26o BỆNH TẬT TRẺ EM
II. NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CỔ
28. Tật vẹo cổ bẩm sinh.
Cháu bé có thể bị tật vẹo cổ ngay trong những tuần lễ đầu
tiên: đầu cháu bé nghiêng xuống một bên vai trong khi cằm lại quay về hướng
khác.
Nguyên nhân gây ra chứng này do các bắp thịt cổ ức đ̣n chũm
có tật nên kéo cổ và đầu về một phía. Đôi khi người ta có thể nắn thấy một cục
cứng ở chỗ bắp thịt có tật đó.
Người ta có thể chữa chứng này bằng phương pháp vận động trị
liệu, hoặc tiến hành một cuộc phẫu thuật ở dây chằng của bắp thịt. Chứng này
cũng có thể là do có tật ở xương sống cổ. Tuy nhiên trường hợp này hiếm thấy
hơn.
29. TẬT VẸO CỔ Ở TRẺ EM.
ở trẻ em đă lớn hơn một chút, tật
vẹo cổ có nhiều nguyên nhân khác nhau: nhiều khi do một chấn thương nào đó mà
người lớn không biết, hoặc do ảnh hưởng tư thế nằm của các cháu khi ngủ. Mắt lác
cũng có thể làm các cháu vẹo cổ đi để nh́n cho rơ; hoặc bệnh viêm họng làm nổi
hạch ở cổ, việc dùng thuốc như thuốc Primpéran chống nôn - làm co các cơ bắp ở
cổ đều cũng có thể là nguyên nhân.
Nếu cháu bé vẹo cổ v́ những nguyên nhân trên th́ không cần
phải chữa trị, tật vẹo cổ của cháu cũng sẽ hết sau một vài ngày.
Nếu tật này kéo dài, cần tới bác sĩ để xét nghiệm t́m những
nguyên nhân có liên quan tới hệ thần kinh hoặc bệnh thấp khớp.
30. Tuyến giáp.
Tuyến Giáp có vai tṛ rất quan trọng đối với sự phát triển
toàn bộ cơ thể của trẻ em. Nếu thiếu tuyến này hoặc tuyên phát triển không b́nh
thường, lượng hoóc-môn Giáp tiết ra không đủ cung cấp cho cơ thể sẽ dẫn tới các
chứng: chậm phát triển về chiều cao và về trí khôn. Bởi vậy, cần phải chú ư phát
hiện bệnh càng sớm càng tốt v́ việc chữa trị bằng hoócmôn Giáp tiến hành càng
sớm chừng nào càng tốt chừng ấy cho sự phát triển của cơ thể và trí tuệ.
Những triệu chứng của căn bệnh về tuyến giáp có thể thấy ngay
trong những tuần lễ đầu tiên của cháu bé: cháu không hoạt động, không kêu, không
khóc, không đ̣i ăn, ngủ nhiều và ít cựa quậy. Lưỡi bé lớn khác thường khiến cháu
khó ngậm vú hoặc tu b́nh sữa, cháu đi táo, da tái và lạnh.
Nếu chụp X-quang, bác sĩ sẽ thấy những dấu hiệu bộ xương bị
dị dạng hoặc chậm phát triển. Nhưng muốn xác định bệnh một cách chắc chắn để
tiến hành chữa trị, cần phải xác định lượng hoóc-môn Giáp trong cơ thể. Việc sử
dụng các chất sát trùng có iốt cho sản phụ và cho các cháu bé mới sinh có thể
ảnh hưởng tới việc thử nghiệm dẫn tới những kết quả dương tính sai. Bởi vậy,
người ta không dùng cồn iốt hoặc Bétadine trong lúc đỡ đẻ nữa.
Ngược lại với việc thiếu hoócmôn Giáp, lại có các cháu bé có
dư hoóc-môn này, thường là bị di truyền từ mẹ . Những triệu chứng của bệnh dư
hoócmôn giáp là: mắt lồi, bướu cổ, ỉa chảy và mạch nhanh.
31. Amiđan.
Amiđan là một cục thịt nhỏ nh́n thấy dễ dàng ở cuối ṿm họng,
từ trên rũ xuống, rất hay bị viêm. Người ta chưa xác định được rơ ràng vai tṛ
của cục thịt này; nhưng h́nh như vị trí của nó là để ngăn cản vi trùng và virút
thâm nhập vào trong cơ thể qua đường miệng.
32. Viêm amiđan - Viêm họng.
Thông thường, trẻ sơ sinh ít khi bị viêm Amiđan. Các cháu ở ĐỘ TUỔI TỪ 2 - 3 TUỔI HAY BỊ HƠN. NẾU bị
viêm, cục amiđan sưng lên, tấy đỏ hoặc có những chấm trắng, cháu bé sốt cao,
nuốt khó và có hạch ở cổ, sờ vào cháu sẽ khóc v́ đau.
Viêm amiđan là do liên cầu khuẩn hoặc vi trùng, phổ biến là
loại liên cầu khuẩn (streptocoque). Trong trường hợp này, hiện tượng đau rát
loang rộng cả vùng họng, cần chú ư chữa trị v́ có thể biến chứng thành viêm khớp
hoặc viêm thận.
Nhiều chứng bệnh của trẻ em bắt đầu từ viêm họng do loại liên
cầu khuẩn sinh ra độc tố. Viêm họng dạng bạch hầu càng ngày càng hiếm thấy v́
các trẻ em đă được chủng ngừa. Bị bệnh này, trẻ không sốt cao nhưng mất sức
nhanh, trong họng thấy có những màng trắng, dầy, dính vào các amiđan.
Để chữa trị chứng viêm họng, bác sĩ thường lấy một ít màng
nhầy ở họng cùng một mẫu máu để xét nghiệm. Đồng thời cho các cháu uống ngay
thuốc kháng sinh để ngăn chặn các biến chứng do trùng liên cầu khuẩn gây ra.
Viêm họng là một chứng bệnh nhẹ, thường sẽ khỏi trong vài ba
ngày. Nhưng, điều đáng chú ư là hay bị đi bị lại nhiều lần.
33. Phẫu thuật cắt amiđan.
Cắt amiđan là một tiểu phẫu thuật không có điều ǵ đáng lo
ngại nếu sau khi cắt các cháu được săn sóc và theo dơi cẩn thận. Chỉ cắt amiđan
cho các cháu từ 4 - 5 tuổi trở lên.
Trước kia, bác sĩ hay khuyên cắt amiđan. Bây giờ, việc cắt
amiđan chỉ thực hiện trong những trường hợp cần thiết như đứa trẻ bị viêm họng
luôn luôn, nhiều lần trong một năm, cục amiđan phát triển to tới độ làm cho cháu
bé khó thở, bị đau khớp nặng, bị viêm thận hoặc để đề pḥng các biến chứng có
thể xảy ra tiếp.
Nên chú ư rằng những trường hợp amidan lớn không có nghĩa là
bị viêm nặng.
Trước kia, người ta thường tránh cắt amiđan cho các cháu hay
bị dị ứng. Ngày nay người ta không chú ư nhiều tới điều này nữa.
34. V.A.
Ngoài những amiđan nh́n thấy rơ ở họng trẻ em (amygdale) c̣n
một cục thịt nữa ở cuối lỗ mũi, sau ṿm miệng có tác dụng bảo vệ đường hô hấp
chống lại sự xâm nhập của vi trùng và vi rút.
Nếu cục thịt này bị nhiễm, bản thân nó lại là nơi tập TRUNG
CÁC VI TRÙNG VÀ VI RÚT Ở NGAY NGĂ BA
TAI-MũI-HọNG và trở thành nguyên nhân của các chứng
bệnh về tai-mũi-họng và đường hô hấp.
Kết quả là mũi có thể thường xuyên bị nghẹt làm cháu bé phải
thở bằng miệng, ngáy, nói giọng mũi, ho lâu khỏi, sốt 37 - 38oC, buổi
sáng có thể đă sốt 38oC, bị hạch, chậm lớn, không chịu ăn, hay quấy.
Trường hợp này, bác sĩ chuyên khoa tai-mũi-họng hay đề nghị
tiến hành một phẫu thuật hoặc thủ thuật chuyên môn nhỏ. Cháu không cần phải nằm
viện.
Tuy thủ thuật này thực hiện nhanh, nhưng không làm được cho
các cháu dưới 1 tuổi.
35. Viêm ṿm họng.
Sau mũi, có một điểm gặp chung của các đường tới từ miệng,
mũi và tai. Nếu điểm này bị nấm, hoặc viêm, trẻ sẽ bị ho.
36. Viêm thanh quản.
Chúng ta thường nhận định chung rằng một cháu bé bị viêm
thanh quản khi cháu ho ra tiếng khô như chó sủa, từng tiếng một và bị khó thở.
Tuy vậy, nên phân biệt 2 loại viêm thanh quản theo các triệu chứng sau :
- Cháu bé đột nhiên bị ho và thở rất khó vào ban đêm v́ thanh
quản của cháu bị co thắt lại. Sự co thắt này có thể sẽ hết sau vài giờ nhưng rồi
sẽ tái lại.
- Loại viêm thanh quản thứ 2 gây ra bởi một loại virút. Bệnh
khi bắt đầu không đột ngột nhưng tiến triển ngày càng nặng thêm. Trường hợp này,
phải đưa cháu bé vào bệnh viện ngay, v́ nghiêm trọng hơn trường hợp trên nhiều.
Trong khi bác sĩ chưa tới hoặc chưa cho cháu đi bệnh viện nếu
có điều kiện, làm tăng độ ẩm của không khí sẽ có lợi cho cháu bé.
37. Bệnh bạch hầu.
Bạch hầu là một bệnh rất nguy hiểm, ngày nay đă bị loại trừ
một phần lớn do phương pháp tiêm pḥng bệnh. Những trẻ em không tiêm pḥng bệnh,
khi mắc bệnh, cổ họng bị đau, có một lớp màng trắng, dầy, dính, ngày càng phát
triển làm cho trẻ thở khó. Đồng thời, cháu bé bị mệt, người nhợt nhạt, mạch
nhanh dù thân nhiệt không tăng nhiều.
Khi trẻ không tiêm pḥng bệnh hoặc tiêm không đủ liều lượng
mà có các hiện tượng trên, cần phải đưa tới bệnh viện ngay. Bác sĩ sẽ lấy một ít
mẫu ở họng để xét nghiệm xem có vi trùng bạch hầu không.
MỤC LỤC
YKHOANET - Website Y Khoa Việt Nam
|