,
thường bán ở các hiệu thuốc; nhỏ mũi cho các cháu bằng các loại thuốc dành riêng
cho trẻ em. Tránh dùng các thuốc có dầu và các loại thuốc làm co mạch máu.
Viêm mũi-họng là chứng bệnh về mũi nhưng lan từ phần sau của
hốc mũi cho tới họng và có các triệu chứng như: chảy nước mũi, có thể sốt cao,
thân nhiệt tăng đột ngột nên có thể gây co giật ở các cháu nhỏ, ho, không chịu
ăn, ỉa chảy.
Để chữa trị cần : nhỏ thuốc mũi cho cháu, cho uống thuốc sốt.
Bệnh sẽ khỏi sau vài ngày.
Tuy vậy, bệnh có thể biên chứng như : viêm tai, viêm thanh
quản, viêm phế quản và phổi.
Để chữa những biến chứng này, phải cho cháu uống thuốc kháng
sinh theo liều lượng đă được bác sĩ chỉ định.
Viêm mũi-họng tái phát - Mùa đông,
các cháu bé thường bị đi bị lại bệnh viêm mũi-họng, dẫn tới viêm tai khiến các
cháu thường xuyên bị ho, sổ mũi, xuống sức và chậm lớn.
Nguyên nhân có thể do: dị ứng, khả năng miễn nhiễm của cơ THỂ
YẾU, THIẾU CHẤT SẮT, THIẾU VITAMIN D. Nhưng, cũng có thể do các điều kiện về khí hậu và nơi ở như:
không khí khô tự nhiên hoặc v́ sưởi nóng, bụi phấn hoa, sự lây nhiễm giữa các
trẻ trong tập thể, khói thuốc lá do người lớn hút trong nhà đóng kín cửa v.v...
Cũng nên chú ư rằng cơ thể các cháu nhỏ sau thời gian tránh
được một số bệnh v́ thừa hưởng khả năng miễn nhiễm của mẹ và do bú sữa mẹ, nay
phải đi vào một thời kỳ tập tự chống chọi với các vi trùng và vi rút. Do đó, có
thể coi mỗi lần cháu bé bệnh là một lần cơ thể của cháu có dịp luyện tập để
chống cuộc xâm lăng của các nhân tố có hại tấn công từ bên ngoài, để tạo cho
ḿnh khả năng chống nhiễm. Giai đoạn miễn nhiễm của trẻ hết khi cháu 6 - 7 tuổi.
Bởi vậy, việc dùng thuốc kháng sinh để chữa trị cho các cháu
phải theo sự chỉ định có cân nhắc của bác sĩ. Chỉ dùng thuốc để trị bệnh, chưa
hắn đă là tốt. Phải dành phần tiêu diệt vi trùng và vi rút cho chính cơ thể của
cháu bé, sao cho cơ thể có khả năng tự miễn nhiễm, tăng cường sức khỏe cho cháu
bé như cho cháu tắm nắng, thay đổi không khí chỗ ở (ĐI NGHỈ Ở BIỂN, Ở
NÚI...), dùng thuốc để có thêm chất gammaglobuline trong máu, tổ chức các cuộc
đi tắm nước khoáng v.v...
Nếu cháu luôn bị đau tai cũng nên nghĩ tới vấn đề nạo V.A Ở HỌNG CHO CHÁU. VIỆC NẠO V.A CŨNG có
tác dụng làm cho cháu thở dễ khi ngủ, tránh được tật ngáy.
19. TẬT SỨT MÔI.
C Ó cháu bé mới sinh đă bị tật sứt môi: một đường nứt từ dưới mũi chạy
xuống, chẻ đôi môi trên.
Chữa tật này phải phẫu thuật làm 2 giai đoạn: khâu dính liền
chỗ đứt của môi và xử trí để nổi phần hàm bên trong vết nứt ở ṿm họng.
Trong thời gian chữa, các cháu bé phải bú bằng những núm vú
giả đặc biệt v́ nuốt khó.
Sau giải phẫu, các cháu c̣n cần được theo dơi về các mặt
răng, lợi, tai-mũi-họng và học phát âm cho chính xác. Tốt nhất là đưa các cháu
tới những kíp chuyên gia điều trị tật này.
20. Răng.
Rối loạn mọc răng, có thể khiến đứa trẻ rên rỉ v́ đau, không
ăn được và mất ngủ. Lợi cháu bị sưng làm má cũng tấy đỏ nước dăi chảy khỏi miệng
cả ngày. Cháu quấy.
Bạn có thể làm cho cháu giảm đau hay quên đau bằng cách :
- Cho cháu một miếng bánh mềm, một cái bánh bích quy.
- Tẩm vào khăn tay một ít sirô hoặc nước thơm rồi xoa nhẹ VÀO
LỢI, CHỖ RĂNG ĐANG NHÚ LÊN. CÓ thể thay bằng một cục nước đá nhỏ quấn trong khăn.
- Cho cháu uống aspirine.
Đôi khi cháu c̣n bị sốt và đi tướt (ỉa lỏng). Nếu sốt cao,
cũng tác dụng xấu bởi các cháu sẵn có chứng co giật. Do đó, khó xác định được là
cháu bị sớt do răng đau hay v́ một bệnh nào khác.
Trong trường hợp cháu bị sốt nhiều, nên để bác sĩ chẩn ĐOÁN
NGUYÊN NHÂN :
LUNG LAY RĂNG V́ TAI NạN - Nếu cháu
bé bị ngă mà găy hoặc lung lay răng, nên đưa cháu lại nha sĩ ngay để xem c̣n có
thể giữ dược răng không. Muốn răng khỏi rơi ra trong khi đi bạn có thể bọc quanh
răng một đoạn kẹo cao su và bảo cháu cắn răng lại.
MUốN CáC CHáU Có Bộ RĂNG TốT, PHảI LàM Ǵ ?
Phải chú ư cung cấp cho các cháu đủ chất Canxi và Phốtpho
trong thức ăn. Những nguyên tố này có trong sữa và các sản phàm của sữa, trứng
và rau.
- Dạy các cháu biết cách đánh răng từ nhỏ.
- Tránh các nguyên nhân gây sâu răng như ăn kẹo buổi tối
- Dùng thêm chất Fluor hàng ngày, theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.
21. Sâu răng.
Trẻ em có những cái "răng sữa" cho tới 6 tuổi. Tuy những răng
này rồi dần dần sẽ rụng hết, nhưng các bậc cha mẹ không nên coi thường hiện
tượng răng sâu của các cháu. Trái lại, răng nào sâu cần phải chữa hoặc nhổ đi để
không ảnh hưởng tới răng khác bên cạnh sắp mọc hoặc đang mọc. Nhất là các răng
đang mọc lại là những răng vĩnh viễn.
Trẻ em có răng sâu nhai thức ăn không kỹ. Do đó, việc tiêu
hóa không được tốt. Chỉ cần có một cái răng sâu cũng đủ làm cho việc nhai,
nghiền thức ăn của cả hàm răng bị kém hiệu quả. Mỗi cái răng sâu lại LÀ MỘT Ổ
VI TRÙNG CÓ THỂ gây ra nhiều loại bệnh do bị viêm nhiễm. Các cháu có bệnh tim
hoặc bệnh thấp khớp cấp càng phải đặc biệt giữ ǵn bộ răng cho khỏi sâu.
Việc cần thiết nhất là: dạy cho trẻ cách đánh răng từ nhỏ,
cho trẻ đi khám răng thường kỳ, cho ăn ít đồ ngọt, không ăn vào buổi tối, dùng
kem đánh răng có chất Fluor. Dù cái răng chỉ có một chấm đen, cũng cần tới bác
sĩ chữa răng ngay: càng chữa sớm, càng chóng khỏi và đỡ tốn tiền.
Những thức ăn ngọt ăn trong bữa ăn sẽ bị nước bọt tiết ra
nhiều làm trung ḥa tính chất axít của đường.
Nhưng nếu các cháu ăn kẹo nhất là các kẹo dễ dính vào răng -
vào buổi tối rồi đi ngủ, trong miệng không đủ nước bọt làm tan kẹo và trung ḥa
chất xít do đường biến chất đọng lại ở các kẽ răng, chất axít này sẽ làm hỏng
men răng và phá hoại các chân răng.
Kinh nghiệm cho thấy chất Fluor có tác dụng chống sâu răng.
Bởi vậy, ở một số nước, người ta pha Fluor vào nước uống, vào sữa hoặc trộn vào
muốí ăn. Một số rau, cá có chứa Fluor. Trong thành phần nhiều loại thuốc đánh
răng ngày nay cũng có Fluor. Các bác sĩ c̣n hướng dẫn cho các bà mẹ cho các cháu
bé mới sinh uống một lượng nhỏ Fluor mỗi ngày ngay trong những tháng đầu.
22. Hạt cơm trong miệng.
Bên trong miệng ở phần trong má và môi của Bé, có thể có
những hạt nhỏ màu trắng xám mọc lên rải rác, đôi khi có nhiều làm bé bị vướng và
đau khi ăn, uống. Do đó, Bé không chịu ăn.
Có thể lấy bông quấn vào đầu tăm, tẩm thuốc sát trùng và chấm
khẽ vào các hạt trên.
Cho Bé ăn loăng, mát (sữa để hơi lạnh).
23. Chứng tưa miệng do vi rút.
Chứng bệnh này do vi rút gây ra làm cho bên trong miệng của
cháu bé (má, lưỡi, lợi) có nhiều vết loét nhỏ, nằm dưới một lớp màng trắng. Khi
màng trắng này bong ra, những vết loét càng đau rát làm cho cháu bé không ăn
được, v́ việc tiếp xúc với thức ăn, dù là thức ăn lỏng, cũng làm các cháu đau.
Hiện tượng này kéo dài trong 4, 5 ngày. Trong thời gian mang bệnh, cháu bé chảy
nhiều nước dăi, miệng hôi và có thể sốt tới 40oC.
Bác sĩ thường cho các cháu thuốc bôi miệng. Các bà mẹ nuôi
các cháu nên kiên nhẫn cho các cháu ăn ít một các món súp, nước quả, nước đường
ướp lạnh... Trong khi cháu bé mang bệnh, tránh để cháu tiếp xúc với các cháu
khác.
24. Bệnh tưa do nấm.
Bệnh tưa là loại bệnh nấm biểu hiện dưới dạng những đốm trắng
như cặn sữa trong mồm. Toàn bộ chỗ mọc nấm màu đỏ, đụng vào đau khiến các cháu
bé bỏ ăn. Hiện tượng này có thể xảy ra cả trong bộ máy tiêu hóa từ miệng tới hậu
môn. Tuy vậy, bệnh dễ khỏi nếu cho cháu uống thuốc đúng theo sự chỉ định của bác
sĩ.
25. Viêm xoang hàm.
Bệnh viêm xoang thường hiếm gặp ở trẻ em nhỏ hơn 4 tuổi Các
cháu nhỏ thường bị bệnh xoang do dị ứng. Nếu cháu bị viêm xoang măn tính, các
bác sĩ thường chẩn đoán bằng cách chụp X-quang, các xoang ở mặt. Một cháu bé bị
viêm mũi, phế quản tái đi tái lại và ho dai dẳng cũng thường phải làm xét nghiệm
này.
26. Nhức đầu.
Bệnh nhức đầu thường hiếm thấy ở trẻ em dưới 4 tuổi và chỉ
thấy ở tuổi đă tới trường học. Các cháu hay kêu đau ở một bên trán, đằng sau một
bên mắt. Cơn đau rần giật ở đầu như nhịp tim, lâu hàng giờ, trở đi trở lại, gây
nôn ói hoặc làm mắt nẩy đom đóm. Đôi khi đă nhức đầu c̣n kèm theo cả đau bụng
nữa.
Mỗi cháu có thể đau một kiểu khác nhau.
Sau khi loại bỏ các bệnh khác, bác sĩ thường cho rằng cháu bị
nhức đầu v́ truyền thống, trong gia đ́nh, họ hàng từ xưa đă từng có người nhức
đầu như thế.
27. Đau đầu.
Nếu trẻ em bất chợt bị đau nhức đầu dữ dội kèm theo sốt và
nôn ói, hăy nghĩ ngay tới bệnh đau màng óc và phải đưa cháu tới bác sĩ ngay.
Nhiều khi, cháu chỉ bị cúm theo mùa hoặc nhiễm một căn bệnh nào khác thôi. Nếu
cháu hay bị đi bị lại, nên cho cháu đi kiểm tra mắt, khám xem có bị viêm xoang
không. Cũng nên đề pḥng xem cháu bị tổn thương ở năo không, có bị huyết áp cao
không, có bị nhiễm độc v́ khí ôxít các bon không?
V́ nguyên nhân gây ra chứng đau đầu th́ nhiều, nên chỉ có bác
sĩ mới xác định được bệnh và có khi c̣n phải cho cháu đi chụp hộp sọ nữa.
Nhưng nhiều khi nguyên nhân bệnh lại có tính chất tâm lư như
cháu bé lo sợ một điều ǵ, quá cảm động hoặc bị căng thẳng thần kinh v́ vừa qua
một cuộc thi kiểm tra ở lớp học.
MỤC LỤC
YKHOANET - Website Y Khoa Việt Nam
|